Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Quá trình toàn cầu hóa làm tăng thêm mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền
kinh tế trên thế giới. Trong lĩnh vực tài chính, NH cũng không ngoại lệ. Khủng
hoảng tín dụng đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế. Thời gian qua,
cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ là khởi nguồn cho cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu. Các quốc gia phải thực hiện cải cách, xây dựng hệ thống quản lý tài chính
và cơ chế phòng ngừa rủi ro tài chính quốc tế, công khai, minh bạch trong hoạt
động NH để tránh những nguy cơ biến động mạnh của thị trường tài chính, hoạt
động tuân theo quy luật chung của thị trường.
Trong kinh doanh NH tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ
trọng chủ yếu trong thu nhập của các NH. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn
rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống
thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn
chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ NH chưa cao…
NHTMCP Á Châu là một trong những NH hàng đầu trong Khối NHTMCP về
mọi mặt, tình hình kiểm soát tín dụng thời gian qua cũng được xem là khá tốt. Tuy
nhiên trong tình hình hiện nay, việc hướng đến các tiêu chuẩn quốc tế để đảm
bảo hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, là việc nên làm đối với bất kỳ NH
nào, và ACB cũng không ngoại lệ. Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, sau thời
gian thực tập tại Phòng giao dịch Lý Thái Tổ của Ngân hàng TMCP Á Châu Chi
nhánh Đà Nẵng, tôi đã quyết định chọn đề tài: "Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đà Nẵng" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Mục đích nghiên của đề tài:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong quản trị RRTD tại
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, khóa luận được thiết kế thành ba chương,
cụ thể như sau:
Chương I: Lý luận chung về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng RRTD tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đà
Nẵng giai đoạn 2009 – 2011.
Chương III: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á
Châu Chi nhánh Đà Nẵng.
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 2
SVTH: LÊ TRUNG KIỆT
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Do thời gian thực tập ngắn, bản thân còn nhiều hạn chế trong kiến thức, cùng
với việc thiếu kinh nghiệm làm việc thực tế, vì vậy nội dung khóa luận không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
thầy cô giáo để khóa luận báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới anh Trần Quốc Toản GĐ PGD Lý Thái Tổ
ACB Chi nhánh Đà Nẵng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập này.
Và đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Hòa Nhân đã tận tình
hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 4
SVTH: LÊ TRUNG KIỆT
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu
như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người
đi vay và người cho vay trong một thời hạn nhất định. Quan hệ tín dụng dựa trên
nền tảng của sự tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể và trên nguyên tắc có hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”.
1.1.2.2 Phân loại tín dụng:
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên
những tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học là tiền đề để thiết
lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả QTRRTD. Tùy vào cách
tiếp cận mà tín dụng NH được chia thành:
a) Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1 năm).
Tín dụng ngắn hạn được sử dụng để bổ sung vốn lưu động và các nhu cầu thiếu hụt
tạm thời về vốn của các chủ thể vay vốn.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm,
thiết kế và xây dựng cho mình một quy trình tín dụng riêng. Hiện nay, quy trình tín
dụng cơ bản được chia thành những giai đoạn sau:
a) Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng:
Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, nó được
thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng (CBTD) tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu
vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm
cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay.
b) Phân tích tín dụng:
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng
về sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả vốn gốc và lãi vay. Mục tiêu của phân tích
tín dụng là tìm kiếm những tình huống cụ thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên
lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa
và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra.
c) Quyết định và ký hợp đồng tín dụng:
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với 1 hồ sơ vay
vốn của khách hàng. Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó
ảnh hưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động
tín dụng của ngân hàng. Có 2 loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này:
Quyết định chấp thuận cho vay đối với 1 khách hàng không tốt.
Từ chối cho vay đối với 1 khách hàng tốt.
Cả 2 loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng. Loại sai
lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là
thiệt hại về tài chính. Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ
hội cho vay.
d) Giải ngân:
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 6
Nguồn và nơi cung
Nhiệm vụ của NH ở
Kết quả sau khi kết thúc
Các giai đoạn
cấp thông tin
mỗi giai đoạn
giai đoạn
1. Lập HS đề
- Khách hàng đi vay
- Tiếp xúc, hướng dẫn
- Hoàn thành HS chuyển
nghị cấp TD
2. Phân tích
cung cấp.
- Hồ sơ từ giai đoạn 1
lập hồ sơ cho KH.
- Thẩm định các mặt
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 7
SVTH: LÊ TRUNG KIỆT
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
4. Giải ngân
- Các thông tin bổ
được giao quyền phán
pháp lý như ký HĐTD và
sung khác.
- Quyết định cho vay
quyết.
- Thẩm định các
các hợp đồng khác.
- Chuyển tiền vào TKTG
- Các chứng từ làm cơ
- Các thông tin khác
hạng, thanh lý TD.
TD.
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng:
1.2.1 Rủi ro và phân loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng:
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng:
Kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi. Kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN làm đa dạng hoá các thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong hoạt
động của các thành phần này và thúc đẩy sự cạnh tranh lẫn nhau một cách lành
mạnh. Rủi ro tuy là sự bất trắc gây thiệt hại không mong đợi song lại là hiện tượng
đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình
cạnh tranh. Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong
phát triển kinh tế. Rủi ro vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động
kinh tế không có hiệu quả. Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên của các
doanh nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, thích nghi của các doanh nghiệp,
tạo xu hướng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế.
Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng được định nghĩa như sau: “Là những tác
động tiềm năng có tính tiêu cực đến tài sản hoặc giá trị của ngân hàng phát sịnh từ
một vài tiến trình hiện tại hoặc sự kiện tương lai”. Rủi ro trong kinh doanh ngân
hàng không đồng nghĩa với rủi ro tài chính (rủi ro tài chính là xác suất mà thu nhập
của khoản đầu tư không đat như mong đợi), rủi ro tài chính là một dạng rủi ro chủ
yếu của ngân hàng.
1.2.1.2 Phân loại rủi ro:
Căn cứ vào tác động: Rủi ro có thể phân thành 2 loại cơ bản sau:
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 8
xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Hiện nay trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt
Nam, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chủ yếu nhất, mang lại 60 – 80% lợi
nhuận cho các Ngân hàng. Mặc dù trước khi quyết định cho vay Ngân hàng đã trải
qua các khâu: thu thập, xử lý, phân tích và thẩm định kĩ khả năng trả nợ của khách
hàng, nhưng vẫn không loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng, bởi vì bất kỳ một
khoản cho vay nào cũng đều tiềm ẩn những rủi ro nhất định vì thế rủi ro tín dụng là
loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất và thường mang lại hậu quả nghiêm trọng nhất
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 9
SVTH: LÊ TRUNG KIỆT
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
cho các ngân hàng. Có thể nói rủi ro tín dụng là biểu hiện tập trung nhất của sự
đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro (Return –Rick Trade - Off), ngân hàng biết rằng
cho vay là sẽ gặp phải rủi ro. Vậy, tại sao ngân hàng lại cho vay để rồi phải lo quản
lý rủi ro? Tương tự, trong cuộc sống ai cũng biết rằng chơi hụi là rủi ro, thế nhưng
tại sao nhiều người vẫn cứ chơi hụi? Có ít nhất hai lý do để giải thích điều này.
- Thứ nhất, do rủi ro là sự không chắc chắn. Nếu biết chắc chắn cho vay sẽ mất
vốn thì ngân hàng đã không cho vay.
- Thứ hai, do rủi ro vừa tiềm ẩn thiệt hại vừa tiềm ẩn lợi nhuận. Ngân hàng cho
vay là kỳ vọng tìm kiếm lợi nhuận nếu biết chắc chắn cho vay không có lợi nhuận
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
TMCP Đại Nam, Ngân hàng TMCP Gia Định với tổng số tiền gần 6.000 tỷ đồng và
32,6 triệu USD, bản thân các NHTM sẽ xem đây như là một bài học nhớ đời về rủi
ro tín dụng.
b) Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk):
Là khả năng Ngân hàng sẽ không có đủ lượng tiền mặt hoặc khả năng vay
mượn từ các TCTD khác để đáp ứng nhu cầu rút của các khoản tiền gửi, cho vay
hoặc các nhu cầu về tiền mặt khác. Rủi ro nảy sinh do những nguyên nhân:
- Do mất cân bằng giữa nguồn và sử dụng vốn, NH dùng VHĐ ngắn hạn để cho
vay trung, dài hạn quá mức dẫn đến thiếu hụt khả năng chi trả tạm thời cho người
gửi tiền.
- Khi đến kỳ hạn hoàn trả, các khoản tín dụng của NH khó thu hồi được, người
gửi tiền và người đi vay thườg dùng hết HMTD hoặc rút hết số dư tiền gửi vì sợ có
thể không rút được.
Trong điều kiện hiện nay, khi thị trường tiền tệ và thị trường tài chính phát
triển cao thì việc tạo ra các dòng tiền bằng cách huy động vốn ngắn hạn hoặc bán
các TS để đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngày càng trở nên dễ dàng hơn. Mà vấn đề
thực sự là chi phí: Hoặc phải trả một chi phí lãi vay cao cho khoản vốn huy động
hoặc phải bán các TS với giá thấp, tức phải gánh chụi một khoản lỗ. Vì vậy bản chất
của rủi ro thanh khoản chính là việc Ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản
với chi phí cao vượt quá khả năng chụi đựng của Ngân hàng, dẫn đến giảm khả
năng sinh lời hoặc nguy hiểm hơn dẫn đến khả năng vỡ nợ.
c) Rủi ro lãi suất (Interest rate risk):
Là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất, giữa lãi suất
cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm lợi
nhuận hoặc giá trị của ngân hàng. Như vậy rủi ro lãi suất là sự kết hợp đồng thời
của 2 nhân tố sau:
- Rủi ro thị trường có những liên quan chặt chẽ với rủi ro lãi suất, cổ tức, tỷ
giá…
Rủi ro thị trường xuất hiện khi NH giữ vị thế trường (Long Position) hoặc vị
thế đoản (Short Position) mà không sử dụng các biện pháp phòng ngừa, bảo hộ rủi
ro. Vị thế trường là vị thế đầu cơ giá lên cũng tức là NH sẽ bị thiệt hại khi giá
xuống, ngược lại vị thế đoản là vị thế đầu cơ giá xuống NH sẽ gặp rủi ro khi giá lên.
Để phòng ngừa và bảo hộ rủi ro thị trường thì phải kiểm soát vị thế giới hạn, đây là
quan tâm của không chỉ những chủ thể quản trị NH mà của cả cơ quan điều tiết.
Mặt khác phát triển các mô hình đo lường rủi ro thị trường, sử dụng hợp lý các công
cụ phái sinh.
e) Rủi ro thu nhập (Earnings Rick):
Là khả năng tỷ suất lợi nhuận của Tài sản, vốn chủ sở hữu hoặc lợi nhuận
ròng của một ngân hàng có thể bị giảm đi.
Thực tế cho thấy, lợi nhuận và rủi ro là 2 mặt của một vấn đề: muốn có lợi
nhuận, phải chấp nhận rủi ro. Nếu không chấp nhận rủi ro, sẽ không bao giờ thu
được lợi nhuận. Sự đối mặt và chịu tác động của rủi ro có thể ảnh hưởng xấu tới
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 12
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
ngân hàng, thậm chí bị phá sản và thải loại ra khỏi thị trường. Đối tượng kinh doanh
dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 13
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
- Tổng dư nợ: Là số tiền tính đến một thời điểm nào đó Ngân hàng cho khách
hàng vay nhưng chưa thu hồi lại được. Chỉ tiêu này ngân hàng cần duy trì sao
cho càng thấp càng tốt.
b) Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ:
- Nợ xấu: Là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc
Điều 7 Quy định này. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng
và chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng, hiện nay theo mức độ cho phép của
Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là dưới 3%, trong đó tỷ lệ
nợ khó đòi trong tổng nợ quá hạn thấp thì được coi là tín dụng có chất lượng tốt.
Nghĩa là trong 100 đồng Dư nợ, có dưới 3 đồng nợ xấu là tỉ lệ chấp nhận được
Hay nói cách khác là tổng dự phòng đã trích lập, bao gồm: dự phòng cụ thể và dự
phòng chung. Nếu Ngân hàng trích lập dự phòng nhiều thì chứng tỏ Ngân hàng
đang có nhiều khoản nợ quá hạn (từ nhóm 2 đến nhóm 5), vì thế nếu chỉ tiêu này
cao chứng tỏ Ngân hàng đang gặp phải rủi ro vì phải trích lập dự phòng nhiều cho
các khoản vay làm giảm lợi nhuận.
c) Tỷ lệ dự phòng/Tổng dư nợ:
f) Tỷ lệ xóa nợ ròng/Tổng dư nợ:
Là tỷ lệ giữa số tiền mà Ngân hàng phải thực hiện xóa nợ cho khách hàng, do
khách hàng không thể trả được nợ cho Ngân hàng (quá 3 năm) hoặc do khách hàng
đã mất và không có ai, cũng như Tài sản để thu nợ.
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng:
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro:
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có
hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tối thiểu hóa những tổn thất, mất
mát và tác động bất lợi của rủi ro.
Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro:
- Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro. Dự đoán rủi ro có
thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao…Đồng thời,
tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể
cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể đạt được.
- Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro,
phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ
thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một
cách nghiêm túc.
- Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng
chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện
giao dịch, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn
thiện hệ thống quản trị rủi ro.
1.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng:
Trong công tác quản trị rủi ro, cần thiết phải có một hệ thống đo lường RRTD
nhằm:
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 15
KIỆT
quốc gia. Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
- Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ
của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán
thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán …Sau đó cần phân tích tình
hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính.
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để NH cấp tín dụng và là
nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho NH.
- Các điều kiện (Conditions): NH quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín
dụng theo từng thời kỳ.
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 16
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
- Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp,
quy chế hoạt động đến khả năng KH đáp ứng các tiêu chuẩn của NH.
Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ
chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ
phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng
1.3.2.2 Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng:
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng mô hình định lượng để lượng
hóa được rủi ro và dự báo những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng.
Các yếu tố liên quan đến quyết định cho vay của NH bao gồm:
- Các yếu tố liên quan đến người vay: Uy tín trả nợ, cơ cấu vốn của KH, mức độ
biến động của thu nhập, Tài sản đảm bảo.
- Các yếu tố liên quan đến thị trường: Chu kỳ kinh tế, mức lãi suất: mức lãi suất
càng cao thường gắn với mức độ rủi ro cao.
b) Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng cho mô hình điểm tín
dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ
thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cốđịnh, số tài khoản cá nhân, thời gian công
tác. Sau đây là những hạng mục và điểm thường được sử dụng ở các NH Mỹ.
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 18
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
KH có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục nêu trên là 43 điểm, thấp nhất
là 9 điểm. Giả sử NH biết mức 28 điểm là ranh giới giữa KH có tín dụng tốt và KH
có tín dụng xấu, từ đó NH hình thành khung chính sách tín dụng theo mô hình điểm
như sau:
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
nhân RRTD, từ đó nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống rủi ro.
1.3.3.2 Tính toán, cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chụi đựng tổn thất
khi sảy ra rủi ro:
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 20
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích đánh giá mức độ rủi ro
dựa trên các tiêu chuẩn được đặt ra.
a) Đánh giá rủi ro khách hàng vay:
- Hiệp ước Basel 2 cho phép NH lựa chọn giữa “đánh giá tiêu chuẩn” và “xếp
loại nội bộ”. Về cơ bản có 2 công cụ là xếp loại tín dụng (Credit rating) đối với
KHDN và chấm điểm tín dụng (Credit scoring) đối với KHCN. Về bản chất cả 2
công cụ đều dùng để xếp loại tín dụng.
+ Chấm điểm tín dụng chỉ áp dụng trong hệ thống NH: Để đánh giá mức độ
RRTD đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và cá nhân. Chấm điểm tín dụng
chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính, các thông tin cần thiết trong Giấy đề nghị
vay vốn cùng với các thông tin khác về KH do NH thu thập được nhập vào máy
tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để phân tích, xử lý bằng phần mềm cho
điểm. Kết quả chỉ ra mức độ RRTD của người vay. Hiệu quả kỹ thuật này cao, giúp
doanh nghiệp tại thời điểm.
b) Tính toán tổn thất tín dụng: Theo Basel 2, các NH sử dụng hệ thống cơ sở
dữ liệu nội bộ để đánh giá RRTD, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả
năng tổn thất tín dụng:
Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức sau:
EL = PD x EAD x LGD
(1.4)
EL: Expected Loss: Tổn thất tín dụng ước tính
PD: Probability of Default: Xác xuất không trả được nợ
EAD: Exposure at Default: Tổng dư nợ của KH tại thời điểm không trả được
nợ
LGD: Loss Given Default: Tỷ trọng tổn thất ước tính
* PD: Để tính toán nợ trong vòng 1 năm của khách hàng, ngân hàng phải căn
cứ trên số liệu dư nợ của khách trong vòng ít nhất là 5 năm, bao gồm các khoản nợ
đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được, dữ liệu được phân
thành 3 nhóm sau:
- Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng
như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng.
- Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng
nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của
ngành…
- Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả
năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi…
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính xác
xuất không trả được nợ của khách hàng.
* EAD: Đối với các khoản vay có kỳ hạn, việc xác định EAD là dễ dàng. Tuy
nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng thì lại khá phức tạp. Theo thống kê
của Basel thì tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút
Số tiền có thể thu hồi gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền
thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố.
LGD = 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được
Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng thường rất cao hoặc rất thấp nên không
thể tính bình quân. Hai yếu tố giữ vai trò quan trọng trong quyết định khả năng thu
hồi vốn khi khách hàng không trả được nợ là tài sản đảm bảo của khoản vay và cơ
cấu tài sản của khách hàng. Ba phương pháp tính LGD là:
- Tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường: Sử dụng khi các khoản tín dụng có thể
được mua bán trên thị trường. Ngân hàng có thể xác định tỷ trọng tổn thất của một
khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đó 1 thời gian ngắn sau khi nó được xếp
vào hạng không trả được nợ. Giá này được tính trên cơ sở ước tính của thị trường
bằng phương pháp hiện tại hoá tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản
vay trong tương lai.
- Tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụng không trả đượcnợ.
Ngân hàng sẽước tính các luồng tiền tương lai, khoản thời gian dự kiến thu hồi
GVHD: TS.NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 23
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
được luồng tiền và chiết khấu chúng. Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là
vô cùng khó khăn.
KIỆT
SVTH: LÊ TRUNG
Apr. 5
BẢN THẢO KHÓA LUẬN: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
mức thiệt hại. Hoặc với xác suất rủi ro quá cao, NH né tránh rủi ro bằng cách hạn
chế hoặc từ chối cấp tín dụng
- Với những khoản vay còn lại, khi đó các công cụ phòng chống rủi ro đặc biệt
hữu hiệu để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro cũng như
tổn thất. Các biện pháp bao gồm: ngăn ngừa rủi ro, bán nợ, phân tán rủi ro, và quản
trị rủi ro thông qua công cụ phái sinh.
d) Tài trợ rủi ro:
- Theo công bố của Ủy ban Basel, các NHTM phải thường xuyên dự trữ các
nguồn quỹ dự phòng cần thiết, sẵn sàng bù đắp được mọi tổn thất có thể xảy ra để
đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh. Tùy theo tính chất của từng loại tổn
thất, NH được sử dụng những nguồn vốn thích hợp để bù đắp:
+ Đối với các tổn thất đã lường trước được rủi ro, NH có thể sử dụng nguồn
vốn từ quỹ dự phòng rủi ro nợ xấu đã được xếp loại theo tiêu chuẩn để bù đắp. Mặc
dù nguồn vốn này được trích lập từ chi phí kinh doanh nhưng nếu tỷ lệ trích lập quá
cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và quyền lợi của cổđông làm giảm uy tín
của NH trên thị trường
+ Đối với các tổn thất không lường trước được rủi ro, NH phải dùng vốn tự có
làm nguồn dự phòng để bù đắp. Nếu khả năng quản trị rủi ro yếu kém gây ra mức
tổn thất cao, vốn tự có của NH sẽ bị hao mòn, quy mô tài chính và khả năng cạnh
tranh của NH sẽ bịảnh huởng.