TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ KHÁNH
ĐỔI MỚI HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH LỚP5
TRONG MÔN HỌC MĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
TIÊN DƯƠNG - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Mĩ thuật Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học: VŨ LONG GIANG
HÀ NỘI 2013
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Lê Long Giang đã tận tình hướng
dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên cùng các em học sinh
trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo
điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm
Sinh viên
NGUYỄN THỊ KHÁNH
2
NXB
Hình thức tổ chức dạy học
HTTCDH
Công nghệ thông tin
CNTT
Phương tiện dạy học
PTDH
4
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước. Do đó tất cả các ngành nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp với
yêu cầu của sự phát triển xã hội. Trong đó, giáo dục với sản phẩm đặc biệt là
con người thì càng phải đổi mới để tạo ra những con người lao động có trình
độ cao, học vấn cao, có năng lực, có bản lĩnh, có tư duy và sáng tạo tốt, đáp
ứng được mọi yêu cầu của cuộc sống hiện đại. Đổi mới trong giáo dục phải
được hiểu là đổi mới toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương
pháp và HTTCDH. Trong xu thế đó, sự đổi mới về HTTCDH đang được coi
là vấn đề nóng bỏng, mang tính chất thời đại, thu hút được sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục cũng như các GV trực tiếp đứng
Vì vậy tôi có thể khẳng định đề tài “Đổi mới HTTCDH nhằm phát huy tính
sáng tạo cho học sinh lớp 5 trong môn học Mĩ thuật tại trường Tiểu học Tiên
Dương- Đông Anh- Hà Nội” là một đề tài cần thiết và có tính khả thi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đổi mới các HTTCDH trong môn Mĩ thuật
nhằm phát huy tính sáng tạo cho HS.
- Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 5 trường tiểu học Tiên Dương - Đông
Anh - Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về đặc điểm nhận thức, tính sáng tạo và khả
năng sáng tạo của HS lớp 5
- Nghiên cứu các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5
trong môn Mĩ thuật tại trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh- Hà Nội
- Thiết kế giáo án giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 5 minh họa việc vận
dụng đổi mới các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS.
5. Giả thuyết khoa học
HS lớp 5 trường Tiểu học Tiên Dương - Đông Anh - Hà Nội – lớp cuối
của bậc tiểu học, đã thể hiện nhiều sự sáng tạo trong các sản phẩm mĩ thuật
của bản thân. Song, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, sáng tạo đó còn mang đậm
tính bộc phát, sự phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của bản thân còn chưa
cao. Nếu có những tác động sư phạm đúng mức sẽ giúp phát huy tích cực khả
năng sáng tạo của HS và đó cũng là điều quan trọng để các em có tâm thế hào
hứng, say mê, có những cảm nhận sâu sắc và tinh tế hơn trong việc phát huy
và sử dụng khả năng sáng tạo của mình trong môn Mĩ thuật ở bậc học tiếp
6
theo. Góp phần tạo dựng định hướng, con đường nghề nghiệp trong tương lai
cho các em có tài năng và niềm yêu thích đặc biệt trong lĩnh vực hội họa.
7
7. Cấu trúc khóa luận
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Hình thức đổi mới dạy học Mĩ thuật giúp phát huy tính sáng tạo
của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật tại trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh
– Hà Nội.
Chương 3: Xây dựng giáo án giảng dạy thử nghiệm thể hiện việc đổi mới
HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật tại
trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội.
Phần 3: Kết luận – Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
8
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5
1.1.1. Đặc điểm chú ý
Chú ý là một trạng thái tâm lý của HS giúp HS tập trung vào một hoặc
một số đối tượng để các đối tượng này được phản ánh tốt nhất. Chú ý không
phải là một quá trình nhận thức, không tồn tại độc lập mà nó đi kèm các quá
trình nhận thức.
Đối với HS lớp 5, chú ý mang những đặc điểm nổi bật:
- Chú ý không chủ định vẫn tiếp tục phát triển ở giai đoạn lớp 5: Những
gì mới lạ, hấp dẫn hoặc có kích thích mạnh vẫn dễ dàng xuất hiện chú ý
- Thể hiện rõ tính cảm xúc: Những sự vật, hiện tượng tạo ra tính xúc
cảm thì HS tri giác tốt hơn.
- Các loại tri giác phát triển mạnh (Tri giác của các em phát triển dưới
ảnh hưởng của hoạt động học tập): Càng ngày càng có khả năng quan sát tinh
tế hơn để tìm ra những dấu hiệu đặc trưng cho sự vật hiện tượng, biết tìm ra
các sắc thái của các chi tiết, có mục đích và phương hướng rõ ràng. HS đã tri
giác được những vật có kích thước lớn, phức tạp, trừu tượng.
1.1.3. Đặc điểm trí nhớ
Trí nhớ là quá trình ghi lại, giữ lại những kiến thức, cách thức tiến hành
học tập để có thể tái hiện vào vận dụng trong những tình huống khi cần.
Các đặc điểm về trí nhớ của các em HS lớp 5 được thể hiện:
- Trí nhớ không chủ định vẫn tiếp tục phát triển: Những đối tượng mới
lạ, hấp dẫn thì HS dễ dàng ghi nhớ không chủ định. Các em dễ nhớ và nhớ lâu
những gì làm cho các em xúc cảm mạnh như ngạc nhiên, thích thú, tò mò hay
sợ hãi.
- Trí nhớ có chủ định được phát triển mạnh: HS sử dụng phương pháp
ghi nhớ máy móc và ghi nhớ logic để ghi nhớ đối tượng và tri thức đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của quá trình học tập.
- Trí nhớ ngắn hạn tiếp tục phát triển; trí nhớ dài hạn bắt đầu bền vững.
- Trí nhớ trực quan – hình ảnh phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ - trừu
tượng: HS ghi nhớ nội dung bài học kèm theo tranh ảnh sẽ tốt hơn là các tài
liệu ngôn từ.
1.1.4. Đặc điểm tư duy
10
Tư duy là quá trình nhận thức giúp HS tiếp thu được, phản ánh được
bản chất của đối tượng học tập mà trước đó học được.
Giai đoạn lớp 5, một số thao tác tư duy đã tiến lên một bậc so với các
- Tưởng tượng của các em được phát triển, phong phú hơn và có sự
quyện chặt giữa tưởng tượng phóng khoáng với hiện thực.
1.2. Khái quát chung về tính sáng tạo
1.2.1. Các quan điểm về khái niệm “Sáng tạo”
Khái niệm “Sáng tạo” đã được định nghĩa ở những cấp độ, mức độ và
góc độ khác nhau bởi các nhà chuyên môn của nhân loại.
- Theo quan điểm xuất phát từ tiếng Latin, “Sáng tạo” – “Creatio” về
cơ bản chỉ gắn với những hành động của Chúa. Nhưng sau đó, trong thời đại
La Mã, khi con người lần đầu tiên nhận ra khả năng riêng của họ là có thể
sáng tạo ra một cái gì đó mới từ một cái đã tồn tại, từ đó “Sáng tạo” được sử
dụng để miêu tả thành tích của con người.
- Theo các nhà chuyên môn của Pháp thì cho rằng: “Sáng tạo” (tiếng
Pháp: Créer, creation) thường được dùng trong Thần Học, Đạo Học và Hữu
Thể học, có nghĩa: Làm cho một thứ gì từ cái “không gì cả” trở thành “hiện
hữu”.
- Theo định nghĩa của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) trong cuốn “Từ
điển tiếng Việt” có định nghĩa:
+ “Sáng tạo” (động từ) có nghĩa là “tạo ra những giá trị mới về vật chất
hoặc tinh thần”. Ví dụ: Sáng tạo ra chữ viết, sáng tạo nghệ thuật.
+ “Sáng tạo” (tính từ) có nghĩa là “có cách giải quyết mới, không bị gò
bó, phụ thuộc vào cái đã có”. Ví dụ: Óc sáng tạo, vận dụng một cách sáng tạo.
- Theo giáo trình “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật” của tác
giả Nguyễn Quốc Toản (chủ biên) thì “Sáng tạo được định nghĩa “là khả năng
sản sinh những ý thưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với từng hoàn cảnh”
- “Tính sáng tạo” hay “Sáng tạo tính” hay “Óc sáng tạo” là khả năng
được xem là có tính chất sáng tạo trong mọi công trình của con người đã tạo
tác nên những gì “mới hơn” so với những cái “cũ” hoặc “mới mẻ” vì chưa có
trước đấy. Đấy là khuynh hướng, là khả năng của con người hướng về sáng
tạo do thôi thúc phát triển của trí tuệ trong mọi công trình khám phá thiên
kiên trì với lý tưởng bản thân để phá vỡ hình thức cũ, dựng lên cột mốc mới.
- Tính sáng tạo giúp tâm hồn con người ta luôn tươi mới, thúc đẩy sự tò
mò, khuyến khích sự tự tin vào khả năng tiềm ẩn của bản thân, giúp con
người không e dè, sẵn sàng làm những điều chưa bao giờ làm, chưa bao giờ
thích nên có thể thấy được điều kỳ diệu của những sự việc mà ta cho là bình
thường, hiển nhiên.
13
1.2.2.2 Vai trò của tính sáng tạo đối với HS lớp 5
* Đối với HS lớp 5 trong hoạt động học tập
Sáng tạo có vai trò rất lớn trong hoạt động học tập của HS tiểu học nói
chung và HS lớp 5 nói riêng trên con đường chinh phục tri thức, học tập và
đúc rút kinh nghiệm bản thân:
- HS có tính sáng tạo luôn có động lực muôn tìm tòi, hiểu biết mọi thứ
xung quanh, học tập và lao động một cách tích cực.
- Sáng tạo của các em đôi khi sẽ giúp các em tìm ra được những
phương pháp mới, con đường mới để tiếp cận tri thức một cách tối ưu và hiệu
quả hơn.
- Sáng tạo đi cùng tưởng tượng phong phú của các em là nguồn sáng
tác vô cùng lớn để tạo ra những điều độc đáo, mới lạ, hấp dẫn và mang lợi
ích.
* Đối với HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật
Cũng như đối với hoạt động học tập nói chung, các môn khoa học tự
nhiên và khoa học xã hội khác, tính sáng tạo có vai trò rất lớn đối với các em
HS lớp 5 trong môn học Mĩ thuật:
- Sáng tạo giúp các em suy nghĩ và có những ý tưởng mới lạ, độc đáo
khi đứng trước một đề tài nào đó.
- Các em có thể sử dụng sự sáng tạo của bản thân để tạo dựng, sắp xếp
thú vị không ngờ.
- Trẻ luôn muốn mình là trung tâm chú ý của mọi người, chính vì vậy,
trẻ luôn nghĩ ra những điều gây sự chú ý. Chính suy nghĩ này là một trong các
nhân tố giúp cái “nụ” sáng tạo tiềm ẩn bên trong trẻ có cơ hội “trổ bông”.
- Hầu như tất cả mọi trẻ em đều có chung một “bản năng” – đó là hiếu
động và nghịch ngợm. Sự bướng bỉnh của trẻ, ở một góc độ nào đó, cần phải
hạn chế bằng những biện pháp sư phạm can thiệp kịp thời. Nhưng đôi khi,
chính điều mà người lớn chúng ta lo ngại lại là một nhân tố giúp “ngọn lửa
sáng tạo” trong trẻ có cơ hội được “bùng cháy”.
* Tâm lý sáng tạo của trẻ em trong môn học Mĩ thuật
- Có thể nói, môn Mĩ thuật là môn học yêu cầu và đòi hỏi trẻ có sự
sáng tạo cao nhất trong các môn học cả về ý tưởng và cách trình bày ý tưởng.
Sự sáng tạo trong môn Mĩ thuật thể hiện bằng sản phẩm mĩ thuật của các em
– đó là đường nét, màu sắc, bố cục, hình ảnh, vv…có trong các bức tranh,
hình nặn…do chính các em làm ra; hoặc đôi khi, sự sáng tạo còn chính là một
15
ý tưởng, một thông điệp nào đó các em muốn bày tỏ mà ngôn ngữ nói và viết
thông thường không thể diễn đạt được hết.
- Cũng mang tâm lý sáng tạo chung của trẻ em trong các lĩnh vực khác,
trong môn Mĩ thuật, các em (đặc biệt các em lứa tuổi tiểu học) dùng hình ảnh,
đường nét, hình mảng, màu sắc để thể hiện sự sáng tạo của bản thân mang
đậm đặc điểm của lứa tuổi mình.
1.3.2. Khả năng sáng tạo của HS lớp 5
* Khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong hoạt động học tập
Lớp 5 là giai đoạn cuối bậc tiểu học, so với HS ở các lớp đầu tiểu học
như lớp 1, 2, 3 thì khả năng sáng tạo của các em trong học tập đã phong phú
hơn, phát triển hơn. Hoạt động nhận thức của HS ngày càng được nâng cao
quan của các em đã dần dần phát triển, bước đầu hình thành tư duy có phân
tích. Các em quan sát có chủ định tập trung, nhận thức phong phú đã tạo cơ sở
diễn tả được những gì trẻ thấy và những gì trẻ thích thú. Trẻ đã có ý thức
hướng về đề tài nhất định và vẽ rất hồn nhiên, sinh động mang tính chất tưởng
tượng cao về những ước mơ trong sáng, bay bổng. So với HS đầu cấp tiểu học
khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật đã phát triển hơn:Về bố
cục, các em đã có sự sáng tạo, sắp xếp bố cục chặt chẽ, có mảng chính, mảng
phụ, hình vẽ to, nhỏ, trước, sau che khuất nhau nhiều hơn chứ không dàn
hàng ngang như lớp 1, 2, 3. Ngoài các chi tiết chính mà giáo viên gợi ý, các
em còn có nhiều chi tiết phụ phù hợp với nội dung đề tài, sát với thực tế cuộc
sống, nội dung tranh phong phú đa dạng. Về hình mảng, hình vẽ trong tranh
đã phức tạp dần, không còn đơn điệu. Về màu sắc các em có nhiều sáng tạo
trong việc phối hợp các màu, màu sắc tranh tươi sáng, đặc biệt các em đã
mạnh dạn sử dụng các màu đậm như đen, nâu. Biết pha trộn màu, chồng màu
làm cho bài vẽ sáng tạo hơn, sinh động hơn. Nội dung tranh phong phú, các
em vẽ bằng cảm xúc nhiều hơn trí tuệ, mang tính hồn nhiên trong sáng, không
gò bó về nội dung nhưng vẫn đảm bảo đúng yêu cầu. Các em thường vẽ
những gì chúng thấy, chúng tư duy và tưởng tượng nên bài vẽ của các em rất
sáng tạo, ngộ nghĩnh và hồn nhiên.
1.3.3. Những biểu hiện về tính sáng tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật
Cho tới giai đoạn lớp 5, các em HS hầu như phát triển về mọi mặt, tạo
điều kiện thuận lợi cho các em học môn Mĩ thuật, thể hiện ở: Cầm bút vẽ
đúng, dễ dàng hơn, hoạt động của các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối
vững vàng, giúp cho việc điều khiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn. Các em đã
17
quan sát có chủ định, tập trung, có ý thức học tập hơn, nhận thức phong phú,
tạo cơ sở cho các em diễn tả được những gì mình thấy và thích thú. Nét vẽ đã
cảm cảm xúc, cảm nhận riêng của bản thân, đôi khi còn sử dụng hàng loạt các
màu “kị nhau” trong cùng một hình vẽ, một bức vẽ.
1.4. Nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5
1.4.1. Đặc điểm môn Mĩ thuật lớp 5
- Là một môn học độc lập: Giống như các môn khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội khác, môn Mĩ thuật lớp 5 cũng là một môn học độc lập,
không dạy kèm, không lồng ghép vào môn nào khác.
- Được kết cấu theo hướng đồng tâm: Kiến thức cơ bản được lặp đi lặp
lại nhưng nâng cao dần qua các bài tập ở các lớp, các cấp học, vì thế vừa có
tính kế thừa, vừa có tính nâng cao.
1.4.2. Nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5
So với chương trình cũ thì chương trình mới có sự thay đổi ở các loại
bài như: “Vẽ trang trí” giảm từ 10 tiết còn 9 tiết, “Vẽ tranh” tăng từ 8 tiết lên
9 tiết, “Tập nặn và tạo dáng tự do” tăng từ 2 tiết lên 4 tiết, riêng phân môn
“Vẽ theo mẫu” (8 tiết) và “Thường thức mĩ thuật” (4 tiết) giữ nguyên. Nội
dung của các loại bài này được sắp xếp đan xen nhau phân bố đều trong 35
tuần của năm học, bao gồm:
Vẽ theo mẫu: Hướng dẫn HS vẽ mẫu có cấu trúc phức tạp, vẽ mẫu có
hai đồ vật. Gồm các bài:
- Khối hộp và khối cầu
- Mẫu vẽ có dạng hình trụ và hình cầu
- Mẫu vẽ có hai vật mẫu (2 bài)
- Mẫu vẽ có hai hoặc ba vật mẫu (3 bài)
- Vẽ tĩnh vật (vẽ màu)
Vẽ trang trí: Hướng dẫn HS vẽ những bài tập sáng tạo về bố cục và họa
tiết một cách đơn giản. Gồm các bài:
- Màu sắc trong trang trí
- Vẽ họa tiết trang trí đối xứng qua trục
phẩm nghệ thuật và một số tranh thiếu nhi trong nước nổi tiếng. Gồm các bài:
- Xem tranh Thiếu nữ bên hoa huệ
- Giới thiệu sơ lược về điêu khắc cổ Việt Nam
- Xem tranh Du kích tập bắn
- Xem tranh Bác Hồ đi công tác
- Một tiết Tổng kết năm học với nội dung “Trưng bày các bài vẽ, bài
nặn đẹp”
20
Nội dung chương trình này là phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm nhận
thức, tư duy của các em.
Cũng như các môn học khác, môn Mĩ thuật cũng là một môn học được
chú trọng trong tất cả các khối lớp của trường tiểu học Tiên Dương (Đông
Anh – Hà Nội). Là một trường chuẩn quốc gia đang thực hiện chuẩn giai đoạn
2 nên cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có các phòng chức năng như: Phòng
giáo dục Mĩ thuật, phòng Tin học, phòng Truyền thống, phòng giáo dục Âm
nhạc, nhà đa năng. Bởi vậy, việc giảng dạy nói chung và giảng dạy môn Mĩ
thuật nói riêng có thuận lợi hơn. Tuy nhiên, thực tế, các hình thức dạy học Mĩ
thuật vẫn giống các môn học khác, chưa có sự đổi mới phù hợp loại bài và
chưa tận dụng các ưu thế của phòng học chuyên biệt. Chính vì vậy đổi mới
các HTTCDH trong giảng dạy nói chung và trong giảng dạy môn Mĩ thuật
của trường nói riêng là một việc hết sức cần thiết.
21
CHƯƠNG 2: ĐỔI MỚI HÌNH THỨC DẠY HỌC MĨ THUẬT
GIÚP PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH LỚP 5
2.1.3. Các HTTCDH môn Mĩ thuật ở tiểu học
2.1.3.1. Dạy học trong lớp
2.1.3.1.1. Tổ chức dạy học chung, học sinh làm việc theo cá nhân
Dạy học cả lớp là HTTCDH mà đối tượng tiếp nhận kiến thức là toàn
bộ HS trong lớp học. Theo HTTCDH này, hoạt động trong giờ học chủ yếu là
GV, HS làm việc ít và tiếp thu kiến thức một cách thụ động.
HTTCDH này giúp GV có điều kiện cung cấp lượng thông tin nhiều
hơn, đối tượng tiếp nhận thông tin là HS cũng lớn hơn. Đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi để GV truyền thụ thông tin một cách hệ thống, logic.
HS làm việc theo cá nhân trên nguyên tắc bình đẳng để mỗi HS có thể
phát triển theo năng lực và sở trường của mình. Tuy nhiên, hiệu quả không
mong muốn của phương pháp này đó chính là sự tiếp thu hoàn toàn thụ động
của HS, không phát huy được hoạt động tích cực, tự lực, sáng tạo của học
sinh và có thể gây tâm lý nhàm chán, mệt mỏi cho người học.
2.1.3.1.2. Tổ chức dạy theo nhóm, học sinh học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là HTTCDH hợp tác, qua đó HS được tổ chức để
chia sẻ những hiểu biết của mình và đối chiếu sự hiểu biết của mình với bạn
học. HTTCDH này khai thác được trí tuệ của tập thể HS, đồng thời HS được
rèn luyện thông qua hoạt động tập thể.
Dạy học theo nhóm cho phép HS có nhiều cơ hội khám phá và truyền
đạt thông tin theo ý tưởng sáng tạo của bản thân; tạo điều kiện cho việc thu
nhận thông tin của HS có cơ sở và độ tin cậy cao; phát triển kĩ năng giao tiếp,
hợp tác và phối hợp làm việc với bạn khác; đồng thời, giúp GV có điều kiện
tập trung quan sát, theo dõi hoạt động của từng HS, kịp thời tháo gỡ khó khăn
cho các em trong khi tiến hành hoạt động nhóm.
Khi tiến hành hình thức dạy học này GV cần có sự bao quát lớp hết sức
chặt chẽ, cần chọn được nội dung hoạt động nhóm phù hợp, chia nhóm HS
phù hợp và hoạt động theo nguyên tắc và yêu cầu cần thiết.
2.1.3.2. Dạy học ngoài lớp học
Tất cả các môn học trong chương trình học đều có một mục đích chung
là hướng tới sự toàn diện trong quá trình phát triển và nhận thức của HS. Hệ
thống các môn học theo từng bậc học không phải được sắp xếp một cách ngẫu
nhiên, tùy hứng mà đã có sự nghiên cứu để phù hợp và đáp ứng được nhu cầu
học tập cũng như nhận thức của các em. Vì vậy, tất cả các môn học trong
chương trình học đều có mối liên quan mật thiết đến nhau. Kiến thức của môn
24
học này sẽ là nguồn tài liệu cho môn học kia, học môn học này sẽ khơi nguồn
hứng thú tích cực để học môn học kia và ngược lại. Chính vì vậy, khi dạy học
các môn học nói chung và dạy học môn Mĩ thuật nói riêng, GV không chỉ
chăm chăm truyền đạt kiến thức cũng như tư tưởng của bộ môn, mà bên cạnh
đó có sự liên hệ giúp các em liên tưởng và vận dụng các kiến thức trong các
lĩnh vực khác để giải quyết nhiệm vụ của vấn đề đưa ra.
2.1.3.3.2. HTTCDH tích hợp các hình thức
Cũng như các phương pháp dạy học, việc phân biệt một cách rõ ràng
từng HTTCDH chỉ tồn tại trên lý thuyết, còn trong thực tiễn dạy học các
HTTCDH được GV sử dụng đan xen vào nhau. HTTCDH này sẽ hỗ trợ cho
HTTCDH kia tạo nên hiệu quả của tiết dạy vì mỗi HTTCDH có những ưu
điểm và hạn chế riêng. Việc phối hợp nhiều HTTCDH trên một tiết học đã và
đang được GV thực hiện tốt trong thực tiễn các trường tiểu học.
2.1.3.3.3. HTTCDH thông qua trò chơi
Đối với HS tiểu học, học tập là hoạt động chủ đạo, tuy nhiên vui chơi
vẫn chiếm vị trí lớn trong đời sống của các em. Theo tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học ở tiểu học, trò chơi được xem là HTTCDH được
khuyến khích sử dụng nhằm gây hứng thú học tập, giảm căng thẳng cho HS,
góp phần nâng cao hiệu quả của tiết học. Trò chơi học tập có tác dụng phát
huy tính tích cực, phát triển nhanh trí, tinh thần tập thể, tính tự lực và sáng tạo