Dạy học các bài toán có lời văn điển hình ở lớp 4 theo lý thuyết kiến tạo - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong dạy học môn toán Lớp 4, hoạt động giải các bài toán nói chung
chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Một phần lớn thời gian học toán của học
sinh (HS) đều dành cho việc giải các bài toán. Hoạt động giải toán giúp HS
củng cố các kiến thức ban đầu, cơ bản của toán học. Kết quả học toán của HS
cũng được đánh giá trước hết là qua các kỹ năng giải toán. Đồng thời, thông
qua việc giải toán, HS sẽ phát triển năng lực tư duy một cách tích cực, rèn
luyện cho HS những đức tính, tác phong học tập và làm việc khoa học, có kế
hoạch. Chất lượng học tập được vững chắc và nâng cao.
Riêng mạch kiến thức giải toán có lời văn điển hình được trình bày
trong sách giáo khoa toán Lớp 4, vẫn tập trung vào kiến thức và kỹ năng cơ
bản nhưng ở mức sâu hơn, trừu tượng, khái quát hơn và tường minh hơn so
với giai đoạn ở các Lớp 1,2,3.
Về phía học sinh, để học tốt nội dung này đòi hỏi phải có các thao tác
tư duy tích cực, năng động và sáng tạo, nâng cao dần khả năng suy luận, từng
bước phát triển tư duy linh hoạt, độc lập và có hứng thú tìm nhiều cách giải
cho bài toán. Do vậy, khi HS học giải toán có lời văn điển hình ở lớp 4 bên
cạnh rất nhiều thuận lợi còn đòi hỏi ở cả giáo viên và HS phải cố gắng và nỗ
lực nhiều.
Về phía giáo viên (GV), mặc dù nội dung dạy học giải toán có lời văn
điển hình ở lớp 4 đã được xây dựng theo quan điểm hoạt động, giảm bớt kiến
thức lí thuyết, chuyển mạnh sang thực hành, vận dụng giải quyết vấn đề thực
tiễn, hơn nữa học sinh ngày nay được tiếp nhận thông tin nhanh chóng, đa
chiều, năng lực học tập ngày càng cao…thì phương pháp dạy học của thầy
chủ yếu vẫn theo kiểu truyền thụ một chiều. Dạy học vẫn “lấy thầy làm trung

3


tâm”. Việc dạy học nội dung này còn có những bất cập, chậm được đổi mới.

tạo không chỉ giúp HS nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cần có mà
quan trọng hơn là thúc đẩy được khả năng tư duy, sáng tạo và những trải
nghiệm trong thực tế giúp H S hoàn thiện n h â n c á c h người lao động, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay.
Dạy học kiến tạo còn mở ra cơ hội và điều kiện để cho các GV và các
nhà khoa học nghiên cứu vận dụng, nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đáp
ứng yêu cầu cấp thiết của giáo dục hiện nay là: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh” [Điều 28, Luật Giáo dục].
Ở nước ta, đã có một số đề tài nghiên cứu vận dụng các tư tưởng,
quan điểm của LTKT vào DH và bước đầu đã thu được những thành công
nhất định của các tác giả: Hồ Ngọc Đại, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Hữu
Châu, Đỗ Tiến Đạt, Nguyễn Viết Dũng, Bùi Phương Nga. Các kết quả
nghiên cứu bước đầu đã được áp dụng và đang trở thành một trong những
vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn dạy học ở tiểu học hiện nay. Tuy nhiên,
vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm là vận dụng LTKT vào dạy học
như thế nào, ở mức độ nào, quy trình dạy học đối với từng tình huống
dạy học cụ thể ra sao thì các nghiên cứu mới chỉ ra được một cách khái
quát. Trong thực tiễn, hiện nay, vấn đề dạy học các bài toán có lời văn
điển hình ở Lớp 4 theo thuyết kiến tạo chưa được nghiên cứu và ứng dụng.
Với các lí do nêu trên, tôi chọn và nghiên cứu đề tài:“ Dạy học các bài
toán có lời văn điển hình ở lớp 4 theo thuyết kiến tạo” để góp phần vào việc
nâng cao chất lượng dạy học các bài toán có lời văn điển hình ở tiểu học hiện
nay.
2. Giả thuyết khoa học

5




- Phương pháp điều tra xã hội học: Dự giờ, điều tra cơ bản, quan sát sư
phạm
- Phương pháp đàm thoại - trao đổi: Trao đổi với giáo viên bộ môn về
kinh nghiệm dạy học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Qua điều tra thực trạng dạy học ở
trường để tổng kết các vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn và lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến nhận xét
của giáo viên về tính khả thi của các biện pháp dạy học theo thuyết kiến tạo
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm đối
với 4 lớp của khối 4. Các lớp thực nghiệm gồm: 4A1 ; 4A2 ; Các lớp đối chứng
gồm : 4A3 và 4A4.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 trình bày cơ sở lí luận chung về lí thuyết kiến tạo và dạy học kiến
tạo. Chương 2 trình bày cơ sở thực tiễn về nội dung, mục tiêu và thực tiễn
dạy học giải toán có lời văn điển hình ở lớp 4. Chương 3 trình bày nội dung
đề xuất các biện pháp sư phạm để tổ chức dạy học các bài toán có lời văn
điển hình ở lớp 4 theo thuyết kiến tạo

7


NỘI DUNG
CHƯƠNG1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LÍ THUYẾT KIẾN TẠO

VÀ DẠY HỌC KIẾN TẠO

1.1. Khái quát về lí thuyết kiến tạo

cấu trúc mới cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Đồng hoá dẫn đến tăng trưởng
các cấu trúc đã có, còn điều ứng tạo ra cấu trúc mới. Như vậy, đồng hoá làm
tăng trưởng, điều ứng làm phát triển.
Ví dụ: Ở lớp 4, trước khi làm quen với khái niệm phân số ở lớp 4, HS
đã biết rằng trong phạm vi các số tự nhiên, phép chia một số tự nhiên cho một
số tự nhiên (khác 0) không phải lúc nào cũng thực hiện được. Nhưng khi gặp
tình huống: “Chia đều 3 cái bánh cho 4 em” thì HS nhận thấy, có thể thực
hiện theo cách “chia phần” thực tế: “Chia mỗi cái bánh thành 4 phần bằng
nhau rồi chia cho mỗi em một phần, tức là một phần tư cái bánh. Sau 3 lần
chia bánh như thế, mỗi em được 3 phần, tức là ba phần tư cái bánh”. Nhìn
dưới góc độ tính toán số học thì trên thực tế ta đã thực hiện được phép chia 3 :
4. Như thế, vấn đề đặt ra là phải thừa nhận rằng phép chia 3 : 4 có ý nghĩa và
được biểu thị bởi phân số

3
. Lúc này trong tư duy HS khái niệm phân số
4

được chấp nhận như một cấu trúc mới, tương thích với đòi hỏi của hoàn cảnh
mới.
Còn Vưgôtxki đã đưa khía cạnh xã hội của việc học vào lý thuyết kiến
tạo[2]. Theo Vưgôtxki, trong suốt quá trình phát triển của trẻ em thường
xuyên diễn ra hai mức độ: trình độ hiện tại và “vùng phát triển gần nhất”.
Trong thực tiễn, trình độ hiện tại biểu hiện qua việc trẻ em độc lập giải quyết
nhiệm vụ, không cần bất kì sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, còn vùng phát triển
gần nhất được thể hiện trong tình huống trẻ hoàn thành nhiệm vụ khi có sự

9



ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với những tình
huống mới, từ đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân.
1.2.2. Đặc điểm của dạy học kiến tạo, điều kiện và biện pháp thực
hiện
- DHKT có cơ sở khoa học là: Tâm lí học phát triển (Piaget) và lí luận
nhận thức của triết học Mác xit (Vưgôtxki)
- DHKT không phải chỉ là một phương pháp dạy học thuần túy mà thực
chất là một quan điểm rất rộng trong dạy học. Quan điểm kiến tạo được thể
hiện trong DHKT bao hàm trong nó các tư tưởng của dạy học nêu và giải
quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động,
dạy học theo nhóm, dạy học thông qua trò chơi, dạy học ngoại khóa và trải
nghiệm thực tế, dạy học theo tiếp cận thông tin, dạy học theo tiếp cận đa nhân
cách...
- Nếu như trong hoạt động nhận thức tái tạo: các tri thức học tập được
học sinh lĩnh hội ở dạng có sẵn. Học sinh ghi nhận thông tin và sau đó tái hiện
lại (phổ biến diễn ra trong cách dạy học truyền thống), thì trong DHKT diễn
ra hoạt động nhận thức kiến tạo, nghĩa là: HS kiến tạo kiến thức cho bản thân
mình, bằng cách dựa trên những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước
rồi vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết một tình huống mới nảy
sinh và sắp xếp kiến thức mới nhận được vào cấu trúc kiến thức hiện có và
sau đó kiểm tra tính đúng đắn của chúng, thông qua hai qúa trình đồng hóa và
điều ứng. Đồng hoá dẫn đến tăng trưởng các cấu trúc đã có, còn điều ứng tạo
ra cấu trúc mới. Nói cách khác: đồng hoá làm tăng trưởng, điều ứng làm phát
triển tri thức người học. Chỉ khi nào người học tạo nên mối liên hệ hữu cơ
giữa kiến thức mới và cũ, sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc hiện có thì lúc
đó kiến thức mới sẽ có giá trị ứng dụng và không bị lãng quên.

11



thân đã có từ trước. HS không phải là người đi dự giờ hoặc xem phim mà phải
động não. HS không phải là một vật thể rỗng để có thể rót kiến thức vào đó.
- Thứ hai: Nhận thức của con người là quá trình thích nghi và sắp xếp
lại kiến thức đã có
Đây là nguyên tắc quan trọng thứ hai của DHKT bởi vì, học là thông
qua 2 quá trình “đồng hoá” và “điều ứng”[1]. Quá trình đó hình thành “sơ đồ”
trong cấu trúc nhận thức và hình thành tri thức mới. “Nhận thức là một quá
trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan cho chính người học...” và “Tri
thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức”. Quá trình nhận
thức không phải là một quá trình tiếp nhận khiên cưỡng mà nó là quá trình
mỗi chủ thể nhận thức biến đổi thế giới quan khoa học của bản thân sao cho
phù hợp với yêu cầu mới. Nó thể hiện ra ở các giai đoạn sau đây:
+ HS dựa trên cái cũ để học cái mới: Do đặc điểm nhận thức của HS
tiểu học là khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa chưa cao, HS thường lấy
kinh nghiệm đã có để suy xét vấn đề mới nảy sinh. Để có thể kiến tạo kiến
thức cho bản thân mình, điều quan trọng nhất là HS cần dựa trên những kiến
thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước rồi vận dụng những kiến thức đã có để
giải quyết một tình huống mới nảy sinh và sắp xếp kiến thức mới nhận được
vào cấu trúc kiến thức hiện có. Chỉ khi nào tạo nên mối liên hệ hữu cơ giữa
kiến thức mới và cũ, sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc (hiện có hoặc thay
đổi cho phù hợp) thì quá trình học tập mới có ý nghĩa.
+ Học là vượt qua trở ngại: Kiến thức mới của học sinh chỉ được xác
lập trên cơ sở những kiến thức đã có. Quá trình tìm tòi phải dựa trên vốn kiến
thức, kinh nghiệm cũ với phương pháp suy luận quy nạp để hình thành kiến
thức mới
- Thứ ba: Dạy học trong“Vùng phát triển gần nhất”

13




đề. Sau đó giúp HS phát hiện vấn đề, tìm hiểu vấn đề, xác định lược đồ giải
quyết vấn đề, tiến hành giải quyết vấn đề để đưa ra lời giải, phân tích, khai
thác lới giải. Ngược lại, nếu không giải quyết trọn vẹn một vấn đề thì kiến
thức thu được sẽ có thể bị hoặc sai, bị thiếu, hoặc như sản phẩm bị lỗi
- Thứ năm: Đánh gía kết quả học tập theo xu hướng phát triển và sáng
tạo
Trong DHKT, ngoài việc đánh giá kiến thức kĩ năng, kĩ xảo, cần kết
hợp đánh giá ở mức độ ban đầu năng lực sáng tạo, năng lực tư duy có phê
phán và năng lực giải quyết thực tiễn của HS
1.2.4. Mô hình dạy học kiến tạo
Căn cứ vào các nguyên tắc có tính chỉ đạo của DHKT đã phân tích ở
trên, theo nhiều tác giả thì mô hình DHKT gồm một chu trình bao gồm các
pha chính như sau (thể hiện trên sơ đồ):
Tri thức hiện tại  Dự đoán  Kiểm nghiệm (Thử và Sai) 
Điều chỉnh  Tri thức mới
Trong sơ đồ này GV cần nắm chắc đặc điểm sau của chu trình DHKT:
Bắt đầu từ kiến thức cũ của HS, qua các pha, hình thành kiến thức mới

1.2.5. Ưu điểm và hạn chế của dạy học kiến tạo
- Ưu điểm: Trong sự tương tác đa chiều, DHKT thực sự tạo nên một
môi trường học tập hiệu quả. Kết quả thu được là tri thức khoa học và vững
chắc.
- Hạn chế:
+ DHKT mất nhiều công sức để tìm hiểu đối tượng HS và phải có
phương pháp sư phạm điêu luyện, phương tiện dạy học phong phú, môi
trường học tập tích cực… mới điều khiển tốt được quá trình học tập

15


PHÁP DẠY HỌC CÁC BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN ĐIỂN HÌNH Ở LỚP 4

2.1. Tìm hiểu nội dung giải toán toán có lời văn nói chung ở tiểu học
Trong chương trình Toán ở tiểu học, các bài toán có lời văn nói chung
có thể phân thành ba nhóm:
- Nhóm thứ nhất gồm 4 dạng toán đơn
- Nhóm thứ hai gồm các bài toán hợp
- Nhóm thứ ba gồm 7 dạng toán có văn điển hình, đó là:
+ Ở lớp 4, có :
1) Tìm hai số khi biết tổng và hiệu
2) Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của chúng
3) Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của chúng
4) Tìm số trung bình cộng
+ Ở lớp 5, có:
5) Toán về đại lượng tỉ lệ thuận
6) Toán về đại lượng tỉ lệ nghịch
7) Toán về chuyển động đều
8) Toán về tỷ số phần trăm
Nhận xét: Nội dung giải toán toán có lời văn điển hình ở Lớp 4 vẫn tập
trung vào kiến thức và kỹ năng cơ bản nhưng ở mức sâu hơn, trừu tượng, khái
quát hơn và tường minh hơn so với giai đoạn ở các Lớp 1,2,3.

2.2. Tìm hiểu nội dung dạy học các bài toán có lời văn điển hình lớp 4
Trong phạm vi của khóa luận, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các
bài toán có lời văn điển hình ở Lớp 4, gồm:
- Tìm số trung bình cộng

17




+ Biết giải và trình bày bài giải các bài toán .
+ Biết vận dụng các công thức chung đã tìm được để giải các bài toán
có nội dung thực hành, ôn tập, củng cố, kiểm tra, đánh giá.
2.3.3.. Yêu cầu của dạy học các bài toán có lời văn điển hình ở lớp 4
- Thông qua hoạt động giải toán giúp HS HS được làm quen với các
thuật ngữ toán học, củng cố các kiến thức tổng quát của toán học.
- Thông qua nội dung phong phú của các đề toán, HS sẽ tiếp nhận được
những kiến thức đa dạng trong thực tiễn, có điều kiện để rèn khả năng áp
dụng các kiến thức toán học vào cuộc sống.
- Thông qua việc giải toán, HS sẽ phát triển năng lực tư duy một cách
tích cực, rèn luyện khả năng phỏng đoán, tìm tòi, hình thành và phát triển dần
khả năng suy luận, lập luận và trình bày một vấn đề rõ ràng, khoa học. Rèn
luyện cho HS những đức tính, tác phong học tập và làm việc khoa học, có kế
hoạch, đó là: ý thức kiên trì, chịu khó, khắc phục khó khăn, thói quen xét
đoán có căn cứ, có cơ sở, tính cẩn thận chu đáo, biết kiểm tra lại kết quả làm
việc. Rèn cho HS phẩm chất của người lao động, ý thức kiên trì, chịu khó,
khắc phục khó khăn, thói quen xét đoán có căn cứ, có cơ sở, tính cẩn thận chu
đáo, biết kiểm tra lại kết quả làm việc.
- Nếu HS biết giải thành thạo các bài toán thì đó là tiêu chuẩn chủ yếu
để đánh giá trình độ học toán của học sinh.
2.4. Nghiên cứu thực tiễn dạy học giải toán có lời văn điển hình ở lớp 4
theo thuyết kiến tạo
2.4.1. Khảo sát về phương pháp dạy học nội dung các bài toán có lời
văn điển hình ở lớp 4
Chúng tôi gửi phiếu trưng cầu và phỏng vấn thực tế về các phương pháp
dạy học mà GV đã sử dụng.
- PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN (48 phiếu cho 48 GV)

19

G. Phương pháp dạy học hợp tác nhóm



H. Phương pháp kiến tạo



Kết quả thu được như sau:

Số phiếu
STT

Tên PPDH

được lựa chọn
/Tổng số phiếu

Kết quả
(%)

1

Phương pháp thuyết trình

23/48

49 %

2


6

Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề

35/48

73 %

7

Phương pháp dạy học hợp tác nhóm

31/48

66 %

8

Phương pháp kiến tạo

38/48

80 %

Từ kết quả trên chúng tôi nhận thấy:

20




d- Phối hợp cả hai cách vẽ sơ đồ b,c nêu trên



e- HS thảo luận để tìm hiểu đề bài



f- Cách khác



2. Hoạt động phân tích để tìm cách giải
a- GV nêu cái đã biết và cái cần tìm

21




b- HS tự nêu cái đã biết và cái cần tìm



c- HS phát hiện vấn đề theo hướng dẫn của GV



d- HS tự phát hiện vấn đề




2.4.2.2. Kết quả trưng cầu ý kiến
Qua thống kê và phân tích kết quả phiếu trưng cầu, chúng tôi nhận
thấy, các hoạt động dạy học giải các bài toán có lời văn ở lớp 4, chủ yếu
thường xoay quanh các hoạt động cơ bản sau:
1. Hoạt động tìm hiểu đề bài
- GV yêu cầu học sinh phải đọc kỹ đề bài, nhớ những dữ kiện bài toán
đã cho và yêu cầu của đề bài.
- GV tóm tắt đề bài bằng cách đặt câu hỏi: Bài toán cho biết gì? Bài
toán yêu cầu gì?
2. Hoạt động phân tích đề bài để tìm ra cách giải
- GV nêu ra dạng bài toán đã cho thuộc dạng toán nào
- Dựa và việc nhận dạng bài toán ở trên, xuất phát từ yêu cầu bài toán,
GV hướng dẫn HS tìm ra cách giải, có thể thông qua các câu hỏi:
+ Muốn giải đáp những yêu cầu của đề bài thì cần phải biết những gì?
+ Những điều đó đề bài đã cho biết chưa?

22


+ Nếu chưa biết thì tìm bằng cách nào? Dựa vào đâu để tìm?
Cứ lần lượt như vậy cho đến khi nào HS có thể tìm được cách giải đáp
từ những dữ kiện cho sẵn trong đề bài.
3. Hoạt động tổng hợp lời giải
Hoạt động tổng hợp lời giải, gồm các hoạt động nhằm vạch ra được thứ
tự trình bày lời giải, giúp HS trả lời được câu hỏi: “Cần tìm điều gì trước,
điều gì sau”.
4. Hoạt động trình bày lời giải.

- Khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ và các thuật ngữ toán học
- Khó nhận ra dạng toán điển hình, nhất là các bài toán: “Tìm hai số khi
biết tổng và hiệu của hai số đó”, “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số
đó” học sinh còn khó tiếp thu khi hình thành quy tắc tổng quát.
- Khó khăn trong việc chuyển thể từ lời văn diễn tả mối liên hệ toán
học giữa các thành tố của bài toán sang ngôn ngữ toán cụ thể như sơ đồ, hình
vẽ
- Khó khăn trong việc tìm hiểu và phân tích đề và tóm tắt bài toán
- Khó khăn trong việc phát hiện vấn đề
- Khó khăn trong tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hoặc ngôn ngữ toán học
khác
- Khó khăn trong việc tìm phương pháp giải
- Khó khăn trong việc giải quyết vấn đề của bài toán
- Khó khăn trong việc ghi nhớ và nắm chắc các quy tắc, công thức,
cách giải, cấu trúc phép tính
- Khó khăn trong việc làm việc hợp tác nhóm
- Khó khăn trong việc rút kinh nghiệm qua những sai sót của bản thân
và của bạn.
- Khó khăn trong tự đánh giá kết quả học tập của mình và bạn học

24


- Sai lầm :
+ Một số HS chưa xác định đúng đề bài, chưa xác định đúng kiểu dạng
bài toán
+ Một số học sinh còn đọc, viết số (tự nhiên hoặc phân số) sai; sắp xếp
so sánh các số chưa chính xác, dẫn đến việc thực hiện các phép tính bị sai
- HS sử dụng sơ đồ đoạn thẳng còn sai sót, lệ thuộc nhiều vào sơ đồ
trực quan, không phát huy được năng lực tư duy khái quát, khả năng tưởng

Các nội dung được trình bày trong chương 2 bao gồm các vấn đề về
mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, những khó khăn và thuận lợi để tổ
chức dạy học kiến tạo. Đây là cơ sở thực tiễn để tác giả khóa luận văn nghiên
cứu. Cùng với cơ sở lí luận đã được phân tích ở chương 1, tác giả khóa luận
có cơ sở khoa học để nghiên cứu để đề xuất dạy học các nội dung bài toán có
lời văn điển hình ở Lớp 4 theo thuyết kiến tạo

26


CHƯƠNG 3. VẬN DỤNG LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO
DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN ĐIỂN HÌNH Ở LỚP 4

Để tổ chức dạy học giải bài toán có lời văn , trong đó có các bài toán điển
hình ở lớp 4, chúng tôi đề xuất các biện pháp sư phạm cơ bản như sau:
3.1. Đề xuất quy trình dạy học các bài toán có lời văn điển hình Lớp 4
theo dạy học kiến tạo
Để dạy học theo thuyết kiến tạo, theo chúng tôi, việc đầu tiên là phải nắm
vững mạch nội dung giải toán có lời văn nói chung ở lớp 4.
Đối với các bài toán có lời văn điển hình: Tìm số trung bình cộng; Tìm hai
số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai
số đó, cần tìm hiểu những vấn đề tương tự, những mối liên hệ toán học giữa các bài
toán này để tổ chức dạy học hiệu quả
3.1.1. Quy trình dạy học
Căn cứ vào các pha của DHKT, căn cứ vào nội dung và phương pháp
dạy học, tác giả khóa luận đề xuất quy trình các bước dạy học các bài toán có
lời văn điển hình lớp 4 theo dạy học kiến tạo, về cơ bản có các bước như sau:
- Bước 1: Ôn tập, củng cố, tái hiện kiến thức cũ có liên quan
GV tìm hiểu, thăm dò về những hiểu biết ban đầu của HS liên quan đến
nội dung các bài toán có lời văn. Việc tìm hiểu này nhằm xác định xem HS đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status