quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân thực tiễn tại viện kiểm sát nhân dân thành phố cao lãnh thuộc tỉnh đồng tháp - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
___
___

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)

Đề tài:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
THUỘC THẨM QUYỀN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH THUỘC TỈNH ĐỒNG THÁP

Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Diệp Thành Nguyên
Bộ môn: Luật hành chính

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Tuấn
MSSV: S120097
Lớp: DT1263B1

Cần Thơ, tháng 11/2014


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………



MỤC LỤC
Trang

LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 2
5. Bố cục của luận văn .................................................................................................. 2

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO ...................................................................................................................... 4
1.1. Sơ lược quá trình hình thành pháp luật về khiếu nại, tố cáo ............................... 4
1.2. Một số vấn đề khái quát về khiếu nại, tố cáo ........................................................ 8
1.2.1. Khái quát về khiếu nại và giải quyết khiếu nại .................................................... 8
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại ................................................................. 8
1.2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại ................................................. 10
1.2.2. Khái quát về tố cáo và giải quyết tố cáo .............................................................. 10
1.2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của tố cáo ..................................................................... 10
1.2.2.2. Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết tố cáo ..................................................... 12
1.2.3. Các khái niệm liên quan ..................................................................................... 13
1.3. Các nguyên tắc cơ bản của giải quyết khiếu nại, tố cáo ...................................... 14
1.4. Những hành vi bị nghiêm cấm trong khiếu nại, tố cáo........................................ 16
1.5. Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo, khiếu nại và khởi kiện hành chính ............. 19
1.6. Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011
so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005
(hết hiệu lực) ................................................................................................................ 22
1.6.1. Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO
LÃNH THUỘC TỈNH ĐỒNG THÁP ............................................................... 54
3.1. Khái quát về cơ cấu tổ chức và hoạt động của địa bàn ....................................... 54
3.1.1. Đặc điểm chung của thành phố Cao Lãnh ......................................................... 54
3.1.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Cao Lãnh .................................................................................................... 56
3.2. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp ................................................................................ 58
3.2.1. Những mặt đạt được của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo .......................... 58
3.2.2. Những tồn tại của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo..................................... 63
3.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại ......................................................................... 65
3.3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp ....... 66
3.3.1. Giải pháp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo......................................... 66
3.3.2. Kiến nghị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo......................................... 70

KẾT LUẬN ............................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận.
Quyền khiếu nại, tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các quyền công
dân, quyền con người. Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là thực hiện quyền dân chủ
trực tiếp. Một mặt, quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ, phản kháng hợp pháp trước
các hành vi vi phạm pháp luật, mặt khác, thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố
cáo công dân tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát xã hội; kiểm tra, giám sát Nhà
nước. Như vậy, bằng việc phản hồi thông tin trực tiếp cho các chủ thể quản lý, thực

nại, tố cáo trước yêu cầu của cải cách hành chính và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân. Do đó việc chọn đề tài “Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố
cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân - Thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp” nhằm phản ánh phần nào tình hình

thực tế cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo trên địa bàn trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một cách tổng quan về các quy định của pháp luật đối với vấn
đề khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Giúp hiểu rõ hơn quy định, quy
trình về vấn đề khiếu nại, tố cáo cũng như thực tiễn của hoạt động này tại Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Từ đó, đưa ra các giải pháp
hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh
thuộc tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài là một lĩnh vực nghiên cứu của chuyên ngành luật học, nhưng do hạn chế
về mặt thời gian và tài liệu nghiên cứu nên người viết chỉ giới hạn nghiên cứu đề tài
xoay quanh Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011. Đặc biệt là người viết
chỉ tập trung làm rõ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện
kiểm sát nhân dân. Qua đó, người viết đã liên kết với thực tiễn về hoạt động khiếu nại,
tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh
thuộc tỉnh Đồng Tháp nhằm đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả
công tác này trong giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được người viết sử dụng chủ yếu các phương pháp phân tích
luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương
pháp sưu tầm, trích lục số liệu để làm sáng tỏ về mặt khoa học các vấn đề tương ứng
được nghiên cứu trong luận văn.
5. Bố cục của luận văn

nội dung liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo, mặc dù trong văn bản này chỉ có
khái niệm khiếu nại chứ không đề cập đến tố cáo mà dùng thuật ngữ phản ánh, nhưng
việc thành lập và quy định các quyền hạn của Ban thanh tra trong Sắc lệnh thì thấy
rằng Ban thanh tra có nhiệm vụ giám sát hoạt động của Bộ máy Nhà nước, có quyền
tiếp nhận và giải quyết các thư phản ánh của người dân đối với việc làm vi phạm pháp
luật của những người trong bộ máy chính quyền (mà hiện nay gọi là giải quyết tố cáo).
“Nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là thường xuyên nghiên cứu và giải quyết các
đơn thư khiếu nại, phản ánh của các tầng lớp nhân dân từ khắp các địa phương gửi lên
Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh”.1
Thông tư số 60-UBTTr ngày 22/5/1971 của Uỷ ban Thanh tra hướng dẫn trách
nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xét và giải quyết đơn thư khiếu nại và tố cáo
của công dân. Thông tư đã có sự phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo cũng như cách xử
lý đối với từng loại đơn. Theo đó, Đơn khiếu nại là để chỉ những sự việc của đương sự
1

Điều 2, Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Cộng hoà về thành
lập Ban Thanh tra đặc biệt.


khiếu nại vì quyền lợi bị thiệt hại, yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giải quyết (đơn đề
đạt nguyện vọng xếp vào loại đơn khiếu nại); Đơn tố cáo là đơn nói những hành vi sai
phạm của cán bộ, cơ quan làm sai chế độ, chính sách, pháp luật gây thiệt hại cho lợi
ích của tập thể và của Nhà nước. Trường hợp đơn vừa khiếu nại vừa tố cáo thì xem xét
việc nào là chủ yếu mà xếp vào việc đó.2
Triển khai thực hiện Điều 73 Hiến pháp năm 1980 và nhằm xây dựng thể chế
về khiếu nại, tố cáo, ngày 27/11/1981 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy
định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân. Đây là văn bản pháp luật
trực tiếp điều chỉnh vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo, là văn bản đầu tiên hình thành
chế định pháp luật về tố cáo. Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục, xác định thẩm
quyền và trách nhiệm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.

hội khoá XI đã thông qua Luật số 26/2004/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; tiếp đến ngày 29 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp thứ
8, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật số 58/2005/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004.
Tuy nhiên, các Luật sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005 chỉ sửa đổi, bổ
sung một số quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, phần tố cáo không có sự
thay đổi.
Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, Nghị định chủ yếu
hướng dẫn việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại, các quy định về tố cáo và giải quyết
tố cáo trong Nghị định vẫn được quy định như trong Nghị định số 53/2005/NĐ-CP.
Tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp lên Trung ương, xuất phát từ
nhiều nguyên nhân, trong đó một phần do cơ quan hành chính nhà nước ở một số địa
phương còn thiếu trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; hiệu lực,
hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế; kỷ luật, kỷ cương hành chính trong
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa nghiêm. Do đó, ngày 27/10/2004, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg về chấn chỉnh và tăng cường trách
nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo.
Chỉ thị yêu cầu: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Thủ trưởng các cơ quan hành
chính nhà nước phải tổ chức thi hành và thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật về
khiếu nại, tố cáo, Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư và các văn bản
chủ đạo khác của Đảng, Nhà nước. Khi công dân đến trụ sở, cán bộ tiếp công dân
thuộc bất cứ cơ quan nào cũng phải có trách nhiệm tiếp, lắng nghe nguyện vọng của
dân, hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo theo
đúng quy định của pháp luật.
Ngoài những văn bản pháp luật chung về khiếu nại, tố cáo, trong từng lĩnh vực
quản lý hành chính, các cơ quan nhà nước đều ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn

cáo được quy định trong tất cả các ngành, lĩnh vực của cuộc sống, bảo đảm công
dân thực hiện quyền tố cáo của mình một cách đầy đủ. Tuy nhiên, trên thực tế công
tác giải quyết tố cáo còn nhiều hạn chế, hiệu quả giải quyết các vụ việc tố cáo chưa
cao do các quy định về trách nhiệm giải quyết tố cáo còn chung chung, nhiều đầu
mối đã dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, người tố cáo chưa được bảo vệ
đúng mức, còn bị đe doạ, trả thù, trù dập; các chế định về khiếu nại và tố cáo
thường được quy định chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật, nhiều
trường hợp cả người tố cáo và người có thẩm quyền giải quyết tố cáo vẫn chưa
phân biệt được tố cáo và khiếu nại. Để thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà
nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền công dân, xây dựng
xã hội dân chủ, văn minh và hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Dự
án Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo đã được đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp
lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007 – 2011) tại Nghị quyết số
11/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội. Trải qua quá trình soạn


thảo, lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của nhân dân, các bộ, ngành, đoàn thể, các tổ
chức chính trị, chính trị - xã hội. Ngày 25 tháng 8 năm 2010 Chính phủ đã trình Dự
án Luật Tố cáo ra trước Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XII
(Tờ trình số 100/TTr-CP). Ngày 11 tháng 11 năm 2011 Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 đã thông qua Luật Khiếu nại, Luật
Tố cáo có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2012.
1.2. Một số vấn đề khái quát về khiếu nại, tố cáo
1.2.1. Khái quát về khiếu nại và giải quyết khiếu nại
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại
Khiếu nại là “đề nghị xét lại một quyết định hoặc một sự việc mà mình không
đồng ý”.3
Trong lịch sử lập hiến và lập pháp của nước ta, quyền con người, quyền công
dân và những bảo đảm pháp lý cho những quyền đó luôn là vấn đề quan trọng của
Đảng, Nhà nước và xã hội rất quan tâm. Trong bản Hiến pháp năm 1946, mặc dù chưa

bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết
trong thời hạn pháp luật quy định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, hoặc lợi
dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.6 Trên cơ sở
Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành một đạo luật chuyên biệt về khiếu nại là:
Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011. Gần đây nhất Hiến pháp năm 2013 có
hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2014, đã quy định: Mọi người có quyền khiếu nại với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết
khiếu nại. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục
hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại
hoặc lợi dụng quyền khiếu nại để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Khiếu nại có các đặc điểm sau: Một là, chủ thể khiếu nại là công dân, cơ quan,
tổ chức hoặc cán bộ công chức; Hai là, chủ thể bị khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật bị khiếu nại; Ba
là, đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức liên quan đến chủ thể khiếu nại; Bốn là, thủ tục, thẩm quyền
khiếu nại do pháp luật quy định chặt chẽ; Năm là, căn cứ khiếu nại là khi chủ thể khiếu
nại có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ
luật cán bộ, công chức là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể
khiếu nại; Sáu là, mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của chủ thể khiếu nại.
Như vậy, “khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước
hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.7
1.2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại
Việc giải quyết khiếu nại có những vai trò và ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết khiếu nại thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện

1.2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của tố cáo
Cũng như quyền khiếu nại, quyền tố cáo là một quyền cơ bản của công dân.
Quyền tố cáo và quyền khiếu nại gắn bó chặt chẽ với nhau và có nhiều điểm tương
đồng với nhau. Khi quyền khiếu nại bắt đầu được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam
thì quyền tố cáo cũng được quy định và hai quyền này thường được quy định trong
cùng một điều của Hiến pháp. Khi quyền khiếu nại được quan tâm đầy đủ hơn thì
quyền tố cáo cũng được quan tâm đầy đủ hơn. Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp
đầu tiên quy định trực tiếp về quyền tố cáo của công dân. Hiến pháp năm 1959 quy
định: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền tố cáo với bất cứ cơ quan
nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước. Những
việc tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi
phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường.9 Hiến pháp
năm 1980 quy định đầy đủ và phát triển hơn quyền tố cáo của công dân đã được quy
định trong Hiến pháp năm1959. Hiến pháp năm 1980 quy định: Công dân có quyền tố
cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan
8

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2001,
tr.134.
9
Điều 29 Hiến pháp năm 1959.


nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc
các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều tố cáo phải được xem xét và giải quyết
nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được
kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường.
Nghiêm cấm việc trả thù người tố cáo.10 Hiến pháp năm 1992 ra đời đã phát triển hoàn
thiện hơn quy định về tố cáo của công dân. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức

Điều 74 Hiến pháp năm 1992.
12
Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.
11


cáo là một trong những cách thức cơ bản thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của
nhân dân. Cho nên, việc giải quyết tố cáo cũng phải được quan tâm để giải quyết
kịp thời và đúng pháp luật.
Thứ hai, việc giải quyết tố cáo là cách thức để khôi phục và bảo vệ lợi ích của
nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại do hành
vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân bất kỳ trong xã hội.
Thứ ba, thông qua việc tố cáo và giải quyết tố cáo giúp cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phát hiện tình trạng vi phạm pháp luật, diễn biến và nguyên nhân
của tình trạng vi phạm pháp luật trong xã hội. Trên cơ sở đó, Nhà nước có biện pháp
xử lý, loại trừ và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội.
Thứ tư, việc giải quyết tố cáo còn góp phần quan trọng vào việc phát hiện
những vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước nói chung và của cán bộ, công chức
nói riêng; từ đó có biện pháp xử lý và chấn chỉnh các cơ quan nhà nước và đội ngũ
cán bộ, công chức nhằm góp phần đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan
nhà nước. Điều này càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong khi mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân rất quan tâm đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.
Văn kiện của Đảng đã xác định: “Toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã
hội phải có quyết tâm chính trị đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí… Hoàn thiện
cơ chế dân chủ, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò của cơ quan
dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc
giám sát cán bộ, công chức và cơ quan công quyền, phát hiện, đấu tranh với các
hiện tượng tham nhũng”.13
1.2.3. Các khái niệm liên quan
Người khiếu nại: Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,

dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.21
Quyết định hành chính:
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn
đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với
một hoặc một số đối tượng cụ thể.22
Hành vi hành chính: Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính
nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.23
Quyết định kỷ luật: Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ,
công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức.24
Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng
Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là quyết định có hiệu lực thi hành và
người khiếu nại không được quyền khiếu nại tiếp.
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
16

Khoản 5 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011.
Khoản 6 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011.
18
Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011.
19
Khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.
20
Khoản 5 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.
21
Khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011.
22

Khiếu nại, tố cáo được coi là phương thức trực tiếp để thực hiện quyền dân chủ
của công dân. Bởi vậy, dân chủ công khai trong giải quyết khiếu nại, tố cáo càng là
một đòi hỏi quan trọng. Nguyên tắc này đòi hỏi người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải
lắng nghe ý kiến của các bên, đảm bảo tự do dân chủ, bình đẳng trước pháp luật. Trong
giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại cần phải có trách nhiệm đối thoại trực
tiếp với người khiếu nại và người bị khiếu nại để làm rõ nguyên nhân khiếu nại, yêu
cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.
Phải tạo điều kiện cho các bên trình bày quan điểm của mình về nội dung vụ
việc cũng như dự kiến cách thức giải quyết. Đối với quá trình giải quyết khiếu nại lần
hai, người giải quyết khiếu nại phải triệu tập người khiếu nại, người bị khiếu nại để đối
thoại khi cần thiết. Có thể nói đây là hình thức “tranh tụng” theo thể thức hành chính,
nếu làm tốt sẽ khắc phục tệ quan liêu, một chiều khi giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo từ lúc tiếp nhận đơn cho tới khi ra quyết
định giải quyết khiếu nại, tố cáo cuối cùng đều phải công khai, minh bạch, mọi trình tự


thủ tục, mọi quyết định liên quan tới vụ việc mà người giải quyết khiếu nại đưa ra phải
được công bố công khai cho người khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo và người
có quyền và lợi ích liên quan được biết. Vì thế yêu cầu đề cao nguyên tắc này ngày càng
cao.
1.3.3. Tôn trọng sự thật khách quan, thận trọng và vô tư
Nguyên tắc này không chỉ là yêu cầu riêng đối với hoạt động giải quyết khiếu
nại tố cáo trong lĩnh vực tư pháp, mà nó còn là yêu cầu chung đối với tất cả các hoạt
động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các cơ quan quản lý nhà nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi công dân, cơ quan, tổ chức khi thực hiện việc khiếu nại
phải phản ánh trung thực, đúng sự thật mọi tình tiết, diễn biến của sự việc, không lợi
dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo người khác. Bởi nếu cung cấp thông
tin không chính xác sẽ dẫn đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không chính xác của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với người giải quyết khiếu nại, tố cáo nguyên tắc này đòi hỏi phải nhìn

thức về pháp luật của các chủ thể liên quan còn hạn chế hoặc do vì lợi ích chưa thoả
đáng cho nên đã cố ý không thực hiện, thậm chí chống đối, gây mất ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội. Để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, đưa việc
khiếu nại, giải quyết khiếu nại đạt hiệu quả, tránh việc lợi dụng quyền khiếu nại hoặc
quyền công dân để gây rối làm mất ổn định xã hội, Luật Khiếu nại năm 2011 đã có các
quy định cấm đối với một số hành vi trong quá trình khiếu nại, giải quyết khiếu nại tùy
theo đối tượng, tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc
bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Điều 6 của
Luật Khiếu nại năm 2011 đã đưa ra các hành vi bị nghiêm cấm. Cụ thể là: cản trở, gây
phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại;
thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai
lệch các thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố ý giải quyết khiếu nại trái pháp
luật; ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định; bao che cho
người bị khiếu nại; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại; cố tình khiếu
nại sai sự thật; kích động, xúi giục, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác
tập trung đông người khiếu nại, gây rối an ninh trật tự công cộng; lợi dụng việc khiếu
nại để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; xuyên tạc, vu
khống, đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm
giải quyết khiếu nại, người thi hành nhiệm vụ, công vụ khác; vi phạm quy chế tiếp
công dân; vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu
nại.
Đồng thời, cũng quy định các biện pháp xử lý như: Tại Điều 68 Luật Khiếu nại
2011 quy định: “Người nào có một trong các hành vi quy định tại các khoản 5, 6, 7 và
8 Điều 6 của Luật Khiếu nại hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu
nại và giải quyết khiếu nại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
theo quy định của pháp luật”.
Thứ hai, các hành vi bị nghiêm cấm trong tố cáo

cáo năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005. Để triển khai hiệu quả các quy định
này, nhằm hạn chế hành vi khiếu nại, tố cáo sai sự thật trong thời gian tới cần thực
hiện đầy đủ các giải pháp: Một là, cần tuyên truyền sâu rộng Luật Khiếu nại, Luật Tố
cáo đến cá nhân, tổ chức và toàn thể nhân dân để nắm rõ các quy định của pháp luật,
đặc biệt là các hành vi nghiêm cấm và quy định xử lý các hành vi khiếu nại, tố cáo sai
sự thật. Hai là, cần ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
khiếu nại, lĩnh vực tố cáo và triển khai thực hiện nghiêm túc, tránh tình trạng thiếu
nghị định xử phạt như trước đây. Ba là, khi thụ lý đơn thư khiếu nại, tố cáo cần phân
loại cụ thể nội dung nào đúng sự thật thì phải nghiêm túc giải quyết; đối với nội dung


sai sự thật sau khi có kết luận chính thức thì phải chuyển đến cá nhân, cơ quan có thẩm
quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Có như vậy, sẽ hạn chế được các đơn thư
khiếu nại, tố cáo sai sự thật, cũng như tình trạng các đơn thư kéo dài, vượt cấp, phức
tạp như thực tiễn thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo như thời gian qua.25
Nhà nước khuyến khích công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật, do vậy nhà nước có cơ chế động viên đối với
người có thành tích trong việc tố cáo. Thể hiện được tính đặc thù của việc khen thưởng
trong lĩnh vực tố cáo và giải quyết tố cáo, Luật Tố cáo quy định cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thành tích trong việc giải quyết tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn
ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất, tinh
thần.26 Điều 21 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo đã quy định cụ thể về các
loại khen thưởng như sau: Huân chương Dũng cảm; Bằng khen của Thủ tướng Chính
phủ; Bằng khen của cấp Bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể Trung ương; Giấy khen để tặng
hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo, phát hiện, ngăn
chặn hành vi vi phạm pháp luật.
Việc khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc tố cáo giải
quyết tố cáo được thực hiện theo pháp luật về thi đua khen thưởng. Như vậy, không
phải tất cả mọi người tố cáo đều được khen thưởng mà chỉ người tố cáo có công trong


người

khiếu

nại,

tố

cáo

sai

sự

thật,

, [truy cập ngày 24/10/2014].
26

Điều 45 Luật Tố cáo năm 2011.


chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Chủ thể thực hiện quyền tố cáo chỉ có thể là
cá nhân, một người cụ thể. Cá nhân có quyền tố cáo mọi hành vi vi phạm mà mình biết
được, hành vi vi phạm đó có thể tác động trực tiếp hoặc không tác động đến người tố
cáo.
Hai là, về đối tượng của khiếu nại, tố cáo
Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Những quyết định và hành vi này phải tác động

Cơ quan hoặc người có trách nhiệm nhận và giải quyết khiếu nại lần đầu là cơ
quan có người thực hiện hành vi hành chính hoặc người đã ra quyết định hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại
lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng
Hành chính.
Cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo là cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện chức năng nào thì có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc chức năng của cơ quan
đó. Trong trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã tiếp nhận tố cáo nhưng xét thấy
trách nhiệm giải quyết tố cáo không thuộc chức năng của cơ quan mình thì
phải chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho người tố cáo biết. Hành
vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy
định của pháp luật về tố tụng hình sự. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tố cáo mà bị tố cáo thì họ không có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của chính bản thân mình. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tố cáo chỉ có quyền giải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về
nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp.
Sáu là, về thời hạn giải quyết
Thời hạn giải quyết khiếu nại 27 căn cứ vào số lần khiếu nại của người khiếu
nại. Đối với khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý và 45 ngày đối
với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể
kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 60 ngày, đối
với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn). Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không
quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 60 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại
khó khăn (đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn
nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 70 ngày đối với vùng sâu,
vùng xa đi lại khó khăn)
Thời hạn giải quyết tố cáo28 là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức
tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý. Trường hợp cần thiết, người

chính, hành vi hành chính.
Về trình tự, thủ tục giải quyết: khiếu nại được giải quyết theo quy định của luật
Khiếu nại năm 2011, còn khởi kiện vụ án hành chính được thực hiện theo luật tố tụng
Hành chính năm 2010.
1.6. Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011 so với
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu
lực)
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 2004,
2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện, Luật cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn đặt ra. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật
Khiếu nại và Luật Tố cáo nhằm thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
29

Diệp Thành Nguyên, Tài liệu hướng dẫn học tập môn Pháp luật về khiếu nại và khiếu kiện hành chính, Đại
học Cần Thơ, năm 2012, tr. 02.


đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay. Hai Luật này đã được Chủ tịch nước ký lệnh
công bố và có hiệu lực từ ngày 01/7/2012.30 Sau đây người viết xin được giới thiệu
những nội dung mới của hai Luật nói trên.
1.6.1. Những điểm mới của Luật Khiếu nại năm 2011 so với Luật Khiếu nại, tố cáo
năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 (hết hiệu lực)
Luật Khiếu nại năm 2011 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 2, ngày 11/11/2011 và đã được Chủ tịch nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh công bố và Luật có hiệu lực từ ngày
01/7/2012. So với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm

32
Khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998.


Trích đoạn Giải quyết tố cáo Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Nguyên nhân của những tồn tại Giải pháp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo Kiến nghị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status