Cơ sở lý luận mối quan hệ giữa Tòa án, cơ quan thi hành án và Trọng tài - Pdf 31

Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

I. KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Khái nhiệm tranh chấp
Tranh chấp, là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ
thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Khi các bên đưa ra Trọng tài, Tòa án
tức là những xung đột, bất đồng đã lên đến đỉnh điểm. Cho nên, cần sức mạnh
cưỡng chế buộc các bên phải ngồi lại để giải quyết tranh chấp, bất đồng với nhau.
1.2. Cơ sở lý luận mối quan hệ giữa Tòa án, cơ quan thi hành án và Trọng
tài
Trọng tài là một cơ quan tài phán được thành lập để giải quyết các tranh chấp,
bất đồng khi các bên không thương lượng được với nhau. Trọng tài là cơ quan tài
phán nhưng là tài phán tư, là tổ chức phi Chính phủ. Thẩm quyền giải quyết tranh
chấp của Trọng tài không phải do Nhà nước trao cho mà thẩm quyền của Hội đồng
trọng tài bắt nguồn từ quyền lực theo hợp đồng hay quyền lực đại diện do các bên
tranh chấp giao phó và ủy nhiệm cho Hội đồng trọng tài thông qua một thỏa thuận
trọng tài.
Để có một trọng tài có hiệu lực, trước hết phải có một thỏa thuận trọng tài có
hiệu lực. Trọng tài chỉ có quyền hành động trong giới hạn phạm vi mà các bên đã
ủy quyền. Nói cách khác, trọng tài nhân danh chính các bên đã ủy quyền để giải
quyết tranh chấp giữa họ chứ không phải nhân danh và đại diện cho quyền lực
giống như Tòa án. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp nếu một trong
các bên không có thái độ hợp tác, cố tình trì hoãn để quá trình Trọng tài không xảy
ra hoặc không tuân thủ phán quyết Trọng tài thì Hội đồng Trọng tài không có sức
mạnh cưỡng chế để buộc họ phải tuân theo. Hơn nữa, một vụ tranh chấp phức tạp
thông thường liên quan đến rất nhiều bên nhưng thẩm quyền của Trọng Tài
thường bị hạn chế đối với các bên tham gia chính quá trình tố tụng Trọng tài. Nếu
không có sự hỗ trợ của Nhà nước vào hoạt động Trọng tài thì chắc chắn Trọng tài
sẽ hoạt động không có hiệu quả và trọng một số trường hợp có thể dẫn đến bế tắc.

đảm bảo nguyên tắc “Trọng tài sẽ nhận được sự hỗ trợ kịp thời của Tòa án nhưng
vẫn phải đảm bảo nguyên tắc Trọng tài độc lập với Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp”. Hoạt động Trọng tài có hiệu quả nếu Tòa án quan tâm đến kết quả
Trọng tài và sự hỗ trợ khi cần thiết nhằm giúp các bên tham gia Trọng tài đạt được

2


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

mục đích trên cơ sở công lý, công bằng và khách quan. Ngược lại, nếu Tòa án
tham gia không sâu, không kịp thời hoặc không đúng lúc thì Trọng tài sẽ mất đi
tính linh hoạt vốn có của mình và khi ấy, trọng tài đơn thuần chỉ là cái bóng của
Tòa án. Nhờ có sự hỗ trợ của Tòa án vào Trọng tài là tổ chức phi chính phủ nhưng
vẫn hoạt động hiệu quả.
Sự hỗ trợ của Tòa án đối với quá trình tố tụng của Trọng tài thương mại được
thể hiện thông qua các quy định như: Tòa án đảm bảo thi hành điều khoản thỏa
thuận trọng tài; chỉ định trọng tài viên, chủ tịch Hội đồng trọng tài; thay đổi trọng
tài viên; thu thập chứng cứ; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; triệu tập
người làm chứng; hủy bỏ phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, những vấn đề này được
quy định khác nhau trong hai văn bản là Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003
(PLTTTM 2003) và Luật trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM 2010). Cụ thể đó
là:
2.1.1. Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề đảm bảo thi hành điều khoản
thỏa thuận trọng tài
Việc Pháp luật Trọng tài quy định về vai trò hỗ trợ của Tòa án trong việc thực
thi thỏa thuận trọng tài xuất phát từ những lý do sau:
Thực tiễn cho thấy, không phải trong mọi trường hợp, các bên trong thỏa thuận

thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Trường hợp nếu các bên tranh chấp đã có thỏa
thuận điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài mà một trong các bên không
thực hiện thì Tòa án hỗ trợ để đảm bảo thi hành.
Tuy nhiên, khi quy định về vấn đề này thì PLTTTM 2003 lại bỏ sót trường
hợp, đó là “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”. Pháp lệnh chỉ quan
tâm đến thỏa thuận trọng tài của các bên có vô hiệu hay không mà bỏ qua trường
hợp liệu rằng thỏa thuận trọng tài của các bên có khả thi, có thể thực hiện được
trên thực tế hay không?.
b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề đảm bảo thi hành điều khoản thỏa
thuận trọng tài theo Luật TTTM 2010
Theo Điều 6 Luật TTTM 2010 quy định “Trong trường hợp các bên tranh
chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải
từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng
tài không thể thực hiện được”.
4


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

So với Pháp lệnh TTTM 2003 thì danh sách các trường hợp thỏa thuận trọng
tài vô hiệu được đã được rút ngắn lại theo quy định tại Điều 18 Luật TTTM 2010.
Đồng thời, Luật TTTM 2010 đã bổ sung thêm trường hợp thỏa thuận trọng tài
“không thể thực hiện được”. Bổ sung này là cần thiết vì một mặt phù hợp với
thông lệ quốc tế, mặt khác đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của thực tiễn giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài khắc phục được những vấn đề chưa hợp lý, phù
hợp với thực tiễn, đảm bảo hiệu lực thi hành của các thỏa thuận trọng tài.
Hơn nữa, so với pháp lệnh TTTM năm 2003, kể cả về mặt hình thức, Điều 6
Luật TTTM 2010 là một điều riêng biệt với tên gọi “Tòa án từ chối thụ lý trong

giải quyết. Còn nếu bên kia không đồng ý bằng văn bản thì Tòa án không có thẩm
quyền”. Về nguyên tắc, khi đã quy định thỏa thuận trọng tài phải được lập thành
văn bản thì việc thay đổi hay bãi bỏ thỏa thuận đó cũng chỉ có hiệu lực khi được
thể hiện bằng văn bản. Điều này là hợp lý và phù hợp với chế định trọng tài. Ý
kiến khác cho rằng: “ không nên hủy án sơ thẩm vì Tòa án không từ chối thụ lý và
cũng không có sự phản đối của bên kia về thẩm quyền của Tòa án trong quá trình
sơ thẩm, chúng ta coi như các bên đã ngầm từ bỏ thoả thuận trọng tài đã thiết lập
và chấp nhận thẩm quyền của Tòa án”. Trong trường hợp này, ta thấy, ý kiến thứ
hai có vẻ hợp lý hơn và phù hợp với chế định trọng tài. Bởi lẽ, do có tình tiết là
bên kia không phản đối thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án trong quá
trình sơ thẩm và có những hành vi tham gia tích cực vào quá trình tố tụng tại tòa
nên có thể hiểu là giữa các bên đã ngầm từ bỏ thỏa thuận trọng tài. Do thỏa thuận
trọng tài giữa các bên không còn tồn tại nên Tòa án không vi phạm Điều 6 Luật
TTTM 2010. Hướng giải quyết này sẽ có lợi là hạn chế được trường hợp một bên
lợi dụng chứng cứ để Tòa án giải quyết, chừng nào thấy bản án của Tòa án bất lợi
cho mình mới phản đối thẩm quyền của Tòa án để hủy bản án đó.
2.1.2. Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề chỉ định trọng tài viên, thay đổi
trọng tài viên đối với Hội đồng trọng tài vụ việc
Hội đồng trọng tài vụ việc được hình thành dựa trên sự thỏa thuận của các bên,
nếu vì một lý do nào đó không thể chọn được trọng tài viên thì tòa án sẽ đứng ra
chỉ định. Việc chỉ định trong trường hợp này là cần thiết, đảm bảo cho sự vô tư
khách quan và bảo vệ quyền lợi của các bên một cách tốt nhất.
a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề chỉ định trọng tài viên, thay đổi
trọng tài viên đối với Hội đồng trọng tài vụ việc theo PLTTTM 2003

6


Giải quyết tranh chấp thương mại


7


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

Theo Pháp lệnh, chỉ nguyên đơn mới có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi trọng
tài viên, còn theo Luật TTTM 2010 chủ thể không chỉ là nguyên đơn mà là một
hoặc các bên tranh chấp. Có nghĩa là bị đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay
đổi Trọng tài viên. Đồng thời, Luật còn cho phép một hoặc các trọng tài viên được
chỉ định để giải quyết vụ tranh chấp cũng có quyền yêu cầu.
Như vậy, việc mở rộng quyền yêu cầu Tòa án thay đổi Trọng tài viên theo Luật
TTTM 2010 là hợp lý. Bởi vì kết quả của việc giải quyết tranh chấp không chỉ ảnh
hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn mà còn cả bị đơn, ngoài ra thì đây là trọng
tài vụ việc do các bên thỏa thuận thành lập để giải quyết tranh chấp nên để đảm
bảo cho sự bình đẳng về quyền thì bị đơn cũng có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi
trọng tài viên. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết
tranh chấp thì các trọng tài viên được chỉ định giải quyết tranh chấp cũng có quyền
yêu cầu Tòa án thay đổi một trong các trọng tài viên còn lại. Điều này đảm bảo sự
khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài vụ
việc.
2.1.3. Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề lưu giữ hồ sơ đối với giải quyết
tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (ad hoc)
Hội đồng trọng tài vụ việc được thành lập theo ý chí của các bên để giải quyết
tranh chấp, sau khi giải quyết xong thì chấm dứt. Do vậy, nếu không quy định
lưu trữ hồ sơ đối với hình thức trọng tài này thì sẽ gặp phải những khó khăn với
yêu cầu xin hủy phán quyết trọng tài sau này.
a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề lưu giữ hồ sơ đối với giải quyết tranh
chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (ad hoc) theo PLTTTM

2.1.4. Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các
biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tố tụng Trọng tài thường nhanh hơn tố tụng Tòa án. Tuy nhiên, cũng phải mất
một khoảng thời gian để Hội đồng trọng tài đưa ra một phán quyết cuối cùng.
Khoảng thời gian này chính là điều kiện để bên chống đối có những hành vi như:
che dấu hoặc là hủy hoại chứng cứ, bán tài sản, chuyển hàng hóa hoặc tài sản đến
nới khác. Vì vậy, trong những trường hợp như thế, các lệnh nhằm mục đích bảo vệ
tài sản, chứng cứ, hoặc theo cách nào đó duy trì hiện trạng trong khi chờ đợi kết
quả của chính quá trình tố tụng của Tòa án hay Hội đồng trọng tài là cần thiết.

9


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

Điều này giúp hạn chế tình trạng một bên tranh chấp hủy hoại chứng cứ, chuyển
tài sản ra nước ngoài gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ tranh chấp. Cho
nên sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời là
rất cần thiết.
a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện
pháp khẩn cấp tạm thời theo PLTTTM 2003
Tại Điều 33 Pháp lệnh trọng tài trọng tài thương mại 2003 quy định rõ:
“Trong quá trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì
các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ
tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau
đây:
1. Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ hoặc có

áp dụng (Điều 35 PLTTTM 2003).
Có thể nói, việc Tòa án xem xét áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong quá trình tố tụng trọng tài là biện pháp hỗ trợ quan trọng nhất của Tòa án
đối với việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Vai trò hỗ trợ của Tòa án đối
với Trọng tài trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là một điều
được quy định trong pháp luật trọng tài của nhiều nước nhưng lại là lần đầu tiên
được quy định rõ ràng trong pháp luật nước ta bằng PLTTTM 2003.
Tuy nhiên, các quy định của PLTTTM 2003 về vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời còn một số hạn chế, cụ thể là:
Theo quy định tại Điều 33 PLTTTM 2003 thì nếu muốn áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời các bên phải chờ đến khi Hội đồng trọng tài được thành lập.
Quy định này một phần nào đó không còn mang bản chất của biện pháp khẩn cấp
tạm thời vì bản chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhanh chóng, khẩn
trương, kịp thời. Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, thời điểm các bên cần
thiết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đồng nhất với thời
điểm Hội đồng trọng tài đã được thành lập.
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh
thì chỉ được thực hiện “trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh

11


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

chấp”. Điều này chỉ được tiến hành “trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết
vụ tranh chấp”. Và trước câu hỏi “Trước khi Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh
chấp, một bên có quyền yêu cầu biện pháp trên không?” thì Pháp lệnh không có
câu trả lời. Bên cạnh đó, quy định này vô hình chung đã tạo cơ hội cho các bên có


tiếp xét xử vụ việc nhưng lại không có quyền gì đối với việc áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời ngay cả khi nhận thấy việc áp dụng này là không đúng.
Theo quy định của Điều 35 Pháp lệnh thì chỉ duy nhất bên yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời mới có quyền yêu cầu hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời nên không thể hủy bỏ quyết định này khi bên yêu cầu không có yêu cầu
hủy bỏ. Như vậy, khi vụ việc đã được Hội đồng trọng tài xét xử xong với kết quả
có thể là bác yêu cầu của bên đã đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời nhưng lại không có quyền hủy hoặc kiến nghị Tòa án hủy Quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bởi vậy, có thể dẫn đến tình trạng là yêu cầu của bên
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ kiện không được Hội đồng
trọng tài chấp nhận nhưng Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn
“treo” tài sản của bên kia, đặc biệt là của bên thứ ba nên có thể gây ra thiệt hại
nghiêm trọng tới người bị áp dụng biện pháp.
b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện
pháp khẩn cấp tạm thời theo Luật TTTM 2010
Điểm mới của Luật TTTM 2010 là cho phép Hội đồng trọng tài được quyền
xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như được quyền thay đổi, hủy
bỏ quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đó. Việc pháp luật trao
thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Hội đồng trọng tài có ý
nghĩa quan trọng, giúp cho quá trình trọng tài diễn ra nhanh hơn, góp phần tăng
sức hấp dẫn của Trọng tài. Tuy nhiên, phạm vi thẩm quyền áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài còn hạn chế, vì thế, đối với những biện
pháp khẩn cấp tạm thời mà Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền áp dụng thì
sự hỗ trợ của Tòa án trong trường hợp này là rất cần thiết giúp cho quá trình tố
tụng Trọng tài diễn ra bình thường, đảm bảo tính khả thi của phán quyết Trọng tài
đồng thời nâng cao uy tín Trọng tài.
Đồng thời, để tránh sự nhầm lẫn hoặc lạm quyền của Tòa án, khoản 2 Điều 48
Luật TTTM 2010 còn quy định: “Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
13

nhiên Luật TTTM 2010 còn mắc phải một số hạn chế, cụ thể là:
Như đã phân tích, theo khoản 1 Điều 53 Luật TTTM 2010, sau khi nộp đơn
khởi kiện, một bên có quyền làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền yếu cầu áp
dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định này vô hình chung
tạo cơ hội để cho các bên tẩu tán tài sản gây khó khăn cho quá trình giải quyết
14


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

tranh chấp. Trong một số trường hợp, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Tòa án không còn ý nghĩa nữa vì các bên đã kịp chuyển tài sản ra nước
ngoài hoặc đã hủy hoại toàn bộ chứng cứ. Như vậy, quy định tại khoản 1 Điều 53
là chưa thật hợp lý. Thiết nghĩ, việc cho phép các bên tranh chấp được quyền yêu
cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với thời điểm
nộp đơn khởi kiện ra trọng tài sẽ hợp lý hơn.
Hơn nữa, Luật TTTM 2010 quy định “một bên” có quyền yêu cầu Tòa án hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng. Tuy nhiên, Luật lại không quy định rõ
một bên là gồm những bên nào. Một bên ở đây được hiểu là các bên trong tố tụng
trọng tài (nguyên đơn và bị đơn) hay bao gồm cả bên thứ ba là người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan đến vụ tranh chấp. Nếu một bên ở đây chỉ bao gồm các bên
trong tố tụng trọng tài thì quy định này chưa hợp lý. Bởi lẽ, thực tiễn cho thấy biện
pháp khẩn cấp tạm thời không chỉ được áp dụng đối với tài sản hoặc chứng cứ
đang thuộc quyền quản lý, sở hữu của các bên trong tố tụng trọng tài mà còn có
thể được áp dụng đối với tài sản hoặc chứng cứ thuộc về bên thứ ba, không phải là
một bên trong tố tụng trọng tài.
Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án, các bên cũng như Hội đồng
trọng tài thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng quy định này, bảo vệ quyền lợi

thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng. Trọng tài chỉ có thể ra quyết định bắt buộc
các bên đương sự có liên quan đến thỏa thuận trọng tài nhưng không thể bắt buộc
bên thứ ba cung cấp chứng cứ, tài liệu mà họ đang quản lý. Trong Pháp lệnh đã có
quy định về sự hỗ trợ của Tòa án trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời nhưng lại không có quy định về việc hỗ trợ của Tòa án trong việc yêu cầu bên
thứ ba giao nộp chứng cứ hay việc triệu tập người làm chứng.
b) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề thu thập chứng cứ và triệu tập nhân
chứng theo Luật TTTM 2010
 Đối với vấn đề thu thập chứng cứ
Khoản 5 Điều 46 Luật TTTM 2010 quy định “Trong trường hợp Hội đồng
trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng
cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể gửi văn bản đề nghị Toà án
có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được,
nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp”.

16


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

Đây là quy định mới của Luật TTTM 2010 so với PLTTTM 2003. Mặc dù việc
thu thập chứng cứ được xác định là quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên,
trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp
cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể
gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung
cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ
tranh chấp. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo hiệu quả tốt nhất cho việc
giải quyết các tranh chấp được thực hiện một cách khách quan, hiệu quả.

tài là các quy định về hủy phán quyết trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh
trường hợp phán quyết trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu hủy một cách tùy
tiện.
a) Sự hỗ trợ của Tòa án trong vấn đề kiểm tra hiệu lực của quyết định
Trọng tài theo PLTTTM 2003
Theo quy định tại Điều 50 PLTTTM 2003: “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định trọng tài, nếu có bên không đồng ý với quyết định
trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài ra
quyết định trọng tài, để yêu cầu huỷ quyết định trọng tài”. Pháp lệnh cũng quy
định trình tự thủ tục mà Tòa án xem xét yêu cầu hủy quyết định trọng tài.
Theo khoản 2 Điều 53 PLTTTM 2003 thì sau khi thụ lý yêu cầu hủy quyết
định trọng tài, Tòa án phải thông báo cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng
trọng tài do các bên thành lập, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp. Trong trường hợp vụ án tranh chấp do Trung tâm trọng tài giải quyết
thì khi nhận được thông báo của Tòa án, Trung tâm trọng tài phải chuyển hồ sơ
cho Tòa án. Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán,
trong đó có một Thẩm phán làm chủ toạ và phải mở phiên toà để xét đơn yêu cầu
huỷ quyết định trọng tài. Trong trường hợp nếu xét thấy có một trong những căn
cứ quy định tài Điều 54 của Pháp lệnh thì Hội đồng xét xử xem xét hủy quyết
định trọng tài, nếu không có thỏa thuận khác thì các bên có quyền đưa vụ tranh
chấp đó ra giải quyết tại Tòa án. Trong trường hợp Hội đồng xét xử không hủy
quyết định trọng tài thì quyết định trọng tài được thi hành theo quy định của
Pháp lệnh.

18


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A



Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

Tòa án thì thẩm quyền của Tòa án được lựa chọn theo khoản 2 Điều 7 Luật TTTM
2010.
Mặc dù khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh nhưng quy định của Luật
TTTM 2010 về vấn đề hủy quyết định trọng tài vẫn còn bất cập về thủ tục thụ lý
đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, cụ thể là:
Điều 69 Luật TTTM 2010 quy định về quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
khá chặt chẽ, theo đó, các bên phải có đủ căn cứ theo quy định mới có quyền làm
đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiện, không có điều khoản nào của Luật
quy định thủ tục cũng như điều kiện thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không đầy
đủ các nội dung quy định tại Điều 70 hoặc không cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu của mình thì Tòa án có thụ lý đơn không?. Nếu từ chối
thụ lý thì Tòa án căn cứ vào cơ sở pháp lý nào?. Hay khi có đơn yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài của một trong các bên tranh chấp gửi đến Tòa án đúng thời hạn
theo quy định thì Tòa án sẽ đương nhiên thụ lý và để đấy, đơn yêu cầu có đủ căn
cứ hay không thì sau khi thụ lý, Tòa án sẽ xem xét sau?. Bởi lẽ, Luật không quy
định rõ trường hợp nào Tòa án thụ lý đơn và trường hợp nào Tòa án không thụ lý
đơn. Điều này có thể gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình thụ lý hồ sơ yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài, dễ dẫn đến tiêu cực và cũng là lỗ hổng để các bên lợi
dụng trì hoãn thi hành phán quyết Trọng tài. Đồng thời, làm nản lòng những người
thật sự mong muốn giải quyết dứt điểm tranh chấp theo thủ tục Trọng tài. Vì dù
kết quả có như thế nào đi chăng nữa thì họ cũng đạt được mục đích của mình là

Thứ hai, về vấn đề thự thi thỏa thuận trọng tài.
Nên ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể Điều 6 Luật TTTM 2010 theo hướng
quy định rằng: sau khi thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện vụ tranh chấp đó các bên
đã thỏa thuận trọng tài, thì Tòa án căn cứ vào quy định tương ứng của pháp luật tố
tụng ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn kiện và các tài liệu
gửi kèm theo đơn kiện cho đương sự. Đồng thời, nên quy định rõ trường hợp các
bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng khi phát sinh tranh chấp, một bên cứ kiện ra
Tòa án thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp nếu được bên kia
chấp nhận bằng văn bản hoặc hành vi tương đương. Hành vi tương đương ở đây
có thể là không phản đối thẩm quyền của Tòa án và có những hành vi tham gia tố
tụng tại Tòa án như: nộp bản tự bảo vệ, viết đơn kiện lại.v.v.
21


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

Hơn nữa, văn bản hướng dẫn thi hành cần đưa ra các tiêu chí để xác định
trường hợp nào thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được vì đây là một thuật
ngữ không rõ ràng. Có thể là:
-

Điều khoản Trọng tài có câu chữ quá mơ hồ. Ví dụ như: “tất cả các tranh

chấp liên quan đến thỏa thuận hiện tại phải được đưa ra Trọng tài giải quyết lúc
đầu. Trọng tài viên phải là một Phòng thương mại có uy tín được chỉ định theo
thỏa thuận chúng giữa các bên” hoặc “trong trường hợp tranh chấp không được
giải quyết, vấn đề sẽ được đưa ra Phòng thương mại quốc tế”.
-


Nhóm 1 HC34A

Hơn nữa, như đã phân tích, Luật TTTM 2010 quy định “một bên” có quyền
yêu cầu Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng. Tuy nhiên, Luật
lại không quy định rõ một bên là gồm những bên nào. Một bên ở đây được hiểu là
các bên trong tố tụng trọng tài (nguyên đơn và bị đơn) hay bao gồm cả bên thứ ba
là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ tranh chấp. Nếu một bên ở đây
chỉ bao gồm các bên trong tố tụng trọng tài thì quy định này chưa hợp lý. Bởi lẽ,
thực tiễn cho thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời không chỉ được áp dụng đối với tài
sản hoặc chứng cứ đang thuộc quyền quản lý, sở hữu của các bên trong tố tụng
trọng tài mà còn có thể được áp dụng đối với tài sản hoặc chứng cứ thuộc về bên
thứ ba, không phải là một bên trong tố tụng Trọng tài.
Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án, các bên cũng như Hội đồng
trọng tài thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng quy định này, bảo vệ quyền lợi
chính đáng của bên thứ ba liên quan đến vụ tranh chấp, văn bản hướng dẫn thi
hành Luật TTTM 2010 cần phải giải thích rõ quy định này theo hướng: một bên ở
đây không chỉ là các bên trong tố tụng trọng tài mà còn cả bên thứ ba là người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng được quyền yêu cầu Tòa án đã ra quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời xem xét, giải quyết việc thay đổi, hủy bỏ
hoặc giữ nguyên các biện pháp đó. Bởi lẽ, nếu không trao cho bên thứ ba quyền
này và biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn cần thiết nữa nhưng các bên tranh
chấp không có yêu cầu hủy bỏ thì biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn bị “treo”.
Trong trường hợp này Tòa án và Hội đồng trọng tài không thể làm gì được vì theo
Luật TTTM 2010, Tòa án không thể tự mình hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
đã áp dụng mà phải có yêu cầu của một bên.
Thứ tư, giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Luật TTTM 2010 không có điều khoản nào quy định về thủ tục cũng như điều
kiện thụ ký đơn yêu cầu hủy phán quyết Trọng tài. Điều này vô hình chung Luật
đã mở đường và tạo điều kiện làm giảm hiệu lực của phán quyết Trọng tài. Thiết

dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo PLTTTM 2003
Theo quy định tại Điều 33 PLTTTM 2003:
“Trong quá trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các
bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh
chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây:
24


Giải quyết tranh chấp thương mại

Nhóm 1 HC34A

1. Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ hoặc có
nguy cơ bị tiêu huỷ;
2. Kê biên tài sản tranh chấp;
3. Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;
4. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;
5. Kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ;
6. Phong toả tài khoản tại ngân hàng”.
Như vậy, quy định trên thì khi một bên yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời và được chấp nhận thì Tòa án sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời. Quyết định này phải được gửi ngay cho Hội đồng Trọng tài,
các bên tranh chấp và Viện Kiểm sát cùng cấp và sẽ được thi hành ngay.
Việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện
theo quy định của pháp lệnh thi hành án dân sự 2004. Cụ thể là quy định tại Điều
16 của Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 thì khi có quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định
thi hành án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó ngay lập tức.
Như vậy, thông qua hoạt động thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status