Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cạnh tranh
trong đấu thầu của các doanh nghiệp xây dựng
1.1. Đấu thầu xây dựng và cạnh tranh trong đấu thầu
xây dựng
1.1.1. Đặc điểm của đấu thầu xây dựng
Theo qui định tại mc 2, iu 4, Chng 1, Lut u thu đợc Quc
hi nc Cng ho xó hi ch ngha Vit Nam, thụng qua ngy 29 thỏng 11
nm 2005, thì: "u thu l quỏ trỡnh la chn nh thu ỏp ng cỏc yờu cu
ca bờn mi thu thc hin gúi thu thuc cỏc d ỏn quy nh ti iu 1
ca Lut ny trờn c s bo m tớnh cnh tranh, cụng bng, minh bch v
hiu qu kinh t" [17, tr. 2].
Xét trên phơng diện chủ thể tham gia thì đấu thầu đợc chia làm hai
loại đấu thầu trong nớc và đấu thầu quốc tế. "u thu trong nc l quỏ
trỡnh la chn nh thu ỏp ng cỏc yờu cu ca bờn mi thu vi s tham
gia ca cỏc nh thu trong nc" [17, tr. 2]. "u thu quc t l quỏ trỡnh
la chn nh thu ỏp ng cỏc yờu cu ca bờn mi thu vi s tham gia ca
cỏc nh thu nc ngoi v nh thu trong nc" [17, tr. 2].
Nh vậy, đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu có
năng lực thực hiện những công việc có liên quan tới quá trình t vấn, xây
dựng, mua sắm thiết bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây
dựng... nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án.
Đấu thầu xây dựng là phơng thức đấu thầu đợc áp dụng rộng rãi đối với hầu
hết các dự án đầu t xây dựng cơ bản.
Đấu thầu xây dựng có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia đấu thầu xây dựng. Đấu thầu xây dựng
là một trong những phơng thức cạnh tranh nhằm lựa chọn các nhà thầu thực
hiện những công việc nh: t vấn, khảo sát thiết kế, thi công xây lắp, mua sắm
tham gia đấu thầu xây dựng là hàng hóa đặc biệt, đó là các dự án xây lắp, các
dự án cung ứng hàng hóa, các dự án t vấn về thiết kế, giám sát, đầu t Các
nhà thầu thực hiện việc cạnh tranh với nhau để tìm kiếm các cơ hội kinh
doanh, đó là: đấu thầu tuyển chọn t vấn thiết kế; đấu thầu mua sắm hàng hóa,
thiết bị; đấu thầu xây lắp; đấu thầu thực hiện lựa chọn đối tác thực hiện dự
án... Hàng hóa lúc đầu đem ra thị trờng cha đợc định giá một cách cụ thể,
dựa trên các thông số yêu cầu về điều kiện kinh tế - kỹ thuật của dự án,
doanh nghiệp và nhà đầu t thông qua hình thức đấu thầu để xác định giá cả
cụ thể của hàng hóa và các yêu cầu cụ thể về kỹ thuật và điều kiện thực hiện
để hoàn tất việc mua bán. Hoạt động này diễn ra giữa ngời mua (chủ dự án)
với ngời bán (nhà thầu) và giữa các nhà thầu với nhau nhằm bán đợc sản
phẩm của mình. Thông qua cạnh tranh đấu thầu sẽ hình thành giá thầu - giá
của hàng hóa đem ra bán đây cũng chính là giá dự toán của công trình.
Thứ ba, về phơng thức tổ chức đấu thầu, theo qui định của pháp luật
có ba phơng thức đấu thầu cơ bản mà chủ đầu t dự án có thể lựa chọn tổ chức
đấu thầu, đó là: đấu thầu một túi hồ sơ, đấu thầu hai túi hồ sơ và đấu thầu hai
giai đoạn.
Đấu thầu một túi hồ sơ, là phơng thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu
trong một túi hồ sơ. Phơng thức này đợc áp dụng đối với đấu thầu mua sắm
và xây lắp.
Đấu thầu hai túi hồ sơ, là phơng thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ
thuật và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm.
Túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ đợc chủ dự án xem xét trớc. Theo đó, những hồ
sơ sau khi đánh giá đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ đợc mở tiếp túi hồ
sơ đề xuất về giá để xem xét tiếp. Phơng thức này trong lĩnh vực xây dựng thờng chỉ áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn t vấn.
Phơng thức đấu thầu hai giai đoạn chỉ áp dụng cho các trờng hợp sau:
- Các gói thầu mua sắm và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên;
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ
Đấu thầu hạn chế chỉ áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu;
- Do nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tổ chức đấu thầu hạn chế;
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi
thế.
Thứ năm, về nguyên tắc đấu thầu. Khác với các hình thức mua bán
hàng hóa khác, đấu thầu xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc mua bán đặc
thù, đó là: nguyên tắc công bằng, bí mật, công khai, có đủ năng lực và trình
độ, và đảm bảo cơ sở pháp lý.
Nguyên tắc công bằng thể hiện quyền bình đẳng giữa các chủ thể
tham gia quan hệ đấu thầu. Theo đó, các nhà thầu phải đợc đảm bảo đối xử
bình đẳng trong việc tiếp nhận thông tin từ chủ đầu t, bình đẳng trong việc
trình bày các giải pháp kinh tế - kỹ thuật của mình trớc chủ đầu t, trong quá
trình thực hiện các thủ tục tham gia đấu thầu (nộp hồ sơ, tham gia mở
thầu...).
Nguyên tắc bí mật đòi hỏi chủ đầu t cũng nh các nhà thầu phải giữ bí
mật về các thông số trong hồ sơ dự thầu của các nhà thầu nh: mức giá bỏ
thầu, các giải pháp kỹ thuật của nhà thầu... Mục đích của nguyên tắc này là
tạo ra tính khách quan và sự công bằng giữa các nhà thầu với nhau, đồng
thời, cũng là biện pháp bảo vệ nhằm tránh thiệt hại cho chủ đầu t trong trờng
hợp các nhà thầu bỏ thầu thấp hơn giá dự kiến do có sự rò rỉ thông tin.
Nguyên tắc công khai là một trong những yêu cầu bắt buộc trong đấu
thầu xây dựng (trừ những công trình đặc biệt, là bí mật quốc gia). Các công
trình xây dựng khi đem ra đấu thầu đều phải đảm bảo tính công khai các
thông tin cần thiết nh: tính năng của công trình, điều kiện của các nhà thầu
tham gia đấu thầu, thời gian mở hồ sơ dự thầu... Các thông tin này phải đợc
công khai trên các phơng tiện thông tin đại chúng theo qui định của pháp
luật. Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tạo ra sự công bằng giữa các nhà thầu và
cạnh tranh trong quá trình đấu thầu.
- Theo nghĩa rộng, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự ganh đua
quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đa ra
các giải pháp về kỹ thuật, u thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án,
giá bỏ thầu... nhằm đảm bảo trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp
đồng ký kết với chủ đầu t. Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng thờng đợc
hiểu theo nghĩa rộng, nó có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu xây dựng. Cạnh
tranh trong đấu thầu xây dựng thờng có nhiều chủ thể tham gia, các chủ thể
này có cùng mục tiêu theo đuổi đó là phải giành đợc những lợi thế về phía
mình. Các chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu phải tuân thủ các qui định
của pháp luật, các thông lệ quốc tế và các ràng buộc về điều kiện tham gia
đấu thầu do cơ quan quản lý dự án đặt ra. Các chủ thể khi tham gia đấu thầu
đều phải cạnh tranh với nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan
hệ cạnh tranh giữa các chủ thể khi tham gia đấu thầu. Đó là, mối quan hệ
cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua, theo đó, ngời mua (bên mời thầu) thì
muốn mua đợc công trình xây dựng có chất lợng cao, thời gian thi công
ngắn, chi phí hợp lý, về phía những ngời bán (nhà thầu) thì muốn bán đợc
công trình trong tơng lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn
nhất trong hạn độ bảo đảm các qui chuẩn của xây dựng.
Thứ hai, về đối tợng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng. Khi đánh giá
và quyết định lựa chọn nhà thầu, chủ đầu t thờng căn cứ vào các tiêu chí để
xét thầu, đó là: kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu; khả năng tài chính; trình
độ chuyên môn, kỹ thuật; tiến độ thi công và giá dự thầu. Trong đó, bên mời
thầu chú ý nhiều nhất tới chất lợng, tính năng u việt về kỹ thuật và giá thành
sản phẩm, đó cũng chính là đối tợng cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau.
Cạnh tranh bằng chất lợng công trình, là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong việc đề xuất các giải pháp tốt nhất về khoa học - công nghệ
Cạnh tranh theo chiều rộng (cạnh tranh có giới hạn) bao gồm các yếu
tố chính nh: Đa dạng hóa các công trình xây dựng mà doanh nghiệp kinh doanh
trên cơ sở nguồn lực hiện có; cải tiến phơng thức thanh toán và các điều kiện
thi công trong hợp đồng nhận thầu; nâng cao năng lực xây dựng hồ sơ dự
thầu, đặc biệt là hoạt động giới thiệu và thông tin về doanh nghiệp; đổi mới
công tác tổ chức thi công; tăng cờng hoạt động tìm kiếm thông tin kinh tế;
đẩy mạnh hoạt động marketing, truyền thông...
Cạnh tranh theo chiều sâu (cạnh tranh không có giới hạn) là sự đầu t
của doanh nghiệp thông qua việc nâng cấp thiết bị thi công, nghiên cứu và
ứng dụng những tiến bộ của khoa học - công nghệ vào thi công, nâng cao
trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân, viên chức
trong doanh nghiệp. Cạnh tranh theo chiều sâu thực chất là sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp thông qua việc đầu t nghiên cứu nhằm nâng cao hàm
lợng khoa học - kỹ thuật của hàng hóa chào bán nói riêng (công trình) và
năng lực khoa học của doanh nghiệp nói chung.
Trong thực tế, doanh nghiệp thờng thực hiện cả hai hình thức trên để
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh đấu thầu của
doanh nghiệp xây dựng
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp thờng đợc đánh
giá qua các tiêu chí nh: năng lực tài chính, số lợng công trình trúng thầu, giá
trị công trình trúng thầu; tỷ lệ thắng thầu trong các dự án; chỉ tiêu về lợi
nhuận của doanh nghiệp; chỉ tiêu về chất lợng công trình; chỉ tiêu về kinh
nghiệm, năng lực của nhà thầu... Cụ thể:
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thờng đợc đánh giá qua các chỉ
tiêu sau đây:
* Hệ số vay nợ
Tài sản lu động - Hàng hóa tồn kho
Nợ ngắn hạn
* Khả năng thanh toán tức thời
Tiền mặt
Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
- Lợi nhuận của doanh nghiệp. Hệ số doanh lợi bao gồm:
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn
sản xuất kinh doanh
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn sản xuất kinh doanh
Hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả cạnh
tranh đấu thầu của doanh nghiệp, hệ số này tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Số lợng công trình trúng thầu và giá trị công trình trúng thầu.
Tiêu chí này phản ánh một cách khái quát kết quả, năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp trong hoạt động đấu thầu, tình hình dự thầu, kết quả
hoạt động đấu thầu nói riêng và kết quả kinh doanh nói chung của doanh
nghiệp trong năm. Số lợng công trình trúng thầu phản ánh khả năng và qui
x 100%
Gdt
Trong đó:
P2: Tỷ lệ trúng thầu theo giá trị công trình
Gtt: Giá trị công trình trúng thầu
Gdt: Giá trị công trình dự thầu
- Chất lợng dự án
Chất lợng các dự án chính là chất lợng hàng hóa mà doanh nghiệp
bán ra. Chất lợng dự án là tổng hợp các đặc tính theo yêu cầu của sản phẩm,
của qui trình xây dựng và của ngời sử dụng. Chỉ tiêu về chất lợng các dự án
đó là sự đáp ứng các yêu cầu kinh tế - kỹ thuật của dự án. Trong lĩnh vực xây
dựng, chất lợng sản phẩm chính là chất lợng các công trình xây dựng, nó
biểu hiện ở công năng sử dụng, độ an toàn, tuổi thọ, tính kinh tế, tính kỹ
thuật và mỹ thuật của công trình.
Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện nay, cạnh tranh
thông qua chất lợng các dự án là sự cạnh tranh hết sức gay gắt và không có
giới hạn. Nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao
chất lợng các dự án là việc làm thờng xuyên của doanh nghiệp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp.
Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết
định chất lợng của công trình, là yếu tố quan trọng, có tác động lớn đến
thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong công tác đấu thầu. Đây là
yếu tố hàng đầu quyết định đến uy tín trên thơng trờng, tiến độ thực hiện dự
án và năng lực thi công của doanh nghiệp. Năng lực kỹ thuật của doanh
nghiệp đợc xác định dựa trên một số tiêu chí sau:
Gi
GA
Trong đó:
KG: Là hệ số cạnh tranh về giá của nhà thầu
GA: Là giá gói thầu
Gi: Là giá dự thầu của nhà thầu thứ i (i = 1 ữ m)
Trong thực tế, giá bỏ thầu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nh:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nơi thực hiện dự án, đó là: đờng
giao thông, điện, nớc, khả năng khai thác vật t tại chỗ, trình độ dân trí;
- Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dự án,
- Tiến độ thực hiện dự án
Đối với những dự án xây dựng lớn, thời gian triển khai thờng kéo dài,
do đó nảy sinh nhiều vấn đề nh: trợt giá vật t, chi phí quản lý cao, công trình
chậm đợc đa vào sử dụng....ảnh hởng đến tính hiệu quả của dự án. Vì vậy,
chủ đầu t thờng rất quan tâm đến tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp
và đây là một trong những tiêu chí để xem xét khả năng trúng thầu. Tiến độ
thực hiện dự án xây dựng thờng đợc xem xét trên các khía cạnh:
- Khả năng đảm bảo tiến độ theo qui định đã cam kết;
- Tính hợp lý về tiến độ hoàn thành các hạng mục công trình liên
quan;
- Khả năng rút ngắn tiến độ thi công.
1.2. Những nhân tố tác động đến cạnh tranh đấu thầu
xây dựng của doanh nghiệp
1.2.1. Nguồn lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1.1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành
Đội ngũ này đóng vai trò quan trọng, công việc của họ có ảnh hởng trực tiếp
đến chất lợng, tiến độ của công trình, kịp thời đề xuất những kiến nghị, giải
pháp hợp lý nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công và tiết kiệm chi phí tạo nên
sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Mặt khác, là những ngời có quan hệ trực
tiếp với công nhân, vì vậy, họ có thể dễ dàng nắm bắt đợc tâm t, nguyện
vọng, động viên và chăm lo đến đời sống của công nhân, qua đó, tạo ra sự ổn
định và đồng thuận trong doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu chung.
- Ngời lao động trực tiếp trong doanh nghiệp (công nhân)
Khi đánh giá khả năng của doanh nghiệp, bên mời thầu thờng chú ý
rất nhiều đến lực lợng lao động trực tiếp của doanh nghiệp, họ là công nhân
kỹ thuật, kỹ thuật viên trên công trờng. Đội ngũ lao động lành nghề, có kinh
nghiệm, cơ cấu hợp lý là một lợi thế của doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu
thầu. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, chăm lo đến đời sống
của ngời lao động là vấn đề quan tâm hàng đầu nhằm tạo ra sự ổn định, tăng
cờng uy tín và năng lực của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Khả năng tài chính
Năng lực tài chính có tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp. Năng lực tài chính thể hiện ở qui mô
nguồn vốn tự có, khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng vốn trong sản
xuất kinh doanh và có cơ cấu hợp lý giữa vốn cố định và vốn lu động.
Doanh nghiệp xây dựng có khả năng tài chính cao sẽ có tác động tích
cực đến công tác đấu thầu nói riêng cũng nh hiệu quả sản xuất kinh doanh
nói chung. Một mặt, nó giúp cho doanh nghiệp đảm bảo tài chính để thực
hiện các dự án kinh doanh, mặt khác, nó tạo niềm tin cho chủ đầu t về khả
năng hoàn thành dự án và là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp có thể huy
động vốn bên ngoài từ ngân hàng và các nhà đầu t khác.
Trong đấu thầu xây dựng, năng lực tài chính của nhà thầu là một yếu
tố quan trọng, là tiêu chuẩn để chấm điểm đánh giá năng lực nhà thầu. Mặt
tín kinh doanh, giảm đợc chi phí và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
1.2.1.4. Hoạt động marketing của doanh nghiệp
Hoạt động quảng cáo, tiếp thị là một công việc quan trọng nhằm xây
dựng hình ảnh, quảng bá sản phẩm mà doanh nghiệp chào bán. Đây là một
hoạt động quan trọng có tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong đấu thầu xây dựng.
Với hoạt động sản xuất kinh doanh đặc thù, sản phẩm của doanh nghiệp
xây dựng cũng mang tính đặc thù, nó gắn liền với danh tiếng của doanh nghiệp.
Do đó, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu gắn liền
với hoạt động quảng cáo, tiếp thị.
Hoạt động quảng cáo, tiếp thị đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác,
tính kịp thời của thông tin về doanh nghiệp cũng nh thị trờng; thờng xuyên
tìm hiểu, tiếp xúc với các chủ dự án, bạn hàng, đối tác và với các cơ quan
truyền thông nhằm tuyên truyền, quảng cáo về doanh nghiệp mình. Gây
dựng danh tiếng cho doanh nghiệp là một việc làm hết sức khó khăn, tuy
nhiên, khi đã gây dựng đợc danh tiếng, thơng hiệu có uy tín thì nó trở thành
một trong những nhân tố hết sức quan trọng, có tác động lớn, quyết định
không nhỏ đến việc thắng thầu của doanh nghiệp.
1.2.1.5. Khả năng liên danh, liên kết
Liên danh, liên kết là sự kết hợp giữa các pháp nhân để tạo ra một
pháp nhân mới nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp về kinh tế - kỹ thuật để thực
hiện một mục tiêu kinh doanh nhất định.
Đối với những dự án vợt quá năng lực thực hiện của mình, doanh
nghiệp thờng liên danh, liên kết với nhau để tăng cờng năng lực thi công và
khả năng cạnh tranh của mình. Quá trình liên danh, liên kết có thể đợc thực
hiện theo chiều ngang và theo chiều dọc. Liên danh, liên kết theo chiều
ngang là sự hợp tác của doanh nghiệp cùng ngành với nhau để thực hiện các
1.2.2. Tình hình đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt
động cạnh tranh của doanh nghiệp. Số lợng, năng lực và uy tín của doanh
nghiệp tham gia dự thầu sẽ phản ánh mức độ quyết liệt của quá trình cạnh
tranh đấu thầu. Muốn thắng thầu, doanh nghiệp tham gia dự thầu phải thể
hiện sự vợt trội của mình trớc các đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, việc nghiên
cứu, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh có tác động rất lớn đến việc quyết định giá
bỏ thầu, đề xuất các giải pháp thi công của nhà thầu. Khi tìm hiểu đối thủ
cạnh tranh cần chú ý đến một số vấn đề sau:
- Năng lực tài chính của đối thủ;
- Khả năng thi công, dự báo tiến độ thực hiện dự án, công nghệ mà
đối thủ sẽ sử dụng trong quá trình thi công;
- Mức giá thấp nhất, cao nhất mà đối thủ có thể bỏ thầu.
Trong những năm gần đây, trên thị trờng xây dựng nớc ta đã xuất
hiện nhiều nhà thầu nớc ngoài với năng lực tài chính dồi dào, máy móc thiết
bị và công nghệ thi công hiện đại đã làm cho sự ganh đua trong đấu thầu xây
dựng trở nên khốc liệt. Muốn giành đợc thắng lợi trong các dự án lớn có sử
dụng vốn của nớc ngoài và có nhiều doanh nghiệp nớc ngoài tham gia dự
thầu đòi hỏi các doanh nghiệp trong nớc phải liên kết với nhau, phát huy lợi
thế của mình để cạnh tranh với các nhà thầu nớc ngoài.
1.2.3. Chính sách của Nhà nớc - môi trờng pháp lý trong cạnh
tranh đấu thầu xây dựng
Chính sách của nhà nớc có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp xây dựng nói
riêng. Vai trò của nhà nớc thể hiện qua việc đề ra chính sách (chính sách
thuế, chính sách u đãi đối với các dự án, chính sách phát triển ngành, vùng,
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp) và ban hành các qui định về khung giá vật t,
thiết bị; lơng công nhân, các qui chuẩn về kỹ thuật. Đây là những yếu tố hết
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Muốn tăng cờng năng lực cạnh tranh,
giảm bới sự phù thuộc vào sự biến động của thị trờng hàng hóa và các nhà
cung ứng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lợc xác định bạn hàng dài hạn,
giữ mối quan hệ tốt với các nhà cung ứng và làm tốt công tác dự báo thị trờng, nhằm tạo ra sự đa dạng và chủ động trong việc mua bán hàng hóa đầu
vào cho các dự án.
Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng (nhà cung ứng vốn), ngoài
việc xác lập mối quan hệ tốt, doanh nghiệp còn phải thể hiện đợc sự minh
bạch, tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn của mình, xác lập mối quan
hệ chặt chẽ với nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng để huy động đợc nguồn
vốn lớn, đủ sức tham gia đấu thầu các dự án lớn.
1.2.5. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ đầu t
Đây là mối quan hệ hết sức nhạy cảm, có tác động đến cạnh tranh
đấu thầu cũng nh trong quá trình thực hiện nếu nh dự án trúng thầu. Hiện
nay, pháp luật đã có những qui định chặt chẽ về việc quản lý dự án, mối quan
hệ giữa chủ đầu t với các nhà thầu, trình tự, thủ tục đấu thầu, thanh lý hợp
đồng.
Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò của chủ đầu t dự án đối với doanh
nghiệp vẫn rất lớn. Với t cách là chủ đầu t, họ có quyền lựa chọn t vấn để
đánh giá nhà thầu, vì vậy, sự "u ái" của chủ đầu t đóng vai trò hết sức quan
trọng trong việc cho điểm nhà thầu khi xét thầu cũng nh trong quá trình thực
hiện dự án về sau. Trong những năm vừa qua, mặc dù nhà nớc đã có nhiều
qui định nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa các nhà thầu và chủ đầu t với các nhà
thầu, nhng trong thực tế, sự thiên vị của chủ đầu t đối với một hoặc một số
liên danh nhà thầu trong đấu thầu đã tạo ra môi trờng cạnh tranh không hoàn
hảo, đẩy sự cạnh tranh giữa các nhà thầu trở nên gay gắt, tạo ra sự thiếu minh
bạch và lành mạnh trong đấu thầu xây dựng.