BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
NGUYỄN THỊ THU NGUYỆT
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC QUẬN 3
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. HOÀNG TRẦN HẬU
TP.Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
HỌC VIÊN CAO HỌC
Nguyễn Thị Thu Nguyệt
i
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐVSNCL
Đơn vị sự nghiệp công lập
ĐVSDNS
Đơn vị sử dụng ngân sách
KBNN
Kho bạc Nhà nước
KSC
Kiểm soát chi
NSĐP
Ngân sách địa phương
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NSTW
năm 2010 – 2014
Hình 2.2
Sơ đồ quy trình kiểm soát chi một cửa
Bảng 2.2
Báo cáo chi NSNN ĐVSNCL tại KBNN Quận 3 giai đoạn 20102014
Biểu đồ 2.2 Báo cáo chi NSNN ĐVSNCL tại KBNN Quận 3 giai đoạn 20102014
Bảng 2.3
Bảng thống kê tình hình cam kết chi của các ĐVSNCL tại KBNN
Quận 3 từ năm 2013-2014
Biểu đồ 2.3 Tình hình cam kết chi của các ĐVSNCL tại KBNN Quận 3 từ năm
2013-2014
Bảng 2.4
Bảng thống kê tình hình KSC thường xuyên của NSNN qua KBNN
Quận 3 giai đoạn 2010-2014
Biểu đồ 2.4 Tình hình từ chối thanh toán tại KBNN Quận 3 giai đoạn 2010-2014
Bảng 2.5
Bảng so sánh số giao dự toán và số chi NSNN của các ĐVSNCL tại
KBNN Quận 3 giai đoạn 2010-2014
Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng chi so với dự toán chi NSNN của các ĐVSNCL giai đoạn
2010-2014
1.1.3.2 Nội dung chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL ...................................15
1.2 NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN KSC THƯỜNG XUYÊN NSNN ĐỐI VỚI ĐVSNCL ......17
1.2.1 Đặc điểm KSC thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL...................................17
1.2.2 Nguyên tắc kiểm soát các khoản chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL 18
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của KBNN trong KSC thường xuyên của NSNN đối với
ĐVSNCL ...............................................................................................................................19
1.2.3.1 Chức năng của KBNN trong KSC thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL 19
1.2.3.2 Nhiệm vụ của KBNN trong KSC thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL .19
1.2.4 Nội dung KSC thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL ...................................20
v
1.2.4.1 Kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ .......................................................20
1.2.4.2 Kiểm soát tính hợp pháp về chữ ký và mẫu dấu của ĐVSNCL............................21
1.2.4.3 Điều kiện cấp phát các khoản chi thường xuyên của NSNN với ĐVSNCL ........21
1.2.4.4 Kiểm soát tạm ứng kinh phí thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL ..........23
1.2.4.5 Kiểm soát thanh toán trực tiếp chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL25
1.3 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC KSC THƯỜNG XUYÊN NSNN:...................................26
1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KSC THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA
KBNN ĐỐI VỚI ĐVSNCL .............................................................................................................................................27
1.5 KINH NGHIỆM Ở NƯỚC NGOÀI VỀ KSC THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN CÓ
THỂ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM .....................................................................................................................................30
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra của Singapore ........................30
1.5.2 Kinh nghiệm kiểm soát cam kết chi tại Cộng Hòa Pháp ..........................................31
CHƯƠNG2...................................................................................................................................................................................................................34
THỰC TRẠNG KSC THƯỜNG XUYÊN NSNN.......................................................................................................................34
ĐỐI VỚI CÁC ĐVSNCL QUA KBNN QUẬN 3...........................................................................................................................34
2.1 KHÁI QUÁT VỀ KBNN QUẬN 3 VÀ CÁC ĐVSNCL TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 3 ................................................................................................................................................................................34
XUYÊN CỦA NSNN ĐỐI VỚI CÁC ĐVSNCL QUA KBNN......................................................................83
3.2.1 Hoàn thiện yếu tố dự toán chi NSNN ........................................................................83
3.2.2 Hoàn thiện yếu tố thể chế, pháp lý .............................................................................84
3.2.3 Hoàn thiện yếu tố ý thức chấp hành: ..........................................................................90
3.2.4 Hoàn thiện yếu tố trình độ cán bộ...............................................................................91
3.2.5 Hoàn thiện yếu tố ứng dụng Công nghệ Thông tin ...................................................93
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................................................................................................98
vii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 25/04/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy
định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên
chế và tài chính đối với ĐVSNCL, thay thế Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày
16/01/2002, với mục tiêu là trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các ĐVSNCL
trong việc tổ chức công việc, sắp xếp bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính
để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp
dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu
nhập cho người lao động; xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp và từng bước giảm dần
bao cấp từ NSNN; phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp và
đối với cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời, đảm bảo cho các đối tượng chính
sách-xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
được cung cấp dịch vụ ngày càng tốt hơn. Đây có thể nói là bước chuyển mạnh mẽ cho
các đơn vị trong việc trao quyền tự quyết định và giảm bớt gánh nặng bao cấp cho Nhà
nước.
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ra đời và có hiệu lực thi hành đã đặt ra một yêu
cầu mới đối với công tác KSC NSNN đối với các ĐVSNCL, đó là việc kiểm soát,
thanh toán phải đảm bảo chặt chẽ các khoản chi NSNN nhưng đồng thời vẫn đảm bảo
của NSNN và hoàn thiện chi thường xuyên của NSNN thông qua KBNN Quận 3.
2. Tình hình nghiên cứu
Kiểm soát chi NSNN qua KBNN một đề tài mang tính thời sự, nhất là trong
giai đoạn cải cách tài chính công. Trong thời gian qua, có một số đề tài nghiên cứu về
công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN như: Nghiên cứu: “Hoàn thiện cơ chế
KSC thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Việt Nam (Kho bạc
Nhà nước tỉnh Nam Định)” của thạc sỹ Vũ Văn Yên, tác giả nghiên cứu và đưa ra các
giải pháp hoàn thiện cơ chế KSC NSNN qua Kho bạc Nhà nước Nam Định; Nghiên
cứu: “Hoàn thiện công tác KSC NSNN qua KBNN Quảng Bình” của thạc sỹ Đào
Hoàng Liêm, tác giả cũng chỉ nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
KSC NSNN qua KBNN Quảng Bình; Nghiên cứu: “Hoàn thiện KSC thường xuyên
qua KBNN Gia Lai” của thạc sỹ Thân Tùng Lâm, cũng như tác giả Vũ Văn Yên và
Đào Hoàng Liêm tác giả cũng chỉ nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Gia Lai; Nghiên cứu:
“Tăng cường KSC NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp có thu do KBNN Đà Nẵng
2
thực hiện” của thạc sỹ Phan Xuân Tường, nghiên cứu này chỉ đề cập đến KSC NSNN
đối với các đơn vị sự nghiệp có thu nhưng cũng chỉ nghiên cứu trên địa bàn Đà Nẵng.
Từ khi Nghị định 43/2006/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến nay, trên địa bàn
Quận 3 chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác KSC thường xuyên NSNN qua
KBNN Quận 3 đối với các ĐVSNCL.
Để KSC thường xuyên NSNN đối với ĐVSDNS nói chung và KSC thường
xuyên NSNN đối với ĐVSNCL nói riêng đã có một hệ thống tài liệu từ Luật, Quyết
định, Nghị định, Thông tư và các văn bản liên quan. Đồng thời cũng đã có nhiều tác
giả với nhiều công trình nghiên cứu từ nhiều khía cạnh, phạm vi khác nhau nhưng với
cùng một mục tiêu là nâng cao chất lượng sử dụng NSNN cho nhiệm vụ chi thường
xuyên.
Các tài liệu, số liệu phục vụ công tác nghiên cứu được viện dẫn từ báo cáo
Thời gian nghiên cứu: số liệu chi thường xuyên của NSNN từ năm 2010 đến
năm 2014.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định tính: Thông qua việc thống kê, mô tả để phân
tích các yếu tố tác động đến công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN đối với
các ĐVSNCL, hệ thống bảng số liệu, biểu đồ để minh họa cho vấn đề nghiên cứu.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: Nhận định yêu cầu tất yếu khách quan của vấn đề nghiên cứu,
các yếu tố tác động và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới rút ra bài học có thể
áp dụng tại địa phương.
Về mặt thực tiễn: Phân tích đánh giá các yếu tố tác động đến công tác KSC
thường xuyên của NSNN đối với các ĐVSNCL qua KBNN Quận 3, tham chiếu với cơ
sở lý luận, chỉ ra những điểm bất cập, tồn tại, hạn chế, vướng mắc hoặc những điểm
đặc thù tại địa phương để đề xuất một số quan điểm, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN đối với ĐVSNCL tại Quận 3.
8. Bố cục của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu, danh mục bảng biểu và kết luận, bảng
câu hỏi, luận văn gồm ba chương :
Chương 1: Cơ sở lý thuyết kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với
ĐVSNCL qua KBNN.
4
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với ĐVSNCL
qua KBNN Quận 3.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với
ĐVSNCL qua KBNN Quận 3.
5
Trong pháp luật thực định Việt Nam, khái niệm NSNN được đề cập tại Điều 1
Luật NSNN năm 2002, theo đó “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định
6
và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước”, về cơ bản, định nghĩa này không có gì khác biệt đáng kể so với quan niệm
về NSNN dưới góc độ kinh tế. Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ nhiệm vụ của nhà làm luật
trong lĩnh vực NSNN là phải tìm cách thể chế hoá các nội dung kinh tế của NSNN
thành luật pháp để cho NSNN có thể dễ dàng thực hiện trong thực tế mà lại không quá
xa rời bản chất kinh tế của ngân sách.
Trong khoa học pháp lý, quan niệm về NSNN có phần khác biệt đáng kể so với
định nghĩa NSNN về phương diện kinh tế. Sự khác biệt giữa hai phương diện tiếp cận
này được thể hiện ở chỗ. Nếu các nhà kinh tế quan niệm NSNN là một kế hoạch tài
chính khổng lồ của quốc gia, trong đó dự liệu các khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia
trong một tài khoá thì các nhà luật học lại quan niệm NSNN là một đạo luật đặc biệt
do Quốc hội ban hành để cho phép chính phủ thực hiện trong thời hạn xác định. Tính
chất đặc biệt của đạo luật này được thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, NSNN là đạo
luật được cơ quan lập pháp làm ra theo một trình tự riêng, không hoàn toàn giống với
trình tự lập pháp thông thường; Thứ hai, hiệu lực về thời gian của đạo luật ngân sách
bao giờ cũng được xác định rõ là một năm, trong khi hiệu lực của các đạo luật thông
thường là vô thời hạn. Thuộc tính này khiến cho NSNN được gọi là “đạo luật ngân
sách thường niên” để phân biệt với một đạo luật khác về ngân sách, đó là Luật NSNN
(ban hành năm 2002). Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu một cách đầy đủ rằng “đạo luật
ngân sách thường niên” không có nghĩa chỉ là bản dự toán các khoản thu chi tiền tệ
của quốc gia đã được Quốc hội biểu quyết thông qua mà còn bao gồm cả văn bản nghị
quyết của Quốc hội về việc thi hành bản dự toán ngân sách đó.
1.1.1.2 Các đặc điểm của NSNN
Trong đời sống xã hội, vì mỗi chủ thể pháp luật (tổ chức, cá nhân) đều có những
vị sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán
độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của luật
kế toán). ĐVSNCL được Nhà nước cho phép tạo lập nguồn thu thông qua các khoản
thu như: thu phí, lệ phí hay khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ để bù
đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.
Đơn vị sự nghiệp công lập có những đặc điểm sau đây:
Một là, ĐVSNCL là tổ chức hoạt động phục vụ xã hội không vì mục tiêu lợi
nhuận. ĐVSNCL có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và những dịch
vụ nhằm duy trì hoạt động bình thường của các ngành trong xã hội. Với chức năng và
8
nhiệm vụ như vậy nên những hoạt động của ĐVSNCL hoàn toàn mang tính chất phục
vụ nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và hoạt động của ĐVSNCL đặc biệt
là hoạt động tài chính không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hai là, ĐVSNCL được thành lập và hoạt động trên cơ sở của pháp luật. Là đơn vị
thực hiện các công việc trên cơ sở chấp hành các nhiệm vụ của pháp luật, chỉ đạo thực
hiện các chủ trương kế hoạch của Nhà nước. Các ĐVSNCL trực tiếp hoặc gián tiếp
trực thuộc cơ quan quyền lực của Nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của
các cơ quan quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm và báo cáo trước cơ quan quyền lực
đó.
1.1.2.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
* Phân loại ĐVSNCL theo nguồn thu: Để xác định khả năng tự trang trải chi phí
hoạt động thường xuyên của ĐVSNCL dựa trên chỉ tiêu sau :
Mức tự bảo đảm chi phí
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
hoạt động thường xuyên = --------------------------------------------- x 100 %
của đơn vị (%)
kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt
động). Có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống, nhà
nước phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị.
* Phân loại ĐVSNCL theo lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSNCL được phân loại như sau:
- ĐVSNCL hoạt động về lĩnh vực giáo dục đào tạo gồm: các cơ sở giáo dục công
lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như các cơ sở giáo dục mầm non, các trường
tiểu học, trung học, các trường dạy nghề, các trường đại học, học viện,...
- ĐVSNCL hoạt động về lĩnh vực Y tế bao gồm: các cơ sở khám chữa bệnh
(bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế,...).
- ĐVSNCL hoạt động về lĩnh vực kinh tế bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, thủy lợi, thủy sản, giao thông, công nghiệp, thương mại, địa chính, khí
tượng thủy văn,...
- ĐVSNCL hoạt động về lĩnh vực thông tin văn hóa bao gồm: các đơn vị nghệ
thuật, cơ quan báo, tạp chí, thư viện công cộng, trung tâm thông tin,...
- ĐVSNCL hoạt động về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật bao gồm: hệ thống các
đoàn nghệ thuật, trung tâm chiếu phim quốc gia, nhà văn hoá, thư viện, bảo tàng, đài
phát thanh truyền hình, trung tâm báo chí xuất bản,...
10
- ĐVSNCL hoạt động về lĩnh vực thể dục thể thao bao gồm: các trung tâm huấn
luyện thể dục thể thao, các liên đoàn, đội thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao,...
- ĐVSNCL khác như các trung tâm kiểm định an toàn lao động, các đơn vị dịch
vụ tư vấn, dịch vụ giải quyết việc làm.
* Phân loại ĐVSNCL theo cấp NSNN gồm:
- ĐVSNCL do trung ương quản lý, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương
- ĐVSNCL do địa phương quản lý, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa
phương, gồm ĐVSNCL thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện.
1.1.2.3 Cơ chế quản lý tài chính đối với ĐVSNCL
quan hệ sản xuất xã hội mà trước hết là quan hệ sở hữu. Ứng với những chế độ sở hữu
khác nhau, trong các điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, các quan hệ kinh tế cấu
thành nên bản chất của tài chính các ĐVSNCL khác nhau. Sự khác nhau về nội dung,
bản chất đó của tài chính các ĐVSNCL được thể hiện ra bên ngoài là sự khác nhau, sự
thay đổi trong nội dung các khoản thu, chi của các ĐVSNCL. Như vậy, mỗi một thời
kỳ khác nhau, trong điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau của đất nước thì nội dung của
các nguồn thu và các khoản chi của các ĐVSNCL cũng có sự thay đổi nhất định.
Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay,
nguồn thu và nhiệm vụ chi của các ĐVSNCL có thể như sau:
Nguồn tài chính của các ĐVSNCL:
Nguồn ngân sách nhà nước cấp.
- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối
với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu sự
nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp
có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không
phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng
(điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
12
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy
định (nếu có);
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài
sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê
- Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo
sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định;
- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố
định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có).
1.1.3 Chi thường xuyên của NSNN ở ĐVSNCL
1.1.3.1 Đặc điểm chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL
Chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL là quá trình phân phối và sử dụng
thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm để thực hiện các nhu cầu chi gắn liền với việc
thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội.
Đặc điểm của chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL:
- Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của Nhà nước. Các khoản chi đó mang tính chất tiêu dùng, có quy mô
và cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước. Đa số
các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang tính ổn định và có tính chu kỳ
trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm.
- Với xu thế ngày càng phát triển của xã hội, thì nhiệm vụ chi thường xuyên của
nhà nước cũng ngày càng gia tăng, vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở
rộng thêm.
14
- Chi thường xuyên của NSNN đối với ĐVSNCL gồm các khoản chi nhằm cung
cấp các dịch vụ công nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân
lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc
- Theo l nh vực hoạt động, bao gồm:
+ Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của nhà nước: những
khoản chi này nhằm để đảm bảo duy trì hoạt động cho các đơn vị cung ứng hàng hóa,
dịch vụ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động kinh tế như đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp; thủy lợi; khí tượng; thủy văn
+ Chi cho hoạt động khoa học công nghệ là những khoản chi cho nghiên cứu,
ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm để hiện đại hóa
khoa học, công nghệ từ đó nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường làm việc,
tăng năng lực cạnh tranh cho quốc gia cả về kinh tế, về xã hội.
+ Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo là những khoản chi cho hoạt động giáo
dục, đào tạo: giáo dục mầm non, phổ thông, đào tạo đại học và sau đại học.
+ Chi cho hoạt động sự nghiệp y tế là những khoản chi đảm bảo sức khỏe cộng
đồng, khám chữa bệnh cho người dân.
+ Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao là những khoản chi
cho hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục, thể
thao
góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, khẳng định và nâng
cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.
+ Chi cho hoạt động xã hội là những khoản chi cho đảm bảo xã hội và cứu tế xã
hội. Khoản chi này nhằm đảm bảo cuộc sống của người dân khi gặp khó khăn do đau
ốm, bệnh tật, người già không nơi nương tựa nhằm ổn định xã hội.
- Theo nội dung kinh tế của các khoản chi gồm có 4 nhóm:
+ Chi thanh toán cá nhân: bao gồm các khoản chi cho con người như: tiền lương;
tiền công; các khoản phụ cấp lương được tính theo chế độ hiện hành, kể cả các khoản
nâng bậc lương hàng năm hay nâng lương trước hạn; các khoản trích nộp bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn; phúc lợi tập thể; tiền thưởng; trợ cấp khó khăn
thường xuyên. Ngoài ra, ở một số đơn vị đặc thù như là các ĐVSNCL về lĩnh vực giáo
xuyên cho nên phần lớn công tác KSC được diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời
vụ, trừ các khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn TSCĐ.
Thứ hai, KSC thường xuyên được diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều nội dung vì
thế nó rất đa dạng và phức tạp. Chính vì vậy mà các quy định trong KSC thường
xuyên cũng hết sức phong phú, ở từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nội
dung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng.
17