TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
…………………
LÊ THỊ THU HUYỀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH
LỚP 4A2 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRƯNG NHỊ,
THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Đỗ Huy Quang
HÀ NỘI - NĂM 2013
LỜI CẢM ƠN
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người ”
Giáo viên Việt Nam luôn ghi nhớ lời Bác dậy. Để làm được điều đó đòi
hỏi giáo viên phải luôn trau dồi kiến thức cho bản thân, tìm tòi, nghiên cứu,
sáng tạo. Là một giáo viên trong tương lai bản thân tôi luôn mong muốn thực
hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ của nhà trường giao phó, cố gắn phấn đấu để
được lòng tin yêu của học sinh và đồng nghiệp. Đó là một quá trình rèn luyện
nghiêm túc, đặc biệt trong thời gian còn ngồi trên nghế nhà trường, thời gian
dành cho việc học tập và nghiên cứu. Khi bắt tay vào nghiên cứu khóa luận
tốt nghiệp này tôi cũng gặp phải một số khó khăn, nhưng đáp lại tôi cũng học
hỏi được rất nhiều kiến thức cơ bản. Đó sẽ là những cơ sở để tôi hoàn thiện
mô trong quá trình thực nghiệm giảng dậy sau này.
Hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp về đề tài “ Rèn kĩ năng đọc diễn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. ......................................................................... 1
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. ...................................................... 2
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU................................................................... 5
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU. ............................................. 5
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU................................................................... 5
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................... 5
7. CẤU TRÚC KHÓA LUẬN. ................................................................... 5
NỘI DUNG .................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỌC
DIỄN CẢM TRONG GIỜ TẬP ĐỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC .................. 7
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ................................................................................ 7
1.1.1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học ....................................... 7
1.1.1.1. Vị trí dạy đọc ở Tiểu học ....................................................... 7
1.1.1.2. Nhiệm vụ của dạy đọc ởTiểu học .......................................... 8
1.1.2. Quan niệm về đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật ................... 10
1.1.2.1. Đọc diễn cảm ....................................................................... 10
1.1.2.2. Đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật. ................................. 11
1.1.2.3. Bản chất của việc đọc diễn cảm ........................................... 12
1.1.3. Các cơ sở lí luận của đọc diễn cảm ............................................. 14
1.1.3.1. Cơ sở sinh lí học và tâm lí học của đọc diễn cảm ................. 14
1.1.3.2. Cơ sở ngôn ngữ học của đọc diễn cảm ................................. 17
1.1.3.3. Cơ sở giao tiếp của đọc diễn cảm ......................................... 25
1.1.3.4. Vai trò của đọc diễn cảm với sự hình thành và phát triển nhân
cách học sinh Tiểu học ..................................................................... 26
1.1.3.5. Đọc diễn cảm là một nghệ thuật đọc văn trong nhà trường
2.3.1.1. Đọc rõ tiếng, rõ lời và đúng chính âm .................................. 67
2.3.1.2. Ngắt giọng biểu cảm ............................................................ 67
2.3.1.3. Ngữ điệu phù hợp ................................................................ 69
2.3.2. Đọc tác phẩm tự sự (.Truyện ngắn) ............................................. 70
2.3.3. Đọc diễn cảm tác phẩm kịch ....................................................... 75
2.4. Tạo ra kích thích để học sinh đọc diễn cảm ....................................... 78
2.5. Sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy đọc diễn cảm cho học sinh ........ 79
2.6. Đọc diễn cảm trong các hoạt động khác............................................. 80
2.7. Tổ chức luyện đọc diễn cảm để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học
sinh........................................................................................................... 81
2.8. Một số bài tập luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học .... 83
2.8.1. Bài tập luyện đọc thành tiếng ...................................................... 83
2.8.2. Bài tập luyện đọc diễn cảm ......................................................... 84
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................. 89
KẾT LUẬN................................................................................................ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 101
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Có thể nói bậc Tiểu học là bậc học quan trọng, đặt nền móng cho việc
hình thành nhân cách của học sinh, nền móng đó cần phải được xây dựng thật
vững chắc.Vì vậy, mỗi giáo viên Tiểu học cần trang bị cho mình vốn kiến
thức, phương pháp cơ bản cho việc dạy học nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo
dục hiện nay là: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện về mọi
mặt. Người giáo viên cần biết kết hợp hài hoà giữa vốn kiến thức của bản
thân và sách giáo khoa để truyền thụ cho học sinh giúp các em tiếp nhận
được kiến thức và có những hiểu biết nhất định về cuộc sống từ đó đáp ứng
“Rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4A2 trường Tiểu học
Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX có rất nhiều giáo trình nói về
đọc diễn cảm. Các tác giả của các công trình nghiên cứu chia làm hai phái.
Một phái theo khuynh hướng ngữ văn, cho rằng nhiệm vụ chính của đọc diễn
cảm là nâng cao trình độ ngôn ngữ văn hóa của học sinh và làm cho các giờ
học tiếng mẹ đẻ trở nên sinh động. Còn phái thứ hai đi theo khuynh hướng
nghệ thuật tâm lý. Họ cho rằng đọc diễn cảm là nghệ thuật đọc và cho rằng
nhiệm vụ hàng đầu là giáo dục thẩm mĩ.
Tác phẩm thể hiện khuynh hướng nghệ thuật – tâm lý điển hình nhất là
tác phẩm của E.V. Iagovixki “Đọc điễn cảm là một phương tiện giáo dục
thẩm mĩ” (Lêningrat 1963, xuất bản lấn thứ hai). G.P.Phia Xốp. Đó là một tác
phẩm nghiên cứu âm thanh và ngữ điệu của ngôn ngữ trong các giờ học tiếng
Nga (Maxcơva, 1959).
Quyển sách của L.A Gorbusina “Đọc diễn cảm và kể chuyện của các
thầy giáo” (Maxcơva, 1965) dành cho thầy giáo cấp I. Tác phẩm đề cập đến:
3
Kỹ thuật đọc và các bài tập, các quy tắc phát âm chuẩn mực, các thành phần
của ngữ điệu, vấn đề đọc diễn cảm và các hình thức kể chuyện khác nhau.
Theo tác giả Lê Phương Nga trong cuốn “ Phương pháp dạy học Tiếng
Việt ở tiểu học” (2006) NXB ĐHSP đã cho rằng: Đọc diễn cảm ở đây được
hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi học những văn bản văn chương
hoặc các yếu tố của ngôn ngữ văn chương.
Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ và việc hiểu là cơ sở
để đọc diễn cảm. Vì vậy, đọc diễn cảm trước hết phải xác định nội dung,
nghĩa lý của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu nói chung của
bài.
Từ trước tới nay, lý luận dạy học đã từng chỉ ra rằng, nội dung quyết
định phương pháp dạy học. Trên cơ sở nội dung bài học, giáo viên lựa chọn
phương pháp. Điều đó hoàn toàn đúng, song thực tiễn lại cho thấy rằng, đối
tượng học sinh mới là cơ sở quan trọng và quyết định tới phương pháp dạy
học. Đối tượng học sinh như thế nào sẽ phải có phương pháp dạy học cho
thích ứng. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay,
dạy học sát đối tượng trở thành yêu cầu bắt buộc mà mỗi giáo viên trong các
nhà trường phải thực hiện.
Thông qua đề tài này, tôi không có tham vọng đưa ra một phương pháp
dạy học mới hay một sự cải cách nào đó về nội dung giờ dạy Tập đọc nói
chung và dạy đọc diễn cảm nói riêng, mà chỉ đưa ra một vài ý kiến của bản
thân. Những kinh nghiệm mà tôi tìm hiểu, chắt lọc được qua các tài liệu,
công trình nghiên cứu đi trước, qua học hỏi kinh nghiệm của thầy cô,...tôi
muốn tìm cách hướng dẫn phù hợp, hiệu quả các bài trong chương trình Tập
đọc lớp 4, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đọc diễn cảm cho các em học
sinh tại lớp 4A2 trường Tiểu học Trưng Nhị nơi tôi đang thực tập giảng dạy
nói riêng cho học sinh lớp 4 nói chung, và cũng là phục vụ cho công tác
5
giảng dạy sau này.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Đề tài nhằm tìm ra các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả phân môn tập đọc nói chung và chất lượng đọc diễn cảm cho học sinh lớp
4 ở mức độ ban đầu ( đọc diễn cảm một đọan văn, khổ thơ ). Học sinh được
thực hành luyện tập từng bước để có thể đáp ứng nhu cầu cao hơn ở lớp 5 và
các lớp trên.
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy đọc trong giờ tập đọc và biện
pháp rèn luyện kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh tiểu học.
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT
ĐỘNG ĐỌC DIỄN CẢM TRONG GIỜ TẬP ĐỌC Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy đọc ở Tiểu học
1.1.1.1. Vị trí dạy đọc ở Tiểu học
* Đọc là gì ?
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể
hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng
thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức
đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các
đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).
(M.R.Lơvốp_Cẩm nang dạy học
Tiếng Nga)
* Ý nghĩa của việc đọc
Đọc là một hoạt động của con người. Đọc không chỉ là hoạt động nhận
thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động trực quan sinh động
giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người. Vì
thế xuất hiện kinh nghiệm đọc và biến đổi cách thức, chất lượng đọc. Đọc
còn là hành động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh thần của độc giả,
bộc lộ rõ năng lực văn hóa của từng người.
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học,
tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và cả những người đương thời phần
9
Dạy đọc ở tiểu học với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt
có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. Tính đa
nghĩa của “đọc” kéo theo tính đa nghĩa của “biết đọc”. Biết đọc được hiểu
theo nhiều mức độ. Một em bé mới đi học biết đánh vần “cờ_o_co” ngập
ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là biết đọc. Đọc, thâu tóm tư tưởng
của một cuốn sách trong vài ba trang cũng gọi là biết đọc. Trong một ngày
nắm được tinh thần của hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc. Những
năng lực này không phải tự nhiên mà có. Nhà trường phải từng bước hình
thành cho học sinh năng lực này và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên
gạch đầu tiên.
- Thứ nhất, tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng
nhất của việc tập đọc là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc
được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc” :
đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được
nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn
kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc
thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện về
một trong những kĩ năng này có tác động tích cực tới các kĩ năng khác. Ví dụ,
đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu văn bản.
Ngược lại nếu không hiểu được điều mình đang học thì không thể đọc nhanh
và diễn cảm được. Nhiều khi khó nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho
kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ đọc đúng mà hiểu
đúng. Vì vậy trong dạy học, không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình
thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho
học sinh. Làm cho sách được tôn kính trong trường học, đó là một trong
những điều kiện để trường học thực sự trở thành một trung tâm văn hóa. Nói
11
Theo tác giả Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga đã nêu ra trong cuốn
Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học cho rằng: “Đọc diễn cảm ở đây được
hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọc những văn bản văn chương
hoặc các yếu tố ngôn ngữ văn chương”.
Còn theo tác giả Hà Nguyễn Kim Giang nêu ra trong cuốn Phương
pháp đọc diễn cảm, cho rằng: “Đọc diễn cảm là làm nổi bật đặc điểm, cảm
xúc thẩm mĩ và đời sống tinh thần của tác phẩm, tạo ra mối quan hệ xúc động
riêng của người đọc với tác phẩm”.
Từ những đặc điểm trên, đọc diễn cảm đã đảm bảo tính chân thực và
màu sắc của cá nhân trong cảm thụ, thể hiện được cái tinh thần và cái hồn của
bài văn. Đọc diễn cảm đã tận dụng các hình thức biểu hiện của người đọc,
thống nhất được nội tâm và ngoại hình, từ đó chinh phục được người nghe.
Vì vậy có thể hiểu ngắn gọn về đọc diễn cảm như sau:
Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc có kèm theo cử chỉ, điệu bộ,
nét mặt để truyền đạt những ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm
trong tác phẩm và cả những ý nghĩ, thái độ, tâm trạng, cảm xúc của người
đọc đến với người nghe.
1.1.2.2. Đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật.
Đọc là một hoạt động của con người. Đọc và đọc diễn cảm không phải
chỉ là hành động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động
trực quan sinh động giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát nếm trải của
con người. Vì thế xuất hiện kinh nghiệm đọc diễn cảm và sự biến đổi cách
thức và chất lượng đọc. Đọc diễn cảm là hành động mang tính chất tâm lí,
một hoạt động tinh thần của tác giả, bộc lộ rõ cảm nhận của từng người.
Đọc các văn bản nghệ thuật – hay các tác phẩm văn chương theo quan
niệm của chúng tôi là giải quyết vấn đề tương quan của các cấu trúc tồn tại
trong tác phẩm. Trước hết là cấu trúc ngôn ngữ, thứ đến là cấu trúc hình
13
âm một cách khái quát. Khi đọc người đọc phải lệ thuộc vào văn bản, nhưng
sự lệ thuộc này cũng không hạn chế được sự sáng tạo của người đọc. Một câu
thơ, câu văn dù giữ nguyên số chữ, dấu chấm câu cũng có năm, bảy cách đọc.
Về vấn đề này nhà văn A.P. Tsêkhôp trong truyện ngắn Những cảm xúc mãnh
liệt đã từng nói: “Tôi dám chắc rằng một từ nào cũng có đến một nghin nghĩa
và sắc thái xem xét từ góc độ nó được đọc lên như thế nào”. Đoc là sự phân
tích nắm bắt, đoán nhận kí hiệu.
Đọc diễn cảm cũng là một nghệ thuật có đặc điểm riêng, nó không lặp
lại người khác, không chỉ truyền đạt trung thành, máy móc bài văn mà còn
ghi đậm dấu ấn cá nhân. Đọc như thế sẽ gây chấn động tâm hồn trên cơ sở
những mĩ cảm ngôn ngữ văn học và khả năng biểu diễn. Lối đọc này sẽ có
sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe và làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của
tác phẩm văn chương. Rõ ràng đọc diễn cảm mang đầy đủ tính nghệ thuật của
nó.
Đọc diễn cảm là hình thức đặc biệt của đọc văn chương. Đặc biệt nó
vượt qua việc đọc những tín hiệu ngôn ngữ, từ kí hiệu chữ sang kí hiệu âm
thanh tạo ra năng lực đọc văn.
Đọc diễn cảm là hình thức riêng của việc đọc văn có sự tham gia bổ
sung hỗ trợ của năng lực diễn đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, tâm thế, dáng vẻ,
giọng điệu, ngữ điệu, âm sắc, màu sắc của cảm xúc ngôn ngữ. Cho nên đọc
diễn cảm là một nghệ thuật. Nghệ thuật đọc diễn cảm đòi hỏi phải có một quá
trình rèn luyện lâu dài và liên tục.
Vấn đề mối quan hệ qua lại giữa đọc diễn cảm đọc biểu diễn nghệ
thuật rất phức tạp vì ngay trong nghệ thuật biểu diễn đọc cũng có nhiều
trường phái khác nhau. Hiện nay trong nghệ thuật biểu diễn đọc có hai
khuynh hướng: một số nghệ sĩ diễn xuất thiên về biểu diễn, một số khác lại
sử dụng phong cách của người kể chuyện.
15
lao động căng thẳng, là sự huy động các giác quan như: thính giác, thị giác,
các cơ quan hô hấp, bộ máy phát âm, … cả cơ chế bên trong của con người: ý
thức, tiềm thức, trí nhớ, kinh nghiệm, … Thực tế trong các giờ dạy đọc hiện
nay cho thấy chỉ có thể dạy đọc một cách diễn cảm cho một số học sinh có
năng khiếu mà thôi. Nhà trường hiện nay là nhà trường chung cho tất cả con
em chúng ta và chưa có một văn bản nào đưa ra vấn đề chia học sinh làm hai
loại: loại có năng khiếu và loại không có năng khiếu. Nhưng thực tế trong giờ
thực hành lại có sự phân chia đó. Thường thường trong một lớp chỉ có một số
em biết đọc diễn cảm, bên cạnh đó còn đa số không biết đọc diễn cảm và thầy
cô cũng chỉ chú trọng tới một vài em có năng khiếu đó.
Vì vậy một vấn đề cấp bách được đặt ra là có thể đọc diễn cảm cho tất
cả các em học sinh được không, và có cần thiết phải làm điều đó không?
Khoa học hiện đại đã phân tích các hiện tượng như khả năng, năng khiếu,
thiên tài, trực giác và khí chất, khẳng định rằng, chúng ta phải dạy cho học
sinh đọc diễn cảm để các em có thể phát triển những khả năng đọc diễn cảm
thích hợp.
Không nên phủ nhận một sự thật là có những trẻ em có năng khiếu và
những học sinh không có năng khiếu. Tâm lí học hiện đại thừa nhận có sự
khác nhau về năng lực của học sinh, nhưng không cho điều đó là hiện tượng
bẩm sinh và là rào cản không thể vượt qua. Bởi tâm lí học hoạt động học tập
cũng đã chỉ ra rằng những điều kiện bẩm sinh về tài năng chỉ có thể thuộc về
sinh lí học giải phẫu, tức đó chỉ là những tư chất làm cơ sở cho sự phát triển
tài năng, năng khiếu. Mặt khác tài năng phần lớn là do quá trình rèn luyện
thích hợp mà thành và cũng chính quá trình hoạt động của con người đã hình
thành nên tài năng. Một phần năng lực do bẩm sinh, một phần khác do rèn
luyện mà thành ( điều này cũng phù hợp với quan điểm của Mác).
Khi nói về đặc điểm của quá trình sáng tạo nghệ thuật trong đó bao
17
nhớ kết quả cuối cùng còn toàn bộ con đường mà nó đã đi để đến kết quả đó,
đã chuẩn bị cho kết quả đó lúc này nó chưa ý thức được”.
Như vậy trực giác có vai trò quan trọng trong đọc diễn cảm, nó cũng là
một yếu tố có tình quyết định trong việc đọc diễn cảm trong một thời gian
ngắn. Hơn nữa chúng ta có thể khẳng định, những đặc điểm thuộc về tâm lí
cá nhân như năng khiếu, thiên tài không phải hoàn toàn do bẩm sinh mà là
kết quả của một quá trình học tập, hoạt động rèn luyện. Vì thế, có thể dạy và
cần thiết phải dạy cho trẻ ở mọi lứa tuổi biết đọc diễn cảm vì nó giúp các em
hoàn thiện về ngôn ngữ cũng như nhân cách.
1.1.3.2. Cơ sở ngôn ngữ học của đọc diễn cảm
1.1.3.2.1. Cơ sở về âm thanh
* Chính âm
Mục đích của dạy đọc cần hướng tới là đọc diễn cảm và đó cũng chính
là nội dung của luyện đọc thành tiếng. Đọc đúng được thì mới có đọc diễn
cảm, vì vậy đọc đúng trước hết là đọc đúng chính âm. Để dạy đọc đúng
chúng ta cần có hiểu biết về chính âm.
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và
hiệu lực về mặt xã hội. Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu
học, nó liên quan đến vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt. Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp ta xác định nội dung đọc
đúng, đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc.
Để luyện phát âm đúng cho học sinh, trước hết phải giải quyết vấn đề
phương ngữ. Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh vươn đến
một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh. Muốn như
vậy chúng ta phải luyện cho học sinh đọc đúng, hay trong phạm vi giao tiếp
rộng hơn phương ngữ hẹp của mình.
Trong nhiều thập kỉ nay, trong giới ngôn ngữ học có nhiều quan điểm
19
diễn cảm giáo viên không nhất thiết yêu cầu học sinh phải đọc đúng ba âm
quặt lưỡi và hai vần ươu, ưu.
Như vậy, luyện chính âm giúp cho học sinh có một giọng đọc trau truốt
hơn, chuẩn hơn, hay hơn và có thể chấp nhận nhiều chuẩn chính âm hơn. Học
sinh thuộc phương ngữ Bắc Bộ sẽ không buộc phân biệt các cặp phụ âm đầu
ch/tr, d/r/gi, s/x.
* Trọng âm
Là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng). Dựa vào sự phát âm
một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu rõ
hay không rõ, người ta chia các chuỗi lời nói, thành tiếng có trọng âm (là
tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm (tiếng có trọng âm yếu).
Trong âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quan
trọng trong câu. Trọng âm yếu đi với các từ không có hoặc có ít thông tin
mới. Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài những từ quan
trọng trong bài.
Trọng âm không có tác dụng phân biệt các tiếng về ngữ nghĩa mà chỉ
có tác dụng cắt ngữ đoạn và góp phần xác định ý nghĩa ngữ pháp. Loại từ hay
hư từ mang trọng âm yếu. Thực từ mới có trọng âm. Trong câu, mỗi ngữ
đoạn (mà đường ranh giới là chỗ ngắt, nghỉ) được kết thúc bằng một trọng
âm, trừ khi ngữ đoạn kết thúc bằng một ngữ khí từ. Đây là căn cứ quan trọng
để xác định chỗ ngắt nghỉ trong câu văn, câu thơ, cũng là căn cứ để xác định
nhưng chỗ cần luyện ngắt giọng trong bài.
1.1.3.2.2. Ngữ điệu
Trong khi nói về nghệ thuật đọc, người ta thường xác định rằng đó là
nghệ thuật của ngữ điệu. Sự tồn tại của các ngữ điệu đa dạng khác nhau đã
cho phép người ta phân biệt lời nói diễn cảm với lời nói không diễn cảm.
“Người nói cần phải biết sử dụng thành thạo những phương tiện không có