nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 33 (2007 – 2011)
Đề tài: NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ NIÊM YẾT CHỨNG
KHOÁN RA NƯỚC NGOÀI

G/viên hướng dẫn:

S/viên thực hiện:

Ts. Lê Thị Nguyệt Châu

Phan Thị Tường Vân
MSSV: 5075158
Lớp: Luật Thương Mại 2 - K33

CẦN THƠ, THÁNG 4 NĂM 2011


LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………….
.……………………………………………………………………………
..…………………………………………………………………………
…..………………………………………………………………………
……..……………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………............


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1.
2.
3.
4.
5.

GDCK: Giao dịch chứng khoán
TTCK: Thị trường chứng khoán
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
SGDCK TP.HCM: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
TTDGCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán

1.2.2 Hoạt động niêm yết chứng khoán .............................................................. 12
1.2.2.1 Lợi ích cơ bản của hoạt động niêm yết chứng khoán ........................... 12
1.2.2.2 Các phương thức niêm yết chứng khoán ............................................... 13
1.3 Hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài .................. 14
1.3.1 Phát hành chứng khoán ra nước ngoài .................................................... 14
1.3.1.1 Khái niệm ................................................................................................. 14


1.3.1.2 Điều kiện phát hành ................................................................................ 14
1.3.1.3 Thủ tục phát hành chứng khoán ra nước ngoài .................................... 17
1.3.1.4 Những lợi ích khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra nước ngoài .
................................................................................................................................. 19
1.3.1.5 Những tác động tiêu cực khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra
nước ngoài ......................................................................................................................... 21
1.3.2 Niêm yết chứng khoán ra nước ngoài ........................................................... 23
1.3.2.1 Khái niệm ................................................................................................. 23
1.3.2.2 Điều kiện niêm yết chứng khoán ra nước ngoài ................................... 23
1.3.2.3 Thủ tục niêm yết chứng khoán ra nước ngoài ....................................... 25
1.3.2.4 Những lợi ích cơ bản khi niêm yết chứng khoán ra nước ngoài .......... 26
1.3.2.5 Những tác động tiêu cực khi doanh nghiệp niêm yết chứng khoán ra nước
ngoài ……. ...................................................................................................................... 29
1.4 Những lưu ý dành cho doanh nghiệp Việt Nam khi phát hành và niêm yết
chứng khoán ra nước ngoài ........................................................................................... 32
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ NIÊM YẾT CHỨNG
KHOÁN RA NƯỚC NGOÀI ......................................................................................... 37
2.1 Tình hình chung .................................................................................................. 37
2.2 Kết quả đạt được ................................................................................................ 39
2.3 Những hạn chế khi doanh nghiệp phát hành và niêm yết chứng khoán ra
nước ngoài ........................................................................................................................ 47
2.3.1 Những hạn chế khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra nước ngoài 47

ở nước ngoài rất cao, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ hết sức nghiêm ngặt về
chế độ công bố thông tin, chế độ kế toán, kiểm toán theo tiêu chuẩn quốc tế, áp dụng
cách quản trị doanh nghiệp và các điều lệ mẫu... Nhận thức điều đó, cũng như muốn
góp một phần thật nhỏ vào công cuộc tháo gỡ những vướng mắc đang tồn tại, đưa hoạt
động niêm yết và phát hành chứng khoán ra nước ngoài ngày càng phổ biến hơn và đạt
được những hiệu quả đúng như vai trò của nó trong thời gian sắp tới. Đó chính là lý do
tôi chọn đề tài “Hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi một luận văn, với nguồn tài liệu còn hạn chế và khả năng người viết có
giới hạn, bài viết chỉ tiến hành nghiên cứu những khái niệm cơ bản cũng như những
vấn đề chung nhất về hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài.
Ngoài ra do hạn chế về mặc thời gian nên bài viết chỉ xoay quanh những sự kiện từ
năm 2007 đến nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đi sâu và làm rõ các quy định về hoạt động phát hành
và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài, kết quả mà các doanh nghiệp đạt được trong
thời gian qua, những hạn chế mà doanh nghiệp vấp phải và đồng thời tìm ra những giải
pháp nhằm khắc phục thực trạng trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 1


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
Luận văn được viết bằng cách vận dụng các phương pháp sưu tầm, tổng hợp tài
liệu, thống kê và phân tích sau khi tham khảo các tài liệu từ các văn bản pháp luật,
sách báo, tạp chí, bài nghiên cứu khoa học và các bài viết chọn lọc trên Internet.
5. Kết cấu luận văn

trong nước là có hạn. Chính vì lẽ đó mà một số doanh nghiệp đã nghĩ tới việc sẽ huy
động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, nếu thành công thì hoạt động này sẽ mang lại
cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích, mà lợi ích quan trọng nhất là sẽ giải quyết được
vấn đề thiếu hụt về vốn cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Để
đạt được mục tiêu nêu trên, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai giải pháp đó là
phát hành và niêm yết chứng khoán của doanh nghiệp trên các sàn GDCK trong nước
và kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào chứng khoán của doanh nghiệp hoặc
đem chứng khoán của doanh nghiệp trong nước phát hành và niêm yết ra TTCK nước
ngoài. Bởi tính hiệu quả cao, mà lựa chọn được các doanh nghiệp trong nước quan tâm
nhiều nhất trong thời gian gần đây đó chính là đem chứng khoán của doanh nghiệp
trong nước phát hành và niêm yết ra TTCK nước ngoài, mặc dù đây là một bước đi
còn khá mới mẻ và những khó khăn và vướng mắc mà doanh nghiệp gặp phải là rất
nhiều. Để tìm hiểu rõ hơn về hoạt động phát hành là niêm yết chứng khoán ra nước
ngoài, ta cần nắm bắt những khái niệm cơ bản nhất về TTCK. Đầu tiên là khái niệm
phát hành và niêm yết chứng khoán.
Chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới được gọi là phát hành chứng khoán. Nếu
hoạt động phát hành dẫn tới việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu
tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng, nhưng nếu việc phát
hành đó là việc phát hành bổ sung của một tổ chức đã có chứng khoán lưu thông trên
thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung.
Niêm yết chứng khoán là việc đưa một loại chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào
đăng kí giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán,
Sở giao dịch chứng khoán)1.
Hoạt động phát hành chứng khoán song song tồn tại với sự xuất hiện thị trường
chứng khoán, và chỉ khi thị trường chứng khoán ra đời, tiếp đó là sự ra đời của các
Trung tâm, Sở giao dịch chứng khoán thì hoạt động niêm yết chứng khoán của doanh
nghiệp mới thật sự bắt đầu.
1

Khoản 17, Điều 6 Luật Chứng Khoán năm 2006

cách tự phát cũng tương tự ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây Âu khác
và Bắc Mỹ.
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu
giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến năm 1921, ở Mỹ,
khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán chính thức
được thành lập.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật, các phương
thức giao dịch tại các Sở giao dịch chứng khoán cũng đã được cải tiến theo tốc độ và
khối lượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch. Các sở giao
dịch dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao
dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện
tử.
Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán thế giới trải qua một sự phát triển
thăng trầm lúc lên, lúc xuống. Vào những năm 1875 - 1913, thị trường chứng khoán
thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới lúc đó,
nhưng rồi đến “ngày thứ Năm đen tối”2, tức ngày 29- 10- 1929, thị trường chứng
khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản đã khủng hoảng. Mãi cho tới khi chiến tranh thế
giới thứ hai kết thúc, các thị trường mới dần phục hồi và phát triển mạnh và cho tới
năm 1987, một lần nữa các thị trường chứng khoán trên thế giới hoảng loạn với "ngày
2

Giáo trình Luật Chứng Khoán của Đại học kinh tế Hồ Chí Minh

GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 4


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
thứ Hai đen tối" do hệ thống thanh toán kém phát triển không đảm đương được yêu

Nam ra đời rất kịp thời trên cơ sở học hỏi có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình của
TTCK thế giới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
TTCK chính thức ở Việt Nam ra đời tương đối muộn, ngày 20/7/2000 – qua
việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán T.P Hồ Chí Minh. Khác với sự
hình thành TTCK ở một số nước trên thế giới (ở Mỹ, Anh…), TTCK ở Việt Nam được
hình thành và phát triển sau, nên có một hệ thống pháp luật tương đối đồ sộ điều chỉnh
về tổ chức và hoạt động của TTCK. Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ – CP về tổ
chức và hoạt động của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định
48/1998/NĐ – CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ – CP về chứng
3

Tham khảo Giáo Trình “NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN” Ts. Đào Lê Minh chủ biên

GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 5


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006
và Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung năm 2010, đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn
thi hành về chứng khoán, TTCK. Các văn bản này là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự
vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam4.
1.1.2.1 Giai đoạn 2000-2005:
Đây được xem là giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán. Thị
trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng sự ra đời và đưa vào vận hành
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện
phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 và chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại

đầu năm. Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193
4

Ts. Lê Thị Thu Thủy, “Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Chứng khoán và TTCK”, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 12 tháng 12 năm 2007

GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 6


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6
năm trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm
cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.
Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có
sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm
yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng. Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với
tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng. Xét riêng về mức vốn
hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức Việt Nam với 193 cổ phiếu
vào phiên cuối5.
1.1.2.3 Giai đoạn 2007
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị
trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế.
Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường.
Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giao
dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2.3 tỷ chứng khoán tương đương với tổng
giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2.8 lần
giá trị giao dịch so với năm 2006. Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9.2 triệu chứng

Trang 7


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
USD. Tổng giá trị vốn hoá thị trường rơi xuống mức khoảng 10 tỷ USD, không một cổ
phiếu niêm yết nào có giá trị vốn hoá thị trường lớn hơn 1 tỷ USD và chỉ có 4 cổ phiếu
có giá trị vốn hoá hơn 500 triệu USD. Nhà đầu tư nước ngoài đã giảm bán, sau khi bán
ra số cổ phiếu với tổng giá trị 127 triệu USD trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008
đến hết tháng 12/2008, nhà đầu tư nước ngoài chỉ bán ra lượng cổ phiếu có giá trị
khoảng 2 triệu USD trong những tháng đầu năm 2009. Nguyên nhân chính cho điều
này là phần lớn tiền đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, nếu không tính đến những quỹ
đóng, đã rút hết khỏi thị trường Việt Nam (Quỹ đầu tư chứng khoán PXP Vietnam
Emerging Equity Fund đã cho phép nhà đầu tư rút cổ phiếu ra và sau đó họ có thể bán
số cổ phiếu này). Chưa hết thông tin về lợi nhuận các công ty không mấy tích cực.
Tăng trưởng doanh số khoảng 40% so với cùng kỳ năm 2008 nhưng lợi nhuận hoạt
động chỉ tăng 8%. Thua lỗ ở các khoản đầu tư địa ốc và chứng khoán đẩy lợi nhuận
ròng giảm 25%. Trong số 329 công ty niêm yết, 23 công ty thua lỗ, trong đó có cả một
số công ty trước đây từng được nhà đầu tư nước ngoài hết sức ưa chuộng như công ty
cổ phần cơ điện lạnh (REE), Công ty cổ phần Gemadept (GMD) và Công ty cổ phần
cáp và vật liệu viễn thông (SAM).
Tuy nhiên cũng có một số công ty công bố lợi nhuận ấn tượng, đây là những
công ty có hoạt động kinh doanh đi theo hướng thế mạnh và không đầu tư vào thị
trường bất động sản và ngân hàng. Nhưng nhìn chung thị trường chứng khoán Việt
Nam năm 2009 sẽ vẫn khó khăn.
Suốt 2 tháng đầu năm 2009, thị trường chứng khoán không có những bước phát
triển rõ rệt. Bởi trong suốt năm 2008, thị trường vẫn tiếp tục suy giảm với mức độ
ngày càng trầm trọng hơn. Nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường… những yếu tố này
đã làm thị trường sụt giảm rõ rệt. Nhưng đến năm 2010, giá trị huy động vốn gấp 3 lần
năm 2009, tổng giá trị giao dịch ròng của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15.000 tỷ đồng.
Thị trường chứng khoán nước ta không ngừng phát triển và hoàn thiện theo thời

các nguồn vốn hiện có như nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay từ các tổ chức tín
dụng... doanh nghiệp cần phải tạo ra các kênh mới cho việc huy động vốn. Và huy
động vốn thông qua phát hành chứng khoán mang ý nghĩa quan trọng đối với doanh
nghiệp. Đây là hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn lớn, ổn định từ các nhà đầu tư. Bên
cạnh đó nếu như doanh nghiệp phát hành rộng rãi ra công chúng sẽ thu hút được rất
nhiều nhà đầu tư, khi đó doanh nghiệp có thể bán được chứng khoán với giá hợp lý
hơn.
- Quảng bá tên tuổi của công ty: khi công ty phát hành chứng khoán và đặc biệt
là phát hành chứng khoán rộng rãi ra công chúng, công ty có rất nhiều lợi thế trong
việc đưa hình ảnh của doanh nghiệp mình đến người mua chứng khoán của doanh
nghiệp, người dự định mua và cả với những người không mua chứng khoán của doanh
nghiệp. Bởi lẽ nếu như một doanh nghiệp được phép chào bán chứng khoán ra công
chúng, doanh nghiệp đó phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định
của phát luật (các công ty thực hiện việc phát hành chứng khoán ra công chúng đều
phải đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn cao của các cơ quan quản lý thị trường
chứng khoán và phải hoàn thành nhiều thủ tục khá phúc tạp trước và sau khi phát hành
chứng khoán ra công chúng) và đó còn phải là những doanh nghiệp có đủ tiềm lực về
tài chính và phát triển ổn định.
- Thắng lợi trong kinh doanh: đây là một điều kiện thuận lợi để công ty trong quá
trình tìm kiếm bạn hàng và kí kết các hợp đồng kinh doanh. Vì khi đó uy tín doanh
nghiệp được tăng cao và được nhiều doanh nghiệp khác biết đến hơn. Doanh nghiệp sẽ
trở thành một đối tác kinh doanh đáng tin cậy của các nhà đầu tư.
- Thị trường hóa cổ phần của doanh nghiệp: phát hành chứng khoán của doanh
nghiệp còn xem như hoạt động phân tán rủi ro trong quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp thông qua hoạt động mua chứng khoán mà doanh nghiệp đã phát hành của nhà
đầu tư. Giá trị chứng khoán sẽ tăng giảm một phần lớn tùy thuộc vào hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, và nếu như doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả dẫn tới
phá sản thì chủ sở hữu cũng sẽ giảm đi gánh nặng về mặt tài chính mà nó gây ra. Bởi
lẽ, khi doanh nghiệp phá sản thì tất cả những người nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp
sẽ điều phải ghánh chịu những rủi ro nhất định về mặt tài chính của doanh nghiệp, và

- Có cơ hội tham gia, lựa chọn những doanh nghiệp có uy tín, tin tưởng để đầu
tư.
Khi chứng khoán phát hành rộng rãi ra công chúng hoặc chỉ là phát hành cho một
số nhà đầu tư nhất định theo phương thức phát hành riêng lẻ sẽ tạo cơ hội cho nhà đầu
tư tiếp cận doanh nghiệp, thông qua việc tìm hiểu hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, nhà đầu tư có thể tự mình phán đoán xem doanh nghiệp nào là tiềm năng, kinh
doanh có hiệu quả nhất và mua chứng khoán của chính doanh nghiệp đó, một mặt tạo
thêm nguồn vốn cho doanh nghiệp kinh doanh, mặt khác khi doanh nghiệp ngày càng
kinh doanh có hiệu quả thì nhà đầu tư sẽ hưởng được lợi ích từ chính sự lựa chọn của
mình. Bên cạnh đó, như đã nói ở phần trên, khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán
thì uy tín doanh nghiệp tăng lên rất nhiều, nên tính thanh khoản cũng như giá trị chứng
khoán cũng tăng, nhà đầu tư có thể dễ dàng trao đổi, mua bán, cầm cố, quy đổi thành
tiền… khi cần thiết, đó là điều mà nhà đầu tư nhắm tới đầu tiên khi tham gia vào thị
trường chứng khoán.
- Khi phát hành chứng khoán, đặc biệt là phát hành ra công chúng, doanh nghiệp
phải tuân theo pháp luật, làm tăng chất lượng và độ chính xác của các bản báo cáo của
doanh nghiệp do báo cáo được lập theo quy định của các cơ quan quản lý. Từ đó hoạt
động kinh doanh sẽ trở nên minh bạch đối với nhà đầu tư hơn, nhà đầu tư cũng dễ
dàng hơn trong việc theo dõi hoạt động của chính doanh nghiệp mà mình đã đầu tư
vào nhằm đưa ra những quyết định kịp thời để bảo vệ nguồn vốn đầu tư của chính bản
thân mình.
1.2.1.2 Các phương thức huy động vốn thông qua hoạt động phát hành chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn rất quan trọng đối với doanh
nghiệp. Tại đây, doanh nghiệp có thể huy động được một khối lượng lớn các nguồn
vốn trung và dài hạn. Việc phát hành chứng khoán để huy động vốn được thực hiện
theo hai phương thức sau: phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
- Phát hành riêng lẻ là phương thức phát hành trong đó, chứng khoán được bán
trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định (thường là cho nhà đầu tư chiến lược hoặc
nhà đầu tư lớn có ý định nắm giữ chứng khoán lâu dài hoặc cho cổ đông hiện hữu, cán


chào bán chứng khoán ra công chúng phức tạp hơn chào bán riêng lẻ rất nhiều và chịu
sự chi phối rất chặt chẽ bởi những quy định của pháp luật như quy định về nghĩa vụ
công bố thông tin, bản cáo bạch… Chính vì thế mà chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra
cho một đợt phát hành chứng khoán ra công chúng cao hơn so với đợt phát hành riêng
lẻ.
Chào bán chứng khoán ra công chúng có 2 loại:
+ Chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) là hình thức chào bán mà trong đó cổ
phiếu, chứng chỉ quỹ lần đầu tiên được bán rộng rãi ra công chúng để huy động vốn
cho tổ chức phát hành có thể là chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để trở thành
công ty đại chúng thông qua thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng không làm tăng vốn điều lệ
của tổ chức phát hành. Đây là hoạt động liên quan đến quyền lợi, lợi ích của đông đảo
công chúng đầu tư, do đó để bảo vệ những lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, Luật
chứng khoán năm 2006 và Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung đã có những quy định về
vấn đề này và đã được cụ thể tại Chương 2, Nghị định 14/2007/NĐ-CP, Nghị định quy
định chặt chẽ các điều kiện về thủ tục phát hành, yêu cầu người phát hành phải tuân
thủ một cách nghiêm ngặt.

8

Giáo trình Thị trường Chứng khoán của Học Viện Tài Chính

GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 11


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
+ Chào bán thêm chứng khoán ra công chúng là hình thức chào bán thêm cổ phiếu,
chứng chỉ quỹ ra công chúng bao gồm:
 Công ty đại chúng chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng hoặc chào bán quyền

khi doanh nghiệp không cần phải bỏ ra một chi phí lớn cho hoạt động phát hành như
quảng cáo, hoa hồng cho người bảo lãnh… Bên cạnh đó, huy động theo cách này,
doanh nghiệp không phải thanh toán lãi vay cũng như phải trả vốn gốc giống như việc
vay nợ, từ đó sẽ rất chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được cho mục
tiêu và chiến lược dài hạn của mình. Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất khi quyết
định niêm yết chứng khoán trên TTCK.
- Khuyếch trương uy tín của doanh nghiệp: để được niêm yết chứng khoán,
doanh nghiệp phải đáp ứng được những điều kiện chặt chẽ về mặt tài chính, hiệu quả
sản xuất - kinh doanh cũng như cơ cấu tổ chức... Do đó, những công ty được niêm yết
trên thị trường thường là những công ty có hoạt động sản xuất - kinh doanh tốt. Chính
vì thế, niêm yết tô vẽ thêm hình ảnh của công ty trong các nhà đầu tư, các chủ nợ,
GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 12


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
người cung ứng, các khách hàng và những người làm công, nhờ vậy công ty được niêm
yết có thể đón nhận sự thân thiện, tin tưởng hơn mà các nhà đầu tư dành cho họ. Mặc
khác, nhiều người sẽ biết đến doanh nghiệp hơn, chính vì thế mà hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn.
- Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán của doanh nghiệp: Khi các chứng khoán
được niêm yết, chúng có thể được nâng cao tính thanh khoản, mở rộng phạm vi chấp
nhận làm vật thế chấp, và dễ dàng được sử dụng phục vụ cho các mục đích về tài
chính, thừa kế và các mục đích khác.
- Ưu đãi về thuế: Thông thường ở các thị trường mới nổi công ty tham gia niêm
yết được hưởng chính những chính sách ưu đãi về thuế trong hoạt động kinh doanh
như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số năm nhất định9.
- Tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp: xét về dài hạn, giá cổ phiếu của doanh
nghiệp niêm yết đều tăng so với mức giá tại thời điểm trước khi niêm yết.

Tham khảo Giáo Trình “NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN” Ts. Đào Lê Minh chủ biên

GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 13


Nghiên cứu hoạt động phát hành và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài
+ Niêm yết lần đầu: là việc cho phép chứng khoán của tổ chức phát hành được đăng
ký niêm yết giao dịch chứng khoán lần đầu tiên sau khi phát hành ra công chúng
(IPO), khi tổ chức phát hành đó đáp ứng được các tiêu chuẩn về niêm yết.
+ Niêm yết bổ sung: là quá trình chấp thuận của Sở giao dịch chứng khoán cho
phép tổ chức niêm yết (tổ chức phát hành đã có chứng khoán được niêm yết) được
niêm yết các cổ phiếu mới phát hành them với mục đích tăng vốn hay vì các mục đích
khác như sáp nhập, chi trả cổ tức, thực hiện các trái quyền hoặc thực hiện các trái
phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu...
+ Niêm yết toàn phần và niêm yết từng phần: Niêm yết toàn phần là việc niêm yết
tất cả các cổ phiếu sau khi đã phát hành ra công chúng trên một sở giao dịch chứng
khoán trong nước hoặc nước ngoài. Niêm yết từng phần là việc niêm yết một phần
trong tổng số chứng khoán đã phát hành ra công chúng của lần phát hành đó, phần còn
lại không hoặc chưa được niêm yết. Niêm yết từng phần thường diễn ra ở các công ty
lớn do Chính phủ kiểm soát, phần chứng khoán phát hành ra thị trường do các nhà đầu
tư cá nhân nắm giữ được niêm yết, còn phần nắm giữ của Chính phủ hoặc tổ chức đại
diện cho Chính phủ nắm giữ không được niêm yết.
+ Niêm yết lại là việc cho phép một công ty phát hành được tiếp tục niêm yết trở lại
các chứng khoán trước đây đã bị huỷ bỏ niêm yết vì các lý do không đáp ứng được các
tiêu chuẩn duy trì niêm yết.
+ Niêm yết cửa sau: là trường hợp một tổ chức niêm yết chính thức sáp nhập, liên
kết hoặc tham gia vào hiệp hội với một tổ chức, nhóm không niêm yết và kết quả là tổ

Theo biểu cam kết gia nhập WTO, quy định những nghành nghề cấm người
nước ngoài tham gia mà chỉ tồn tại những nghành nghề chưa cho phép người nước
ngoài tham gia (đại lý mua bán, ký gửi hành hóa; dịch vụ cho thuê máy móc, thiết bị
khác; dịch vụ ghi âm; dịch vụ giáo dục phổ thông, cơ sở…) hoặc những ngành nghề
chưa cam kết (hoạt động phiên dịch, dịch thuật, tư vấn kĩ thuật; dịch vụ xuất nhập
khẩu sách báo tạp chí…).
Tại quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định cấm hoạt động
kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền
thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân
dân, làm huỷ hoại tài nguyên, phá huỷ môi trường. Chính phủ quy định cụ thể danh
mục ngành, nghề kinh doanh bị cấm.
Hiện nay, việc xác định ngành, nghề cụ thể cấm kinh doanh (của tất cả các chủ
thể) để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh áp dụng theo quy định
tại:
+ Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của
Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh,
hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;
+ Danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh quy định tại Điều 4 Nghị định
139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp.
Và tại Điều 30 của Luật Đầu tư quy định cấm các dự án đầu tư vào 4 lĩnh vực bị
cấm hoạt động kinh doanh theo Điều 7 Luật Doanh nghiệp nêu ở trên, các dự án xử lý
phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hoá chất độc hại
hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế.
Việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư xác định ngành, nghề cấm đầu tư căn cứ theo
Danh mục 12 ngành, nghề thuộc 4 lĩnh vực cấm đầu tư tại Phụ lục D ban hành kèm
theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu Tư. Những lĩnh vực hạn
chế đầu tư bao gồm 14 lĩnh vực trong đó có ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, các dịch
vụ liên quan đến tài chính, hàng hải, quảng cáo, kinh doanh bất động sản... được quy

chỉ cam kết nền, chung, trọn gói và không bị trói bởi cam kết quốc tế12.
Thứ hai, có quyết định thông qua việc chào bán chứng khoán ra nước ngoài và phương
án sử dụng vốn thu được của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông (đối với
công ty cổ phần), của Hội đồng thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai
thành viên trở lên), hoặc Chủ sở hữu công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên) hoặc của đại diện chủ sở hữu vốn (đối với công ty nhà nước).
Khi doanh nghiệp đi tới quyết định chào bán chứng khoán ra nước ngoài, doanh
nghiệp cần được sự thông qua, xem xét kĩ lưỡng bởi những người đứng đầu doanh
nghiệp phát hành. Thiết nghĩ, doanh nghiệp cần có sự đánh giá và nắm bắt các nội
dung cần thiết cho đợt chào bán.
Trước tiên, doanh nghiệp cần xác định loại hình chứng khoán phát hành (cổ
phiếu, trái phiếu, trái phiếu có kèm chứng quyền...), xem xét loại chứng khoán nào là
phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như thị hiếu đầu tư của nhà
đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mà doanh nghiệp phát hành chứng khoán, và nhiều
yếu tố khác nữa như quy định pháp luật trong nước, sự ưu đãi của nước sở tại đối với
loại hình chứng khoán doanh nghiệp dự định phát hành... Từ đó, doanh nghiệp có thể
lựa chọn loại chứng khoán phát hành để đạt được hiệu quả cao nhất.
Sau đó, doanh nghiệp cần xác định phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt
chào bán. Doanh nghiệp khi muốn phát hành chứng khoán ra nước ngoài nhằm thu
hút nguồn vốn là điều vô cùng hợp lý, nhưng vấn đề sẽ phát sinh điều bất hợp lý khi
ngay cả chính doanh nghiệp cũng không xác định được nguồn vốn mà mình thu được
từ chính đợt phát hành này dùng vào mục đích gì. Khi đó, rõ ràng người chịu bất lợi
trong trường hợp này là chính các nhà đầu tư. Mặc khác, dù có phương án sử dụng vốn
đi chăng nữa, nhưng phương án sử dụng vốn tỏ ra không hợp lý, vốn sử dụng không
nhằm mục đích hiện đại hóa trang thiết bị, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh,
hay nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển của doanh nghiệp... khi đó nhà đầu tư sẽ
không thể có cơ hội tối đa hóa lợi nhuận của mình khi đầu tư vào doanh nghiệp. Chính
vì thế, quy định doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra nước ngoài cần phải có
11


Phương thức bảo lãnh phát hành (nếu có); Chi phí phát hành dự kiến. Đối với phát
hành trái phiếu ra nước ngoài cần lưu ý đến đặc điểm trái phiếu (lãi suất hoặc nguyên
tắc xác định lãi suất, thời gian đáo hạn, quyền và nghĩa vụ của người sở hữu trái phiếu,
phương thức bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán...)
Thứ ba, đáp ứng các điều kiện chào bán theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của
nước nơi tổ chức phát hành đăng ký chào bán.
Ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện để được phép phát hành chứng khoán ra nước
ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức phát hành còn phải đáp ứng được
các tiêu chuẩn mà pháp luật nước ngoài đặt ra. Chỉ có đáp ứng được hai yếu tố trên thì
doanh nghiệp Việt Nam mới có thể phát hành chứng khoán ra nước ngoài. Và điều
kiện đó có nghiêm ngặt hay thông thoáng thì phụ thuộc vào chính sách cũng như
những quy định pháp luật của từng quốc gia mà doanh nghiệp muốn phát hành. Nếu
như quốc gia đó muốn thu hút các doanh nghiệp phát hành chứng khoán trên thị
trường chứng khoán của quốc gia mình, để những nhà đầu tư của họ có cơ hội đầu tư
cũng như muốn mở cửa hội nhập với TTCK thế giới thì các quy định pháp luật sẽ trở
nên thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát hành chứng khoán tại
quốc gia mình, ngược lại thì các quy định sẽ trở nên nghiêm ngặt hơn. Tuy nhiên,
những suy luận trên không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp. Bởi lẽ, với các
TTCK nổi tiếng trên thế giới, thị trường của các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ... đôi
khi những chuẩn mực để được phát hành là rất cao và các tiêu chuẩn đó thì một doanh
nghiệp như Việt Nam khó mà có thể vượt qua nếu không có chuẩn bị thật sự kĩ lưỡng.
Tuy nhiên, những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đó chỉ xuất phát từ một nguyên nhân cơ bản
là quốc gia đó muốn bảo vệ tối đa các nhà đầu tư, hạn chế tới mức thấp nhất những rủi
ro có thể xảy ra với nhà đầu tư.
1.3.1.3 Thủ tục phát hành chứng khoán ra nước ngoài
GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 17



cần phải có những thông báo với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trước khi được sự
chấp nhận của các cơ quan quản lý của nước ngoài.
- Trong thời hạn 15 ngày, sau khi kết thúc đợt chào bán, tổ chức phát hành gửi Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước báo cáo kết quả đợt chào bán, số chứng khoán mà nhà đầu tư
nước ngoài mua, số tiền doanh nghiệp thu được... Mục đích của quy định này là để cho
các cơ quan quản lý Nhà nước về Chứng khoán mà cụ thể là Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước có thể nắm được kết quả đợt chào bán của tổ chức phát hành, nắm bắt được tổng
quát về sự phát triển của TTCK Việt Nam, mà đặc biệt là hoạt động phát hành ra
chứng khoán trong thời gian vừa qua, để từ đó tìm ra nguyên nhân thành công cũng
như thất bại và có những giải pháp phù hợp nhất, khắc phục những hạn chế nhằm thúc
đẩy hoạt động phát hành chứng khoán ra nước ngoài ngày càng phát triển, và đạt được
những lợi ích tối đa mà hoạt động này vốn dĩ có thể mang lại được.
Thủ tục để một doanh nghiệp phát hành chứng khoán ra nước ngoài là không hề
đơn giản, nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam thì hoạt động này tỏ ra còn rất mới
GVHD: Lê Thị Nguyệt Châu

Trang 18


Trích đoạn Những tác động tiêu cực khi doanh nghiệp niêm yết chứng khoán ra nước Những lư uý dành cho doanh nghiệpViệt Nam khi phát hành và niêm yết Tình hình chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status