Động từ trong tiếng việt và việc bồi dưỡng vốn hiểu biết động từ cho học sinh tiểu học - Pdf 31

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoa giáo dục tiểu học

phạm hoàng phương thảo

động từ trong tiếng việt và việc
bồi dưỡng vốn hiểu biết động từ
cho học sinh tiểu học

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học:
GVC. ThS. PHAN TH THCH

Hà Nội, 2013

5


LỜI CẢM ƠN

Để giúp bản thân trang bị những kiến thức về động từ trong tiếng Việt
và bồi dưỡng vốn hiểu biết về từ loại cho học sinh Tiểu học tôi đã lựa chọn đề
tài: “Động từ trong tiếng Việt và việc bồi dưỡng vốn hiểu biết về Động từ cho
học sinh Tiểu học”. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều thầy cô giáo và các em học sinh Tiểu học,
đặc biệt là sự hướng dẫn của cô Phan Thị Thạch, giảng viên chính của khoa
Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Nhân dịp khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành, tôi xin gửi tới các thầy
cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, các giáo viên và học sinh trường Tiểu học


Phạm Hoàng Phương Thảo

7


KÍ HIỆU VIẾT TẮT

CN

: chủ ngữ

VN

: vị ngữ

HS

: học sinh

VD

: ví dụ

SGK

: sách giáo khoa

NXB


5

1.2. Ý nghĩa thực tiễn

5

2. Lịch sử vấn đề

6

2.1.Việc nghiên cứu về động từ của một số nhà ngữ pháp họctiêu biểu
trong các công trình của họ

6

2.2. Nội dung dạy học về động từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở
Tiểu học và Ngữ văn trung học cơ sở

9

2.2.1. Nội dung dạy học về động từ trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

9

2.2.2. Nội dung dạy học về động từ trong SGK Ngữ Văn Trung học cơsở

10

2.3. Việc nghiên cứu về động từ của sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học


1.1. Cơ sở ngôn ngữ học

13

1.1.1. Từ loại là gì?

13

1.1.2.Tiêu chí phân định các từ loại

14

1.1.3.Kết quả phân loại từ loại tiếng Việt

15

1.1.4. Hiện tượng chuyển loại của từ

16

9


1.2. Cơ sở tâm lý học

18

1.2.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học

18

2.2. Vấn đề phân loại động từ trong tiếng Việt

23

2.2.1 Cách phân loại của Nguyễn Hữu Quỳnh

23

2.2.2 Cách phân loại của Đinh Văn Đức, Vũ Đức Nghiệuvà Nguyễn
Văn Hiệp

25

2.2.3. Cách phân loại của Diệp Quang Ban

25

2.2.4. Nhận xét

29

2.3. Chức năng của động từ trong tiếng Việt

30

2.3.1. Chức năng biểu thị ý nghĩa từ vựng của động từ

30

2.3.2. Chức năng biểu thị ý ngữ pháp nghĩa của động từ



3.1.1 Đối tượng khảo sát

37

3.1.2 Cách thức khảo sát

37

3.1.3 Kết quả khảo sát vốn hiểu biết về động từ của họcsinh tiểu học

42

3.1.4. Nhận xét sơ bộ

44

3.2. Nội dung phương pháp bồi dưỡng vốn hiểu biết về động từ cho học
sinh tiểu học

45

3.2.1 Khảo sát nội dung, phương pháp dạy học về động từ trong chương
trình SGK Tiếng Việt ở tiểu học

45

3.2.2 Một vài đề xuất bước đầu về nội dung, phương phápbồi dưỡng
vốn hiểu biết động từ cho học sinh Tiểu học

thực khách quan một cách dễ dàng.
Mặt khác khi nghiên cứu ngôn ngữ của một dân tộc về mặt ngữ pháp,
chúng ta không thể không nghiên cứu về mặt từ loại. Cho đến nay, việc
nghiên cứu ngữ pháp đã được mở rộng ra nhiều bình diện như: kết học, nghĩa
học và dụng học. Ngữ pháp cũng được nghiên cứu ở rất nhiều góc nhìn như:
ngữ pháp hình thức, ngữ pháp chức năng…. Vì thế việc nghiên cứu về từ loại
tiếng Việt, hẹp hơn là nghiên cứu về một từ loại như động từ gắn với những
yêu cầu mới của ngữ pháp học là điều rất cần thiết.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Vậy đặc điểm loại hình
và bản sắc dân tộc có ảnh hưởng gì đến việc nghiên cứu về từ loại tiếng Việt?
Câu hỏi đó chỉ có thể trả lời một cách thuyết phục khi ta đi sâu nghiên cứu
vào một từ loại, cụ thể là động từ.
1.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu về từ loại tiếng Việt có ý nghĩa thực tiễn cao.

12


Thứ nhất, việc nghiên cứu về từ loại tiếng Việt giúp cho bản thân tác
giả khoá luận có điều kiện đi sâu nghiên cứu một từ loại cụ thể trong hệ thống
từ loại tiếng Việt. Đây là điều mà trong quá trình học tập học phần Tiếng Việt
2 của quá trình đào tạo tại khoa GDTH sinh viên chưa có điều kiện thực hiện
thấu đáo.
Thứ hai, việc thực hiện đề tài nghiên cứu về một từ loại như động từ,
đặc biệt nghiên cứu về vốn hiểu biết về từ loại của HS tiểu học để tìm ra
phương pháp và nội dung bồi dưỡng tiếng Việt cho HS tiểu học là một việc
làm hữu ích. Bởi lẽ, việc làm đó giúp cho tác giả khoá luận và các bạn sinh
viên tiểu học có thêm hành trang quý báu để dạy tốt tiếng Việt trong tương lai.
Thứ ba, quá trình thực hiện đề tài là quá trình chúng tôi được làm quen
với việc nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện bản thân theo yêu cầu đổi mới

tiếng Việt ở các nội dung sau: khái niệm về động từ, phân loại động từ thành
những tiểu loại cụ thể. Một số tác giả đã đề cập đến khả năng kết hợp của
động từ trong cụm từ và trong câu. Mặc dù có sự thống nhất trong một số nội
dung nghiên cứu đã nêu trên, nhưng giữa những nhà ngữ pháp vẫn còn những
điểm chưa nhất quán. Điều đó được biểu hiện ở những nội dung sau:
Sự chưa nhất quán được thể hiện trước hết ở cách dùng thuật ngữ.
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê là hai nhà nghiên cứu và giảng dạy
ngữ pháp tiếng Việt ở Đại học Huế trước ngày miền Nam giải phóng. Do họ
chịu ít nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ phương Tây, cho nên trong cuốn “Khảo
luận về ngữ pháp Việt Nam” (1963) họ đã sử dụng thuật ngữ “trạng từ” thay
cho cách gọi thông thường hiện nay là động từ. Mặt khác việc nghiên cứu về
từ loại, đặc biệt là động từ của hai ông rất sơ lược.
Thứ hai, cách phân loại động từ và kết quả phân loại động từ thành
những tiểu loại ở các nhà khoa học cũng chưa có sự gặp gỡ.

14


Đinh Văn Đức trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại” (1986), đã
đưa ra quan niệm rõ ràng, cụ thể về vấn đề ý nghĩa của các từ loại trong tiếng
Việt trong đó có động từ. Ông lại chia động từ thành bốn nhóm động từ chính
đó là:
- Động từ nội động, động từ ngoại động.
- Động từ tình thái, ngữ pháp.
- Động từ tổng hợp.
- Động từ chuyển động.
Cách phân loại này khác biệt so với hầu hết các tác giả khác.
Hoàng Thung - Lê A trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1994), đã nêu
ra các đặc điểm chung nhất của động từ. Tuy nhiên trong các đặc điểm đưa ra
cùng với các cách phân loại của hai tác giả rất giản lược. Hai ông chia động từ

Ví dụ:
1. Tìm từ chỉ hoạt động, trạng thái của loài vật và sự vật trong những
câu sau:
a, Con trâu ăn cỏ.
b, Đàn bò uống nước dưới sông.
c, Mặt trời toả ánh nắng rực rỡ.
2. Tìm từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ trống:
(giơ, đuổi, chạy, nhe, luồn)
Con mèo, con mèo
…. theo con chuột
….vuốt, …. nanh
Con chuột …. quanh
Luồn hang, …. hốc.
Đồng dao
(Từ chỉ hoạt động trạng thái - Tiếng Việt 2 - Tập 1- tr. 66 )

16


Nội dung khái niệm động từ được trình bày trong SGK Tiếng Việt 4.
Việc ôn tập để củng cố hiểu biết cho HS về từ loại này được thực hiện trong
SGK Tiếng Việt 5.
2.2.2. Nội dung dạy học về động từ trong SGK Ngữ Văn Trung học cơ sở
Trong chương trình SGK Ngữ văn THCS, các tác giả biên soạn đã
củng cố kiến thức về động từ thông qua hệ thống các bài tập nhận xét đặc
điểm của động từ, khả năng kết hợp, chức năng ngữ pháp của động từ trong
câu. Đặc biệt thông qua bài tập động từ được phân loại theo ba nhóm chính:
- Động từ tình thái
- Động từ chỉ hành động.
- Động từ chỉ trạng thái,

dưỡng vốn hiểu biết về động từ cho HS Tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận cho đề tài “Động từ trong tiếng Việt và việc
bồi dưỡng vốn hiểu biết về động từ cho học sinh Tiều học”.
5.2. Hệ thống hoá kiến thức về động từ trong các tài liệu ngữ pháp đáng
tin cậy.
5.3. Khảo sát, thống kê vốn hiểu biết của HS Tiểu học về động từ, từ đó
đề xuất nội dung, phương pháp dạy học thích hợp để bồi dưỡng vốn ngôn ngữ
nhằm nâng cao năng lực giao tiếp và tư duy cho các em HS.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài khóa luận của chúng tôi chỉ giới hạn trong việc hệ thống hóa kết
quả nghiên cứu của các nhà ngữ pháp học về động từ, đồng thời khảo sát,
thống kê về vốn hiểu biết về động từ của HS Tiểu học. Từ đó, bước đầu đề

18


xuất nội dung, phương pháp giúp HS Tiểu học nâng cao vốn hiểu biết về từ
loại này.
6.2. Giới hạn đối tượng khảo sát
Chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát vốn hiểu biết về động từ của:
HS hai lớp 4A và 5A trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, bản
Chỏi, xã Lâm Thượng, Lục Yên, Yên Bái. Như vậy, đối tượng khảo sát của
chúng tôi là HS tại một trường tiểu học ở miền núi, các em HS hầu hết là con
em dân tộc thiểu số. Với các em,Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai và chỉ sử
dụng trong quá trình học tập trên lớp.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp thống kê
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để xác định vốn hiểu biết về

Hoàng Văn Thung - Lê A cho rằng: “Từ trong tiếng Việt, xét về mặt
ngữ pháp có thể xác định được từ loại, nghĩa là có thể phân chia vốn từ thành
các lớp từ theo những tiêu chuẩn nhất định”. (Ngữ pháp tiếng Việt, Đại học
Sư phạm Hà Nội 1, tr. 18)
Theo Đinh Văn Đức: “Từ loại được hiểu một cách đơn giản nhất là các
lớp từ trong một ngôn ngữ cụ thể, được phân chia về mặt ngữ pháp”. (Ngữ
pháp tiếng Việt - từ loại, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tr. 9)
Từ những định nghĩa ở trên, chúng tôi thống nhất sử dụng định nghĩa từ
loại của Đinh Văn Đức cũng như kế thừa các định nghĩa đã tham khảo để đưa
ra định nghĩa về từ loại như sau:
“Từ loại là các lớp từ trong một ngôn ngữ cụ thể được phân chia về mặt
ý nghĩa, ngữ pháp theo những tiêu chuẩn xác định”

20


1.1.2. Tiêu chí phân định các từ loại
Rất nhiều nhà ngữ pháp học trong các công trình nghiên cứu của mình
đã đề cập đến vấn đề tiêu chí phân định từ loại như:
- Hoàng Văn Thung - Lê A trong “Ngữ pháp tiếng Việt”
- Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt tập 1”
- Đinh Văn Đức “ Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại”
Các tác giả hầu hết đều thống nhất dựa trên ba tiêu chí sau để phân chia
từ loại:
- Ý nghĩa khái quát của từ (ý nghĩa phạm trù)
- Khả năng kết hợp của từ.
- Chức vụ cú pháp của từ (thành phần câu).
Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ
học” cũng dựa trên ba tiêu chí nhưng với cách diễn đạt khác:
- Tiêu chí về ý nghĩa.

Đinh Văn Đức trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại” đã phân loại
từ tiếng Việt thành ba loại lớn. Từ đó, ông lại tiến hành phân chia chúng
thành những từ loại cụ thể:
- Các thực từ gồm ba từ loại: danh từ, động từ và tính từ.
- Các hư từ gồm hai tập hợp là hư từ từ pháp và hư từ cú pháp (quan hệ từ).
- Các tình thái từ gồm hai tiểu loại: tiểu từ và trợ từ.
Diệp Quang Ban trong “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 1” phân
loại như sau:
- Lớp thực từ bao gồm các từ loại: danh từ, số từ, động từ, tính từ.
- Lớp hư từ bao gồm các từ loại: phụ từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái
- Lớp từ trung gian là các đại từ.
Hoàng Văn Thung - Lê A “Ngữ pháp tiếng Việt” phân chia từ thành hai lớp:
- Thực từ bao gồm các từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ và số từ.
- Hư từ bao gồm các từ loại: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ.

22


Vũ Đức Nghiệu - Nguyễn Văn Hiệp “Dẫn luận ngôn ngữ học” phân
chia từ loại thành ba lớp:
- Các thực từ: danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, số từ, đại từ.
- Các hư từ gồm hai từ loại là giới từ và liên từ.
- Thán từ.
Tuy tên gọi, cách phân loại của các nhà ngữ pháp học có những điểm
chênh lệch nhưng giữa họ có sự thống nhất khi chia từ loại tiếng Việt thành
hai lớp thực từ và hư từ. Trong nội bộ các lớp từ tuy còn nhiều tranh cãi, song
động từ luôn nằm trong lớp thực từ.
1.1.4. Hiện tượng chuyển loại của từ
Hiện tượng này được hiểu là “hiện tượng một từ có khả năng đảm
nhận, biểu thị những sự vật, hiện tượng, hành động, quan hệ thuộc về nhiều từ

gian hiện tại hành động tiếp diễn; “chơi2” là một danh từ vì nó đứng sau
“cuộc” - một danh từ khuyết thiếu.
1.1.4.2. Một số trường hợp chuyển loại trong tiếng Việt
a. Chuyển loại trong nội bộ một lớp thực từ:
Ví dụ a1: - Mua một cân thịt . (Danh từ)
- Thịt một con gà. (Động từ)
Ví dụ a2: - Công việc thực tập sư phạm rất khó khăn. (Tính từ)
- Những khó khăn ấy đã được giải quyết. (Danh từ)
Ví dụ a3: - Một kho dự trữ lương thực quốc giamowis được xây dựng
tại quê tôi.(Danh từ)
- Mẹ tôi đang kho cá.(Động từ)
- Món cá kho là tôi thích ăn nhất. ( Tính từ)
Ví dụ a4 : - Việt Nam là dân tộc nhỏ bé nhưng rất anh hùng.(Danh từ)
- Ngôn ngữ của Truyện Kiều rất Việt Nam, rất Nguyễn
Du.(Tính từ)

24


b. Chuyển loại trong phạm vi từ hư từ này sang hư từ khác.
Ví dụ b1: - Mẹ đã bảo rồi mà. (Tiểu từ tình thái)
- Cậu lấy bút của tớ mà viết. (Quan hệ từ)
- Em mà khóc thì các bạn sẽ mất vui. (Trợ từ)
Ví dụ b2: - Nếu trời mưa, thì tôi sẽ không đi Lào Cai.(Quan hệ từ)
- Tôi thì tôi cứ nói toạc móng heo.(Trợ từ)
c. Chuyển loại từ lớp thực từ sang hư từ:
Ví dụ c1: - Tôi ra cửa hàng. (Động từ)
- Tôi đi ra cửa hàng. (Phụ từ chỉ hướng)
Ví dụ c2: - Anh ấy có rất nhiều của. (Danh từ)
- Quê của anh ấy ở Ninh Bình. (Quan hệ từ)

Tri giác là quá trình nhận thức cao hơn cảm giác, phản ánh trực tiếp và
trọn vẹn sự vật, hiện tượng bên ngoài với đầy đủ đặc tính của nó.
Học sinh Tiểu học tri giác mang tính chung chung, đại thể, ít đi vào chi
tiết và mang tính chủ định. Tri giác của học sinh tiểu học gắn với hành động,
hoạt động thực tiễn của trẻ.
1.2.1.3. Tưởng tượng
- Tưởng tượng là tạo ra trong trí nhớ hình ảnh về những cái không có ở
trước mắt hoặc chưa hề có. Tưởng tượng của học sinh tiểu học phân chia làm
hai loại:
+ Tưởng tượng tái tạo: Học sinh hình dung ra những gì đã thấy, đã
cảm nhận được.
+ Tưởng tượng sáng tạo: Quá trình học sinh tạo ra biểu tượng mới. Học
sinh có thể tưởng tượng ra hình ảnh các sự vật, hiện tượng, các nhân vật trong
các bài tập đọc, các cảnh quan địa lí, các sự kiện lịch sử…
1.2.2. Khả năng tiếp nhận của học sinh Tiểu học trong hoạt động
giao tiếp bằng tiếng Việt
Thông qua hoạt động giao tiếp mà phương tiện là tiếng mẹ đẻ. Học sinh
trao đổi tâm tư, tình cảm của mình với người xung quanh. Đúng như

26


N.K.A.Usinxki đã nhận định: “Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của
mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và
ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó thông qua
chính công cụ này”.
Dựa vào những đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học mà chương trình
Tiếng Việt ở Tiểu học mới đưa ra mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt là hình
thành các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên. Hoạt động giao tiếp
vừa là mục đich số một vừa là phương tiện dạy học tiếng Việt.

xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động sử dụng để thực hiện các chức năng
nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy của con người.
2. Nguyên tắc phát triển tư duy
Nguyên tắc này yêu cầu giáo viên:
- Phải chú ý rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy trong giờ dạy
tiếng Việt;
- Phải làm cho học sinh thông hiểu ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ;
- Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần
nói, viết và biết thể hiện nội dung này bằng phương tiện ngôn ngữ.
3. Nguyên tắc chú ý đến các đặc điểm tâm lí và trình độ tiếng mẹ đẻ
của học sinh
Nguyên tắc này yêu cầu:
Việc dạy học tiếng phải chú ý đến đặc điểm tâm lí của học sinh, đặc
biệt là bước chuyển khó khăn từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang
hoạt động học tập.
Việc dạy học tiếng phải dựa trên sự hiểu biết chắc chắn về trình độ
tiếng mẹ đẻ vốn có của học sinh.
Sự vận dụng nguyên tắc này khi dạy tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ
đẻ và tư cách là ngôn ngữ thứ hai có khác nhau.

28


Trước hết, với những học sinh người Việt, khi nghiên cứu tiếng Việt,
học sinh tiếp xúc với một đối tượng quen thuộc, gắn bó trực tiếp với cuộc
sống hàng ngày của các em. Trước khi đến trường, các em đã nắm hai dạng
hoạt động nói và nghe, các em đã có một vốn từ và quy tắc ngữ pháp nhất
định. Vì vậy, cần phải điều tra, nắm vững vốn tiếng Việt của học sinh theo
từng lớp, từng vùng khác nhau để hoạch định nội dung, kế hoạch và phương
pháp dạy học. Đó là yêu cầu thứ nhất của việc thực hiện nguyên tắc. Yêu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status