TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007- 2011)
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN - THỰC TIỄN
TỈNH BẠC LIÊU
Giáo viên hướng dẫn:
Ths.Võ Duy Nam
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Tường Nguyên
MSSV:5075285
Luật thương mại 3-k33
CẦN THƠ, 04/2010
1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
MỤC LỤC
….
Trang
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................1
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNGVỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM PHÁP LÝ VỀ VIỆN KIỂM SÁT .....................3
1.2 VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC...................................................................................5
1.2.1 Vị trí........................................................................................................5
1.2.2 Vai trò .....................................................................................................6
1.3 CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN .............................6
1.3.1 Chức năng công tố...................................................................................7
1.3.2. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp .............................................7
1.4 NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ HỆ THỐNG CƠ CẤU
TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.........................................7
1.4.1 Nguyên tắc hoạt động ..............................................................................7
1.4.2 Hệ thống và cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân..........................9
1.5 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN.............................................................................. 12
CHƯƠNG 2.
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU
2.1 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BẠC
LIÊU ............................................................................................................. 15
2.1.1 Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên và xã hội ................................... 15
CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU....................................................................54
2.4.1. Về tổ chức bộ máy...............................................................................54
2.4.2. Về hoạt động của Viện kiểm sát ..........................................................54
KẾT LUẬN................................................................................................... 58
4
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến
bộ quan trọng. Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi
mới. Nhiều Bộ luật, Luật, Pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý
ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…
Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ,
nhiều quy định của pháp luật vẫn con chồng chéo nhau, thiếu thống nhất,
quy định rải rác ở nhiều văn bản, nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền dẫn đến
việc đùn đẩy trách nhiệm, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế
xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi
mới, hoàn thiện. Tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng
các văn bản pháp luật chưa cao, cơ quan thực thi pháp luật cò hạn chế về tổ
chức cũng như chuyên môn nghiệp vụ, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm và gây
ra nhiều vụ oan sai.
Đất nước Việt Nam đã và đang tiến hành đổi mới một cách sâu rộng
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội...Trong bối cảnh
đó, cải cách tư pháp đã và đang là mục tiếu rất quan trọng có ý nghĩa lâu dài
trong công cuộc đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước. Nhất là sau khi có Nghị
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đã được
nhiều sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu trong nước và nhất là luận văn
của các sinh viên khóa trước đề cập, tại Hội nghị khoa học "Tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân trong tình hình mới" do Ủy ban pháp luật của
Quố hội tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 4/10/2001 thu hút đông đảo
các nhà khoa học tham gia, góp ý kiến.
Ngoài ra, còn một số bài viết khác của các tác giả đăng tải trên Tạp chí
kiểm sát, Tạp chí Luật học, cũng đề cập đến tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân. Nhưng cho đến nay, việc tìm hiểu về tổ chức và hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân vẫn chưa được rõ ràng, có nhiều ý kiến khác nhau.
Vì vậy tiếp tục nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
nói chung và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nói riêng có ý nghĩa quan trọng
về mặt lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua những lý luận chung về Viện kiểm sát nhân dân, các quy chế,
quy trình nghiệp vụ kiểm sát cùng với việc thực tập tại Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Bạc Liêu, người viết muốn tìm hiểu rõ cơ cấu tổ chức và hiệu quả hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc liêu. Qua đó tìm ra được những ưu,
khuyết điểm, đề ra được những biện pháp cần thiết để đổi mới tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đồng thời xây dựng và thực
hiện cơ chế vận hành các mặt công tác kiểm sát từ Trung ương đến địa phương
một cách đồng bộ và hoàn thiện.
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về các quy định chung về Viện kiểm sát nhân dân,
không nghiên cứu Viện kiểm sát Quân sự, tập trung tìm hiểu cơ cấu tổ chức và
hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, tìm ra những
hiện các văn bản đó của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên nhà
nước và công dân; Trong các hoạt động điều tra và truy tố; Trong công tác xét
xử; Trong công tác thi hành án; Trong việc giam, giữ và cải tạo. Chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát do Hiến pháp, Luật tổ chức Viện
kiểm sát và các luật khác quy định.
- Tại điều 1, điều 2 Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002 quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của
pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung
thực, có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có tinh
thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa có thời gian làm công tác
thực tiễn theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành
nhiệm vụ được giao, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát
viên.
- Trong lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan Kiểm sát thì hai từ
“công tố” xuất hiện trong hiến pháp và các văn bản pháp luật. “công tố có
nghĩa là buộc tội nhân danh nhà nước”1. Quyền công tố, thực hành quyền công
tố có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và có liên
quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy và Nhà nước ta. Hiến pháp 1980 là
văn bản đầu tiên của bộ máy Nhà nước đưa ra cụm thuật ngữ “Thực hành
quyền công tố” và từ đó đến nay khái niệm về quyền công tố luôn được làm rõ
về mặt lý luận và thực tiễn. Theo người viết quyền công tố là quyền nhân danh
nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Tòa án.
1
Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa-thông tin năm 1999 trang 937
8
-
các cấp
Hệ thống cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân các cấp
-
Hệ thống cơ quan kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Mặc dù chỉ là một bộ phận trong hệ thống cơ quan nhà nước nhưng Viện
kiểm sát nhân dân tồn tại như một hệ thống độc lập và có một vị trí đặc biệt
quan trọng trong bộ máy Nhà nước.
9
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 và
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì Quốc hội thực hiện quyền
giám sát tối cao đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Quốc hội bầu,
miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
theo đề nghị của Chủ tịch nước
- Đối với Chính phủ: Viện kiểm sát nhân dân độc lập cả về tổ chức,
hoạt động và cơ cấu cán bộ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tập
trung thống nhất lãnh đạo trong toàn ngành
- Đối với cơ quan xét xử: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền
công tố, kiểm sát xét xử và kiểm sát thi hành án của Tòa án
- Đối với chính quyền địa phương: Viện kiểm sát nhân dân không
nằm trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương mà chỉ chịu sự giám
sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp (cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương)
1.3.1 Chức năng thực hiện quyền công tố.
Công tố là nhân danh Nhà nước để truy tố và buộc tội bằng bản cáo
trạng trước Tòa đối với người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 đã quy định trên cơ sở những quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, chức năng này chỉ thể hiện trong tố tụng
hình sự, được thực hiện từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng.
1.3.2 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát
quyền lực Nhà nước bên cạnh các hình thức giám sát và thanh tra, kiểm tra.
Xuất phát từ nhận định Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất, Quốc hội
cần phải có cơ quan để thực hiện quyền lực của mình, Viện kiểm sát nhân dân
giúp cho Quốc hội tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm pháp
luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên toàn quốc. Tuy nhiên hoạt
động kiểm tra và giám sát của Viện kiểm sát nhân dân mang một số đặc thù cơ
bản: đây là nhiệm vụ chủ yếu của Viện kiểm sát, việc kiểm tra và giám sát
được tiến hành trên diện rộng từ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác thuộc
Chính phủ, cơ quan thuộc chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế.., mức
độ thường xuyên liên tục đối với đối tượng bị giám sát.
1.4 NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ HỆ THỐNG CƠ CẤU TỔ CHỨC
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.4.1 Nguyên tắc hoạt động
Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận hợp thành bộ máy Nhà nước nên
các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa
chính là tư tưởng chỉ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát nhân dân: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tập trung
dân chủ, nguyên tắc bình đẳng dân tộc, nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của
Đảng.
1.4.1.1 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ nguyên tắc “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”(điều 12 hiến pháp năm
dân cấp trên, hoạt đông của Viện kiểm sát nhân dân cả nước có sự kết hợp giữa
người đứng đầu và tập thể lãnh đạo, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ
thông qua cơ chế làm việc của Ủy ban kiểm sát, đồng thời Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên phải thường xuyên kiểm tra giám sát hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân cấp dưới, nhưng vẫn phải đảm bảo cho nhân dân trực tiếp hoặc gián
tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thông qua các đại
biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân.Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm báo
cáo công tác trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Người dân có quyền khiếu
nại các quyết định không đúng của Viện kiểm sát nhân dân, của các Kiểm sát
viên, tố cáo các hành vi sai trái của Kiểm sát viên trong khi thi hành công vụ.
12
1.4.1.4 Nguyên tắc bình đẳng dân tộc
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng nhiệm vụ phải đảm bảo
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính,
tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần địa vị xã hội, bất cứ người nào có hành vi vi
phạm pháp luật đều bị xử lý theo đúng pháp luật.
1.4.2 Hệ thống và cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta được tổ chức thành một hệ thống từ
Trung ương đến địa phương, tại điều 30 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
2002 quy định hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Các Viện kiểm sát quân sự.
1.4.2.1 Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:2
- Ủy ban kiểm sát, các Cục, Vụ, Viện, Văn phòng và trường đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, báo bảo vệ pháp luật
Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự;
Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội;
Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng;
Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố
Hồ Chí Minh;
Cục điều tra;
Vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp
hành án phạt tù;
Vụ kiểm sát thi hành án;
Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự;
Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh tế, lao động và
những việc khác theo quy định của pháp luật;
Vụ khiếu tố;
Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Cục thống kê tội phạm;
Vụ kế hoạch- tài chính;
Vụ tổ chức cán bộ;
Ban thanh tra;
Viện khoa học kiểm sát;
Tạp chí kiểm sát; Báo bảo vệ pháp luật, Trường đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ kiểm sát.
1.4.2.2 Tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh, Thành phố trực
thuộc Trung ương.
Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
án; Phòng khiếu tố; phòng thống kê tội phạm; Văn phòng tổng hợp
1.4.2.3 Tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Quận, Huyện và cấp
tương đương.
Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm
có 3 bộ phận công tác: bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử và kiểm sát tạm giữ, tạm giam; bộ phận kiểm sát các vụ việc
dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác
theo quy định của pháp luật, kiểm sát thi hành án và bộ phận văn phòng tổng
hợp, thống kê tội phạm và khiếu tố.4
Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm
có Viện trưởng, các phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên. Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chịu sự giám sát
của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội
4
Điều 36 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
15
đồng nhân dân; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân
dân.
Tóm lại cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân về cơ bản là hoàn
chỉnh, có sự kết hợp giữa người đứng đầu và tập thể lãnh đạo, đảm bảo nguyên
tắc tập trung dân chủ thông qua cơ chế làm việc của Ủy ban kiểm sát.
1.5 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
Với cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu tháng Tám năm 1945, đất nước ta đã
giành được độc lập, cùng với chính quyền mới được thành lập, hệ thống tư
Với thắng lợi của cuộc kháng chống thực dân Pháp và cùng với việc xây
dựng miền Bắc sau ngày giải phóng, Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hoà ra đời. Những quy định về tổ chức bộ máy nhà nước trong
Hiến pháp năm 1959 có những sửa đổi căn bản so với Hiến pháp năm 1946.
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Phó Chủ tịch nước được tách ra
khỏi Hội đồng Chính phủ, là người thay mặt cho Nhà nước về đối nội và đối
ngoại. Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan
hành chính nhà nước cao nhất.
Viện công tố được thay thế bằng Viện kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát
nhân dân cùng với Toà án nhân dân là các cơ quan tư pháp, không còn trực
thuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội. Hiến
pháp năm 1959 xác định cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, nhân viên cơ quan Nhà nước và công
dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương và Viện kiểm sát quân sự. CácViện kiểm sát nhân dân trên chịu sự lãnh
đạo thống nhất của Viện kiểm sát Nhân dân tối cao. Như vậy, theo quy định
của Hiến pháp năm 1959 thì Viện kiểm sát nhân dân các cấp được tổ chức
thành một hệ thống nhất, độc lập với cơ quan xét xử và cơ quan hành chính, chỉ
chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Những quy định của Hiến pháp năm 1959 về tổ chức và hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã được cụ thể hoá bằng Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 1960. Theo quy định tại Điều 4 này thì các Viện kiểm
sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân
dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự. Các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
hoặc đơn vị hành chính tương đương; Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố
thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân
ở các khu vực tự trị
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta đã ban hành Hiến
pháp năm 1980. So với Hiến pháp năm 1959 thì vai trò, vị trí của Viện kiểm sát
Do yêu cầu thực tiễn của xã hội đặt ra, tình hình tội phạm ngày càng
nghiêm trọng và tinh vi, đòi hỏi phải chuyên môn hóa, nâng cao nghiệp vụ, tập
trung công tác phòng chống. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã
được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002.
Theo đó Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các
Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.
Như vậy trải qua hơn 65 năm phát triển (tiền thân của Viện kiểm sát)
Viện kiểm sát nhân dân đã có những chuyển biến tích cực về cơ cấu tổ chức và
hoạt động, góp phân tích cực vào công cuộc bảo vệ Pháp chế Xã Hội Chủ
Nghĩa
18
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU
2.1 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BẠC
LIÊU.
2.1.1 Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên và xã hội
Tỉnh Bạc Liêu nằm ở miền Tây Nam Bộ, thuộc khu vực đồng bằng sông
Cửu Long cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km (về phía bắc). Phía bắc giáp
tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang, phía đông và đông bắc giáp tỉnh Sóc Trăng,
phía tây và tây nam giáp tỉnh Cà Mau, phía đông và đông nam giáp biển Đông.
Bạc Liêu được tái lập với 4 đơn vị hành chính gồm: 3 huyện (Hồng Dân,
Vĩnh Lợi, Giá Rai) và thị xã Bạc Liêu, trong đó thị xã Bạc Liêu là thị xã tỉnh lỵ
của tỉnh. Đến cuối năm 2005, tỉnh Bạc Liêu có 6 huyện (chia tách từ 3 huyện
tỉnh Minh Hải dần dần ổn định và đi vào hoạt động nề nếp có hiệu quả.5
Lúc đó Viện kiểm sát tỉnh Minh Hải có cơ cấu tổ chức gồm các phòng:
-
Văn phòng tổng hợp
Phòng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính,
kinh tế, xã hội.
Phòng kiểm sát điều tra án trị an – an ninh
-
Phòng kiểm sát điều tra án kinh tế
Phòng kiểm sát xét xử hình sự
Phòng kiểm sát xét xử dân sự
Phòng kiểm sát giam giữ cải tạo
Phòng kiểm sát thi hành án
- Phòng khiếu tố
- Phòng điều tra
Và 11 Viện kiểm sát nhân dân huyện, thị xã cụ thể:
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bạc Liêu
-
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cà Mau
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân
Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi
Viện kiểm sát nhân dân huyện Giá Rai
-
quyết định số 13/QĐ – TC thành lập Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Lúc này cán bộ, công chức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu chỉ vỏn
vẹn 25 người kể cả lãnh đạo Viện từ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Minh Hải
chia tách và 4 Viện kiểm sát nhân dân huyện thị, bao gồm: Viện kiểm sát nhân
dân thị xã Bạc Liêu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh lợi, Hồng Dân, Giá
Rai . Trụ sở làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là tòa nhà số
25, đường Hai Bà Trưng, phường 3, thị xã Bạc Liêu, xây dựng từ thời Pháp
thuộc.
13 năm qua, cán bộ Viện kiểm sát tỉnh Bạc Liêu với tinh thần, trách
nhiệm, với phương châm vừa học, vừa làm, vừa xây dựng, vừa hoạt động, nắm
chắc nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới, mặt khác nhờ sự quan tâm chỉ đạo
kịp thời của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sự lãnh đạo của cấp Ủy địa
phương, khó khăn dần dần được đẩy lùi, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu
từng bước tiến lên, phục vụ nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn, phối hợp
với các ngành đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ gìn an ninh
chính trị, bảo vệ trật tự an toàn xã hội của tỉnh nhà
2.1.4 Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu được thành lập theo quyết định số
13/QĐ – TC ngày 28/12/1996 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Biên chế của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu hiện nay gồm có 48
người, được chia thành 6 phòng nghiệp vụ và 1 văn phòng. Sơ đồ sau đây sẽ
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức và bộ máy làm việc của Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu:
6
Kỷ yếu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bac Liêu trang 7
21
kiểm
sát xét
xử phúc
thẩm,
giám
đốc
thẩm,
tái thẩm
án hình
sự
(1
trưởng
phòng,
2 phó
trưởng
phòng
1 kiểm
sát viên
giúp
việc và
4
chuyên
viên)
Phòng
kiểm
sát giải
quyết
các vụ
án dân
và 2
chuyên
viên)
22
Phòng
kiểm
sát
giam
giữ, cải
tạo và
giáo
dục
người
chấp
hành án
phạt tù
(1
trưởng
phòng
và 3
chuyên
viên)
Phòng
tổ chức,
khiếu tố
(1
trưởng
xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự thông qua việc kiểm sát hồ sơ vụ
án, ban hành và phê chuẩn các lệnh, quyết định của cơ quan Điều tra từ giai
đoạn khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra, nếu thấy đủ căn cứ và hợp pháp thì
ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, kiểm sát việc xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự của Tòa án, đọc cáo trạng và nêu ý kiến của Viện kiểm sát liên quan
đến việc giải quyết vụ án.
2.1.4.3 Phòng kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
án hình sự
Thực hiện quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm các bản án, quyết
định của Tòa án có kháng cáo, kháng nghị, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp của bị cáo.
2.1.4.4 Phòng kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh
tế, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật
Kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động từ
khi tòa án thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, phát biểu quan
điểm tại các phiên tòa, phiên họp, báo cáo Viện trưởng, phó Viện trưởng hoặc
Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền xem xét kháng nghị nếu thấy cần
thiết
2.1.4.5 Phòng kiểm sát thi hành án
Bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành một cách
kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật.
2.1.4.6 Phòng kiểm sát giam giữ, cải tạo và giáo dục người chấp hành
án phạt tù
Xem xét việc tạm giam, tạm giữ, gia hạn tạm giam, tạm giữ của cơ quan
Điều tra có căn cứ và hợp pháp hay không, phê chuẩn hoặc đề nghị hủy bỏ,
trực tiếp hủy bỏ các quyết định đó.
2.1.4.7 Văn phòng tổng hợp và thống kê tội phạm
23
vụ án của cơ quan Điều tra hoặc cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt
động điều tra, Viện trưởng, phó Viện trưởng hoặc lãnh đạo đơn vị kiểm sát
điều tra cử ngay Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết
định khởi tố để xem xét và xử lý như sau:
7
Điều 13 và 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
24
- Nếu thấy quyết định khởi tố có căn cứ và hợp pháp thì phân
công Kiểm sát viên làm nhiệm vụ và thông báo cho cơ quan khởi tố biết, nếu
chưa rõ thì yêu cầu cơ quan khởi tố bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ khởi tố
- Nếu thấy quyết định khởi tố rõ ràng là không có căn cứ thì ra
văn bản yêu cầu cơ quan khởi tố hủy bỏ quyết định khởi tố, nếu cơ quan đã
khởi tố không nhất trí thì báo cáo với Viện trưởng, phó Viện trưởng hoặc Kiểm
sát viên được Viện trưởng ủy quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ
án.
- Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội
hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án
báo cáo với Viện trưởng, phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện
trưởng ủy quyền yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu cơ quan khởi tố không nhất trí thì
Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự và phải gửi ngay quyết định này cho cơ quan khởi tố để tiến hành điều
tra trong vòng 24 giờ.
Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử nếu xét
thấy có căn cứ thì chuyển quyết định đó kèm theo tài liệu đến cơ quan Điều tra
có thẩm quyền để tiến hành điều tra, nếu quyết định khởi tố không có căn cứ thì