Sử dụng biện pháp trực quan trong dạy học phân môn kể chuyện ở lớp 4 - Pdf 31

“Sử dụng biện pháp trực quan trong dạy học
phân môn Kể chuyện ở lớp 4”

Nguyễn Thị Hương

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỉ 21, thế kỉ của nền
văn minh trí tuệ và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và thông
tin cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các cường quốc.Trong khi đó Việt
Nam chúng ta vẫn xếp vào những nước nghèo và chậm phát triển mặc dù
chúng ta có đầy đủ những điều kiện cần thiết để vươn lên.Vấn đề đặt ra là
phải đào tạo ra một thế hệ người lao động mới có đủ trình độ , năng lực và
phẩm chất để có thể sử dụng triệt để những nguồn lực của đất nước – vai trò
của giáo dục là đặc biệt quan trọng, đây chính là nguồn động lực để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Vì vậy, cần đầu tư cho giáo dục một
cách toàn diện, đúng mức. Trước tiên là bậc Giáo dục Tiểu học vì đây là bậc
học đầu tiên, nền tảng, các em sẽ là người lao động trong thế kỉ mới , sẽ là
những người quyết định việc đất nước ta sánh vai cùng các cường quốc trên
thế giới.
Để các em có thể trở thành chủ nhân thực sự của đất nước thì ngay từ
bậc Tiểu học, các em phải được đào tạo một cách cơ bản tạo cơ sở nền móng
vững chắc cho sự phát triển toàn diện của một con người. Lứa tuổi học sinh
Tiểu học có những đặc điểm tâm sinh lý riêng rất hồn nhiên, ngây thơ, ham

1


thích khám phá những điều mới lạ, hấp dẫn. Đó là những mầm non khỏe
mạnh tràn đầy nhựa sống sẽ trở thành người lao động xã hội chủ nghĩa trong
tương lai. Chính vì lý do trên giáo dục tiểu học ngày càng được đổi mới sao

Vấn đề trực quan đã được rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm
và đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác nhau. Đặc biệt đã có nhiều tài liệu có
giá trị được công bố.
Về mặt lí luận có tác giả “Phan Trọng Ngọ, Dương Triệu Hoa, Lê
Tràng Địch”, trong cuốn “Vấn đề trực quan trong dạy học” .Ngoài ra còn rất
nhiều tác giả khác quan tâm đến vấn đề này.
“Xu hướng phát triển của hệ thống phương tiện kỹ thuật với việc đổi
mới phương pháp dạy học”
Trần Đức Vượng
Thông tin Khoa học giáo dục số 106/2004
“Vấn đề tổ chức xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học ở bậc Tiểu học”
Đào Thái Lai
Tác giả Đàm Hồng Quỳnh đã cho ra đời hai cuốn sách “Hướng dẫn sử
dụng và tự làm thiết bị dạy học môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học” Nxb Giáo
dục năm 1999 và “ Hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Việt ở lớp
1”. Tác giả nêu lên cơ sở khoa học và thực tiễn trong sử dụng và tự làm thiết
bị dạy học, tạo ra khả năng tối ưu trong việc trình bày vấn đề một cách sâu sắc.
Như vậy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn
đề trực quan ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau và đã chỉ ra được tính ưu
việt của trực quan đối với dạy học ở Tiểu học. Trong phạm vi của khóa luận
và thời gian cho phép tôi chỉ tìm hiểu “Sử dụng biện pháp trực quan trong dạy
học phân môn Kể chuyện ở lớp 4”, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng
trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3


3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học sử dụng đồ dùng trực quan trong phân môn Kể

7. Dự kiến kết cấu khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc sử dụng biện pháp trực
quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4
Chương 2: Hướng dẫn sử dụng một số đồ dùng trực quan trong dạy học
phân môn Kể chuyện ở lớp 4
Chương 3: Thể nghiệm
Phần kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo

5


NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
DỤNG BIỆN PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4

1.1. Cơ sở lý luận về trực quan và phương tiện trực quan trong
dạy học
1.1.1. Các khái niệm về trực quan
Theo từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004.
- Trực quan là những vật dụng cụ thể hay ngôn ngữ cử chỉ làm cho học
sinh có được những hình ảnh cụ thể về những điều được học.
- Phương tiện trực quan là những đồ dùng trong dạy học để cho học
sinh quan sát tiếp thu bài học đạt được mục đích dạy học.
- Đồ dùng dạy học được hiểu là những dụng cụ trực quan để giáo viên

(như máy ảnh) hình ảnh người, vật, phong cảnh sau đó in, phóng trên giấy
ảnh.
- Bản đồ: bản đồ là sự thể hiện thu nhỏ quy ước của bề mặt trái đất lên
mặt phẳng, xây dựng trên cơ sở toán học, phản ánh sự phân bố,trạng thái và
mối quan hệ tương quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội loài người.
- Mô hình: mô hình là những vật cùng hình dạng, có thể thu nhỏ và
phóng to nhằm mô phỏng hình dạng, cấu tạo, hoạt động của vật gốc, để nhằm
nghiên cứu, học tập.
- Vật mẫu: vật mẫu là những vật sẵn có trong tự nhiên, trong đời sống
xã hội được dùng nguyên dạng (con cá, con ve, củ gừng, múi bưởi…. ) hoặc
đã được xử lý (mẫu ngâm, mẫu nhồi, mẫu ép khô…. )
- Băng ghi âm: băng ghi âm là loại băng mềm bằng chất dẻo có phủ
một lớp mỏng chất từ tính, ghi lại âm thanh (lời nói, ca nhạc, tiếng động…)và
phát lại nội dung đó qua máy ghi âm.

7


- Băng ghi hình: băng ghi hình là loại băng mềm bằng chất dẻo có phủ
một lớp mỏng chất từ tính, ghi lại đồng thời hình ảnh và âm thanh của các sự
vật, hiện tượng trong thiên nhiên, trong đời sống xã hội và phát lại nội dung
đó qua máy thu hình (ti vi).
- Phim đèn chiếu: phim đèn chiếu là loại hình phim ghi hình trên phim
bằng phương pháp chụp ảnh (trên phim dương bản) hoặc vẽ, viết trực tiếp
(trên bản trong, trên giấy bóng kính, giấy can,…. ) được chiếu lên màn ảnh
hoặc quan sát trực tiếp bằng cách nhìn qua ống nhòm.
- Ngoài ra trong phân môn Kể chuyện còn sử dụng một loại hình trực
quan được dùng phổ biến từ bậc Mẫu giáo, đó là trực quan quy ước. Trực
quan quy ước được hiểu là việc giáo viên đưa ra bất kì một vật thể nào đó và
hướng dẫn HS tưởng tượng ra một sự vật tương ứng có trong truyện kể.

phát triển tư duy và rèn kỹ năng nói cho học sinh. Phân môn Kể chuyện có
nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện của học sinh, phát triển ngôn
ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe – nói. Do đó trong quá trình sử dụng đồ dùng
trực quan, giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh năng lực quan sát, năng lực
ghi nhớ, tưởng tượng, phân tích, tổng hợp để từ việc quan sát đó học sinh kể
được câu chuyện bằng ngôn ngữ của mình một cách sáng tạo, đồng thời rèn
cho học sinh kĩ năng nói trước đông người dưới dạng độc thoại thành đoạn
bài theo phong cách nghệ thuật.
1.1.3.4. Giáo dục nhân cách cho học sinh
Phương tiện trực quan trong phân môn Kể chuyện có tác động trực tiếp
và mạnh mẽ đến sự hình thành nhân cách của học sinh Tiểu học thông qua hệ
thống tranh ảnh, vật thật, vật mẫu, nhất là qua băng ghi âm, ghi hình…. Các
em được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy những câu chuyện kể hay, chuẩn xác
với giọng trầm bổng, tha thiết giúp các em cảm nhận được sự hấp dẫn, cảm
động, giàu ý nghĩa của câu chuyện, giúp các em rút ra được những bài học
nhận thức thấm thía.
Như vậy sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Kể
chuyện góp phần bồi dưỡng cho học sinh về nhận thức, tình cảm, đạo đức
hình thành phẩm chất con người mới, con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

9


1.1.3.5. Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh
Như ta đã biết, hứng thú là trạng thái được đặc trưng bởi khát vọng học
thật sự nỗ lực, tự nguyện trong quá trình nghiên cứu, khám phá, nắm vững tri
thức. Hứng thú học tập là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
nhận thức của học sinh. Vì thế, để kích thích hứng thú học sinh cần phải sử
dụng các đồ dùng trực quan trong dạy học, giúp các em có hứng thú khám phá
tri thức từ những đồ dùng trực quan.

sử dụng đồ dùng trực quan sẽ có tác dụng minh hoạ cho lời giảng giải, lời kể
của giáo viên, bổ sung thêm những thông tin, hình ảnh mà giáo viên không
thể trình bày được.
+ Chức năng thông tin: đồ dùng trực quan đóng vai trò chính trong việc
cung cấp những nội dung thông tin để học sinh học tập, thực hành. Chẳng hạn
với kiểu bài nghe- kể lại câu chuyện vừa nghe thầy(cô) kể trên lớp thì câu
chuyện được trình bày thành tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong sách giáo
khoa sẽ giúp các em nhanh chóng nắm được nội dung chính của câu chuyện
để từ đó các em biết dùng ngôn ngữ của mình kể lại câu chuyện đầy đủ, hấp
dẫn.
+ Chức năng định hướng: những đồ dùng trực quan như tranh, ảnh
minh hoạ, máy ghi âm…. chính là những tài liệu vật chất có tính tiền đề gợi
mở, định hướng, tác động vào giác quan của học sinh, để lại một ấn tưởng rất
sâu đậm. Từ cái nhìn cụ thể trên tranh,ảnh minh hoạ học sinh lại vẽ ra những
bức tranh minh hoạ trong đầu mình- tranh ảnh minh hoạ thực sự đã góp phần
kích thích, định hướng cho tưởng tượng của các em bay bổng, bay xa.
+ Chức năng bồi dưỡng: bồi dưỡng vốn sống, tình cảm, thẩm mỹ, năng
lực trí tuệ và tư tưởng cho học sinh thông qua đồ dùng trực quan.
Qua đó chúng ta thấy rằng đồ dùng trực quan có vị trí vô cùng quan
trọng trong dạy học phân môn Kể chuyện ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói
riêng. Sử dụng đồ dùng trực quan giúp cho giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn. Tuy
vậy, cũng nên tuỳ từng câu chuyện cụ thể mà lựa chọn loại hình trực quan cho
phù hợp.

11


1.1.5. Cơ sở giáo dục học
Quan niệm trực quan trong dạy học đã có từ ngàn xưa và đạt đến điểm
đỉnh trong lý luận dạy học của các nhà sư phạm J. A. Cômenxky (1592 –

chú ý thấp, trí nhớ kém bền vững chủ yếu là tư duy cụ thể phát triển, tư duy
trừu tượng bước đầu hình thành và phát triển nhưng còn yếu. Trong giai đoạn
này học sinh luôn hiếu động, thích các đồ chơi mới lạ, hấp dẫn với nhiều màu
sắc sặc sỡ nhưng lại rất nhanh chán. Đối với trẻ những điều mới lạ thường
kích thích các em tò mò, muốn tìm hiểu khám phá. Nhận thức của các em vẫn
mang tính cảm tính đi từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ tư duy cụ thể đến tư
duy trừu tượng. Do vậy phương pháp dạy học trực quan thường được các thầy
cô sử dụng trong nhiều tiết học của bậc Tiểu học. Trên cơ sở tìm hiểu tâm lý
học sinh Tiểu học, có thể chia học sinh Tiểu học thành 2 nhóm lớp:
+ Nhóm lớp 1, 2, 3: Bao gồm các em từ 6 đến 9 tuổi.
+ Nhóm lớp 4, 5 : Bao gồm các em từ 9 đến 11 tuổi.
* Nhóm lớp 4,5: Ở giai đoạn này, tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển,
tư duy trừu tượng đang dần dần hình thành và chiếm ưu thế, nghĩa là học sinh
có khả năng thực hiện các thao tác trí tuệ với ngôn ngữ và các loại kí hiệu của
các môn học để tiếp thu tri thức. Các em đã biết quan sát tìm ra các dấu hiệu
đặc trưng bản chất của các sự vật hiện tượng, biết phân biệt chi tiết các dấu
hiệu để đi đến so sánh tổng hợp, có khả năng tri giác các sự vật như một chỉnh
thể thống nhất, có mục đích và phương hướng rõ ràng. Khi khái quát hoá, các
em đã biết dựa vào dấu hiệu bản chất bên trong để tìm ra khái niệm, quy luật.
Các em đã biết quan sát các sự vật hiện tượng theo diễn biến, vận động, từ
một hiện tượng các em có thể biết nhiều nguyên nhân. Bước đầu các em có
khả năng lập luận trong phán đoán của mình, không chỉ xác lập mối quan hệ
giữa nguyên nhân đến kết quả mà còn xác lập được mối quan hệ từ kết quả
đến nguyên nhân.

13


Dạy học trực quan phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học
sinh Tiểu học và phù hợp với phương pháp dạy học tích cực hiện nay. Vì vậy,

được rất nhiều thành tích về học tập cũng như các hoạt động khác. Đội ngũ
cán bộ và giáo viên của trường đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, số lượng
học sinh của trường ngày càng đông. Tuy nhiên cơ sở vật chất của trường vẫn
chưa đáp ứng được số phòng học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp. Nhà trường
chưa có đủ các phòng học chức năng theo quy định. Vì vậy việc học sinh
được tiếp xúc với các thiết bị dạy học hiện đại còn hạn chế, việc sử dụng các
phương tiện trực quan trong dạy học cũng không được chú trọng nhiều. Khi
dự giờ một số tiết giảng dạy phân môn Kể chuyện ở khối lớp 4 tôi có thu
được một số kết quả sau:
1.2.1. Sự chuẩn bị của giáo viên
Một thực tế cho thấy giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 4 nắm rất
chắc về quy trình giảng dạy của ba kiểu bài kể chuyện lớp 4. Tất cả các giáo
viên đều có sự chuẩn bị chu đáo về giáo án giảng dạy và được nhà trường
trang bị đầy đủ về sách giáo khoa, sách giáo viên. Tuy nhiên, giáo viên chỉ
chuẩn bị trên cơ sở lý thuyết, giáo viên nắm rõ quy trình, nắm rõ nội dung câu
chuyện nhưng một số giáo viên không hoàn toàn thuộc truyện mà khi kể phải
cầm văn bản truyện, và đặc biệt sự chuẩn bị về phương tiện trực quan không
được chu đáo. Mặc dù ở lớp 4 kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc và kiểu bài
kể chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia ít sử dụng tới các phương tiên trực
quan như tranh, ảnh minh hoạ, máy ghi âm, máy ghi hình…. . Tuy nhiên kiểu
bài kể chuyện đã nghe thầy(cô) kể trên lớp, do được trình bày thành tranh
kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong sách giáo khoa, nên giáo viên chỉ dựa vào
những bức tranh trong sách giáo khoa làm phương tiện trực quan khi yêu cầu
học sinh quan sát hình ảnh trong sách chứ rất ít thầy(cô) phóng to hình ảnh
này. Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy đã

15


được khai thác rất nhiều và việc lựa chọn các bài giáo án điện tử để giảng dạy

đông, nếu không được trang bị về loa, học sinh dưới cuối lớp sẽ không nghe
thấy. Một hạn chế nữa đó là học sinh chỉ nghe câu chuyện chứ không được
vừa nghe vừa quan sát cử chỉ, điệu bộ của giáo viên, lạm dụng băng ghi âm sẽ
dẫn tới tình trạng giáo viên không nhớ câu chuyện.
Từ đó giáo viên cần có sự kết hợp hài hoà, đúng mức loại hình trực
quan dùng máy ghi âm.
1.2.2. Thực tiễn tiếp nhận của học sinh
Qua khảo sát dự giờ ở trường tiểu học Lưu Quý An, chúng tôi nhận
thấy một tình trạng chung mà học sinh lớp 4 thường mắc phải trong phân môn
Kể chuyện đó là: học sinh thường không nhớ câu chuyện, hay bỏ sót những
chi tiết chính của câu chuyện. Kĩ năng kể chuyện của các em còn yếu, các em
kể mà chưa thuộc truyện, diễn đạt còn lủng củng. Đối với kiểu bài kể chuyện
được chứng kiến hoặc tham gia thì học sinh chưa biết cách sắp xếp theo trình
tự câu chuyện, thời gian diễn ra trong câu chuyện còn lộn xộn, kể chuyện
rườm rà, chưa hay. Kĩ năng nói của các em chưa rõ ràng, còn ấp úng, nhiều
câu cụt. Khi nghe giáo viên kể chuyện, học sinh phân biệt rất tốt giọng của
các nhân vật trong truyện, tuy nhiên các em chưa biết cách thể hiện giọng kể
của các nhân vật, đôi khi còn lẫn giữa giọng của nhân vật này với nhân vật
kia.
1.2.3. Thực tiễn dạy học kể chuyện ở lớp 4
* Đối với kiểu bài nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe thầy, cô kể trên lớp.
- Trong dạy học kiểu bài này, giáo viên còn bám quá sát văn bản khi
kể, chưa sử dụng câu hỏi gợi ý giúp học sinh đặt lời thuyết minh cho tranh
cũng như giúp học sinh kể lại câu chuyện đúng ngữ điệu, giọng kể của nhân
vật.
* Đối với kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc

17




đặc điểm nhận thức của các em thì việc sử dụng các phương tiện trực quan sẽ
góp phần nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu
quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho
các em. Phát huy hết vai trò của đồ dùng trực quan trong dạy học là bước tiến
quan trọng của sự thành công trong giáo dục.

19


Chương 2. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG MỘT SỐ ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN
TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4

Để sử dụng có hiệu quả các đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn
Kể chuyện ở lớp 4, trước hết giáo viên cần nắm được mục tiêu, nhiệm vụ của
phân môn này đồng thời nắm được khái quát về chương trình và nội dung của
phân môn này để từ đó có thể lựa chọn các đồ dùng trực quan phù hợp với
từng bài.
2.1. Chương trình phân môn Kể chuyện ở lớp 4
2.1.1. Mục tiêu của phân môn Kể chuyện ở lớp 4
Phân môn Kể chuyện giúp học sinh:
- Củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp
1, 2, 3 đồng thời hình thành những kĩ năng mới về kể chuyện.
- Mở rộng hiểu biết, góp phần hình thành nhân cách con người mới.
2.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện lớp 4
* Phát triển kĩ năng nghe và nói cho học sinh bao gồm:
- Kĩ năng nghe:
+ Nghe trong hội thoại: nhận ra thái độ tình cảm của người nói qua nội
dung bài nói, ngữ điệu, cử chỉ, nét mặt.
+ Nghe hiểu văn bản: nghe các tác phẩm văn học dân gian, các bài thơ,

2

tiên Ốc” và kể lại
3

Kể một câu chuyện đã được nghe, được đọc về
lòng nhân hậu

Măng mọc thẳng

4

Kể chuyện “ Một nhà thơ chân chính”

5

Kể một câu chuyện mà em đã được nghe, được
đọc về tính trung thực

6

Kể một câu chuyện về lòng tự trọng

Trên đôi cánh ước 7

Kể chuyện “ Lời ước dưới trăng”



Kể một câu chuyện về những ước mơ đẹp hoặc

Tiếng sáo diều

14

Kể chuyện “ Búp bê của ai?”

15

Kể chuyện đã nghe, đã đọc: Kể một câu chuyện
có nhân vật là những đồ chơi của trẻ em hoặc
những con vật gần gũi với em

16

Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia: Kể
một câu chuyện có liên quan đến đồ chơi của
em hoặc của các bạn xung quanh

Người ta là hoa đất

17

Kể chuyện “ Một phát minh nho nhỏ”

19

Kể chuyện “ Bác đánh cá và gã hung thần”

20



cảm

Kể một câu chuyện nói về lòng dũng cảm

26

22


27

Kể một câu chuyện về lòng dũng cảm mà em
được chứng kiến hoặc tham gia

Khám phá thế giới

29

Kể chuyện “ Đôi cánh của ngựa trắng”

30

Kể chuyện đã nghe, đã đọc: Kể một câu chuyện
về du lịch hay thám hiểm

31

Kể một câu chuyện về một cuộc du lịch hay
cắm trại mà em được tham gia



Ví dụ: Dạy bài kể chuyện “ Những chú bé không chết” của Quy-ra-xkêvích, đề bài yêu cầu : Dựa vào các tranh dưới đây, kể lại từng đoạn của câu
chuyện mới được nghe cô giáo (thầy giáo) kể. Sách giáo khoa đã vẽ bốn hình
minh hoạ cho nội dung câu chuyện. Song giáo viên cần hướng dẫn học sinh
quan sát từng bức tranh, phân tích chi tiết của từng bức tranh sau khi đã kể
cho học sinh nghe câu chuyện để từ việc phân tích tranh minh hoạ kết hợp với
việc nghe giáo viên kể chuyện, học sinh sẽ nắm rõ được nội dung chính của
truyện, nắm được tình tiết chính của từng bức tranh. Từ đó giúp học sinh biết
kể lại từng đoạn của câu chuyện một cách đầy đủ và sáng tạo bằng ngôn ngữ
của mình. Nếu giáo viên chỉ đơn thuần để học sinh nghe mà không hướng dẫn
học sinh dựa vào tranh minh hoạ, hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích
tranh thì học sinh sẽ rất khó nhớ được nội dung của câu chuyện. Giáo viên sẽ
phải kể đi kể lại nhiều lần câu chuyện đó.
Đủ: đủ là có số lượng đồ dùng trực quan cần thiết để hình thành kiến
thức. Giáo viên cần xác định rõ mỗi bài học cần bao nhiêu đồ dùng trực quan
là đủ, căn cứ vào nội dung từng bài cụ thể ở từng kiểu bài, căn cứ vào trình
độ, tâm lý của lứa tuổi học sinh, căn cứ vào đặc điểm các vùng miền khác
nhau và các điều kiện cho phép để lựa chọn các loại hình trực quan cho phù
hợp. Có như vậy đồ dùng trực quan mới phát huy được hết tác dụng trong quá
trình giảng dạy.
Đối với học sinh lớp 4, tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừu
tượng đang dần dần hình thành và chiếm ưu thế. Do đó khi quan sát một bức
tranh, bức ảnh các em đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng, bản chất của các
sự vật hiện tượng, biết phân biệt chi tiết. Vì thế, khi sử dụng đồ dùng dạy học
giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết cách khai thác sâu vào chi tiết quan
trọng. Có như vậy mới phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status