TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƯ PHÁP
KHOÁ 25 (1999-2003)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỖI TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
SVTH: NGUYỄN THUÝ HẰNG
MSSV:5992677
GVHD: TH.S PHẠM VĂN BEO
Giảng viên Bộ Môn Luật Tư Pháp
l
Cần Thơ-7/2003
LỜI CẢM ƠN
ÿ˜ÿ
Cảm ơn quý thấy cô Khoa Luật Trường đại học Cần Thơ đã truyền thụ cho tôi
những kiến thức quý báu trên lý thuyết và những kinh nghiệm thực tiễn trong quá
trình học tập để hôm nay tôi sử dụng những kiến thức tích luỹ được vào việc hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Chân thành cảm ơn thầy Phạm văn Beo đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Cảm ơn các anh chị, bạn bè luôn đóng góp ý kiến và giúp đỡ tôi trong quá trình
làm luận văn.
Thơ
Tài
tậpphạt
và chỉ
nghiên
cứu
Giá trịliệu
cơ bản
caoCần
nhất của
yếu @
tố lỗi
thể liệu
hiện ởhọc
chỗ hình
có thể đạt
đựơc các mục đích trong điều kiện chúng ta được áp dụng đối với người có lỗi
trong hành vi của mình. Hậu quả sẽ thật tai hại cho xã hội nếu Nhà nước áp dụng
chế tài đối với những người được xem là không có lỗi trong khi thực hiện hành vi
gây nguy hiểm cho xã hội. Ngoài ra, lỗi còn là yếu tố thể hiện tính nhân bản của
pháp luật hình sự. Vì vậy, về mặt lý luận cần phải chính thức thừa nhận rằng: “Xác
định lỗi của người phạm tội là một trong những nguyên tắc trong việc quy định tội
phạm và áp dụng hình phạt của luật hình sự nước ta”.
Nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nguyên tắc có lỗi trong luật hình sự có ý
nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Trước hết, việc nghiên cứu cho phép khẳng
định Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận nguyên tắc quy tội khách quan đây
là nguyên tắc tiến bộ trong Luật hình sự của nhà nước pháp quyền, nguyên tắc cơ
bản được thừa nhận chung của Luật hình sự quốc tế nhằm loại trừ việc buộc tội
khách quan.
Trong Luật hình sự chế định lỗi được xem là một chế định rất phức tạp và
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Lỗi với vấn đề tội phạm.
Chương 3:Lỗi với vấn đề hình phạt.
Kết luận.
Danh mục đề tài tham khảo
.
˜Trong luận văn có sử dụng một số từ viết tắt sau:
LHS: Luật hình sự
BLHS: Bộ luật hình sự
CTTP: Cấu thành tội phạm
HĐXX: Hội đồng xét xử
NLTNHS: Năng lực trách nhiệm hình sự
TNHS: Trách nhiệm hình sự
TAND: Toà án nhân dân
TANDTC: Toà án nhân dân tối cao
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỖI
1.1. Lỗi hình sự và những cơ sơ lý luận
Từ hàng trăm năm trước đây và cho đến tận hôm nay trong khoa học luật
hình sự cũng như trong triết học và tâm lý học, lý luận về lỗi được xây dựng trên
tập
nó là pháp luật; b) Sự buộc tội về hình sự là một dạng của trách nhiệm đạo đức,
mà cơ sở của nó là coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi được thực
hiện, còn theo quan điểm của Heghen thì: a) Sự hiện diện của lý trí và ý chí chính
là điều kiện chung của sự buộc tội; b) Lỗi là trong sự khẳng định rằng, chủ thể là
người biết suy nghĩ đã nhận thức và đã mong muốn.
Theo quan điểm của những người đại diện cho trường phái cổ điển trong
khoa học luật hình sự thì lỗi là trách nhiệm hình sự hoàn toàn dựa trên ý chí tự do
tuyệt đối của con người; mà trong những điều kiện hoàn toàn như nhau có thể lựa
chọn bất kỳ quyết định nào không trái với mình. Đặc biệt, Nhà hình sự học người
Đức thuộc trường phái này A.Bernher coi cơ sở của việc buộc tội về hình sự là ý
chí hoặc tự do của con người, được thể hiện trong sự hành động tuỳ tiện của cá
nhân và phù hợp với động cơ. Quyết tâm và ý định bên trong của người đó. Còn
nhà hình sự học A.Phơbách thời kỳ đầu coi sự buộc tội không phụ thuộc vào tự do
ý chí, nhưng sau đó đã thay đổi quan điểm và thừa nhận tự do ý chí là điều kiện
của sự buộc tội do lỗi.
Đưa ra nguyên tắc về sự hợp lý của việc áp dụng các biện pháp tự vệ xã hội
để mong thay thế cho nguyên tắc buộc tội chủ quan, những người đại diện cho
trường phái xã hội học cho rằng: a) Lỗi của chủ thể được coi là tình trạng nguy
hiểm của người đó; b) Ba phạm trù như lỗi, tình trạng năng lực và tình trạng
không có năng lực là các tiêu chí của tính nguy hiểm cho xã hội…
.
Tóm lại, cho đến nay trong khoa học luật hình sự về cơ bản tồn tại ba trường
phái lý luận chủ yếu về lỗi dưới đây:
a) Lý luận lỗi về tình trạng nguy hiểm – khi lỗi của người phạm tội được hiểu
là tính nguy hiểm của nhân thân người đó, còn hành vi thì lại được coi là sự biểu
hiện của chính tình trạng nguy hiểm ấy.
b) Lý luận về đánh giá lỗi – khi lỗi của chủ thể được xác định bằng sự phán xét có
mưu với sự cố ý giết người thì xử chém giam chờ” Điều 265 – xe ngựa làm người
bị thương chết người - Hoàng Việt Luật qui định: “Phàm vô cớ không được cho
xe, ngựa chạy nhanh tha hồ nơi tiệm buôn, phố chợ. Nhân đó làm người ta bị
thương thì giảm một bực theo thường nhân đánh lộn có thương tích. Nếu nhân đó
chết người thì phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm”.
Thời kỳ miền Bắc xây dựng CNXH, mặc dù định nghĩa pháp lý của khái
niệm lỗi chưa được chính thức ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật
hình sự nhưng các văn bản của Toà án đã có sự phân biệt giữa các hình thức lỗi:
cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả. Về lỗi cố ý,
trong Báo cáo tổng kết số 425 – HS2 ngày 10/08/1970 của TAND tối cao về thực
tiễn xét xử loại tội giết người đã đưa ra khái niệm lỗi cố ý trực tiếp và giáp tiếp
như sau: “Trong tội giết người, từ nhiều năm nay, thực tiễn xét xử của ta đã xác
nhận có hai hình thức cố ý: có sự cố ý trực tiếp khi can phạm thấy rõ hành động
của mình sẽ có hậu quả làm chết người khác, và chính vì mong muốn cho hậu quả
xảy ra nên đã có hành vi.
Bên canh đó, cũng có một số trường hợp gọi là cố ý gián tiếp: can phạm
không mong muốn nạn nhân chết nhưng biết rằng hành vi của mình có nhiều khả
năng làm nạn nhân chết mà vẫn cứ làm và không trông mong vào một điều kiện cụ
thể nào có thể ngăn chặn cho hậu quả đó đừng xảy ra. Ý thức chủ quan của can
phạm là ý thức mặc kệ không quan tâm đến nạn nhân sống hay chết: sống cũng
được
mà chết
mặc,
muốn
ra sao
thì ra”.
Trung
tâm
được”.
Định nghĩa này đã phân biệt hai hình thức lỗi vô ý: vô ý phạm tội vì cẩu thả
và vô ý phạm tội vì quá tự tin.
Sự ra đời của Bộ Luật hình sự 1999 một mặt thể hiện sự kế thừa chế định lỗi
của các thời kỳ trước đồng thời cũng là sự khẳng định vai trò quan trọng của chế
định lỗi trong Bộ Luật hình sự theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, được ghi
nhận tại Điều 9: “Cố ý phạm tội” và Điều 10: “Vô ý phạm tội”.
1.2.1 Khái niệm lỗi
Luật hình sự XHCN và Luật hình sự của nước ta đã nêu ra một số dấu hiệu
cơ bản của mặt chủ quan của tội phạm. Lỗi là dấu hiệu cơ bản nhất của mặt chủ
quan của tội phạm. Động cơ, mục đích là những dấu hiệu của tội phạm.
Khái niệm về lỗi được thể hiện trong Bộ luật hình sự tại Điều 9, 10, việc xác
định hành vi nguy hiểm có lỗi hay không có lỗi là điều kiện bắt buộc, bởi vì một
người nào đó gây ra một hành vi dù là có nguy hiểm đến đâu nhưng không có lỗi
Trung
tâm Học
liệu ĐH
Thơphải
@chịu
Tàitrách
liệunhiệm
học hình
tập sự.
vàNguyên
nghiên
thì không
là tội phạm
và dóCần
đó không
tắccứu
qui luật đó một cách có kế hoạch vào những mục đích nhất định… tự do của ý chí
không phải là cái gì khác hơn là cái năng lực quyết định một khi đã hiểu rõ sự
việc.
Khi nói đến tự do là nói đến sự tự do hành động, và như vậy, con người trước
khi hành động phải có sự lựa chọn, quyết định và điều khiển hành vi theo sự nhận
thức của mình cũng chính vì vậy họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Tự do ý chí và trách nhiệm của con người chính là mối quan hệ biện chứng giữa
nhận thức và hành vi của một con người. Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách
nhiệm chỉ đặt ra cho một người khi họ được tự do.
Một người chỉ bị coi là có lỗi khi họ được tự do ý chí, tức là họ nhận thức
được việc mình làm. Nếu khi hành động, con người không nhận thức được hành vi
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hoặc không điều khiển được hành vi của mình thì họ không bị coi là có lỗi. Khoa
học luật hình sự gọi là năng lực trách nhiệm hình sự. Một người có năng lực trách
nhiệm hình sự được coi là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Trong sách báo pháp lý hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm
lỗi. Tuy nhiên, tựu lại có thể hiểu theo hai nghĩa sau:
˜Theo nghĩa rộng: Lỗi là cơ sở của trách nhiệm hình sự, gồm các yếu tố
khách quan, chủ quan. Quan điểm này có sự lẫn lộn giữa lỗi và tội phạm, dẫn tới
việc hiểu rằng lỗi là do con người đánh giá nó. Điều này trái với quan điểm của
pháp luật hiện nay: Lỗi là thái độ tâm lý của một người, tồn tại khách quan không
phục thuộc vào người đánh giá nó.
˜ Theo nghĩa hẹp: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi
và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức vô ý hay cố
ý, có nội dung là sự phủ định chủ quan những giá trị mà pháp luật tôn trọng và bảo
vệ.
Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn nước ta chấp nhận.
1.2.2 Bản chất của lỗi trong Luật hình sự và những dấu hiệu của nó
liệu
học tập
trong,
nhân
tố tâm
lý thúc
kẻ phạm
hiện
tội phạm.
Theovà
tâmnghiên
lý học, cứu
động cơ là yếu tố dẫn đến quyết định sai trái đối với các quan hệ xã hội một cách
trực tiếp. Nhưng động cơ có thể là có ý thức và có thể là không có ý thức phạm
tội.
Khi xét đến động cơ phải xét đến mục đích, mục đích phạm tội bao giờ cũng
cụ thể. Các tội thực hiện do cố ý trực tiếp điều có mục đích rõ ràng. Các tội thực
hiện do coá ý giáp tiếp và vô ý điều không có mục đích phạm tội.
1.2.3. Các điều kiện để xác định tính có lỗi của tội phạm
Như đã trình bày ở trên, tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt
ra cho một người khi họ có tự do. Đối với trách nhiệm pháp lý nói chung, Nhà
nước ta đảm bảo bằng các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội và bằng cả cơ
sở pháp lý đối với cá nhân, bảo đảm cho họ có một năng lực pháp luật tương ứng
với địa vị xã hội của họ. Theo đó, Luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam qui định một người được coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội nếu họ có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt một độ tuổi nhất định.
1.2.3.1. Năng lực trách nhiệm hình sự
NLTNHS là một điều kiện cần thiết để thừa nhận một người là có lỗi khi họ
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo Điều 15, khoản 1 của Bộ luật hình
.
1.2.3.2. Độ tuổi
Con người bẩm sinh đã có NLTNHS, đó là năng lực của tự ý thức được hình
thành trong quá trình pháp triển của cá thể về mặt tự nhiên và xã hội. Mỗi con
người bình thường điều có khả năng hình thành và phát triển ý thức và tự ý thức.
Nhưng phải trải qua quá trình hoạt động và giáo dục trong điều kiện xã hội cùng
với sự phát triển của trí tuệ về mặt sinh học của đó mới có thể có đựơc NLTNHS.
Ở nước ta, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, có tham khảo
Luật hình sự của các nước khác, Bộ luật hình sự qui định: “Người đủ 14 tuổi trở
lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Người đủ 16 tuổi trở lên
phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” (Điều 12, Bộ luật hình sự). Như
vậy, thực tiễn áp dụng Bộ Luật hình sự, người chưa đạt độ tuổi bắt đầu có
NLTNHS sẽ luôn được coi là không có lỗi vì chưa có đủ điều kiện để có lỗi (1).
1.3. Các hình thức và các dạng lỗi
1.3.1. Yêu cầu phân loại lỗi
Tính nguy hiểm cho xã hội vừa là cơ sở cho việc phân hoá trách nhiệm hình
sự trong Luật hình sự, vừa là cơ sở đề ra cá thể hoá hình phạt trong thực tiễn áp
dụng hình phạt.
Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu, nhưng những hành vi phạm tội cụ thể
có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Những hành vi phạm tội
khác nhau ngay ở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong đó
yếu tố chủ quan là một trong những thành tố không thể thiếu để tạo nên tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi, sẽ làm các tội phạm khác nhau về tính nguy hiểm, từ
đó tạo tiền đề hay cơ sở cho việc phân loại tội phạm và cá thể hoá hình phạt.
Chúng ta áp dụng một hình phạt không phải trừng trị một hành vi mà để
trừng trị người đã thực hiện hành vi phạm tội nhằm để cải tạo, giáo dục họ. Mục
đích chỉ đạt được khi hành phạt được áp dụng cho người có lỗi. Đối với người
công và không thể đạt được mục đích hình phạt. Cho nên vấn đề đặt ra là cần phải
có sự phân loại lỗi trong pháp luật hình sự
1.3.2. Các hình thức lỗi trong Luật hình sự Việt Nam
(1) Chẳng hạn về tuổi chịu TNHS đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia Nghị quyết số 04/
HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội dồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao ghi nhận “…người đã đủ 14 tuổi
trở lên, nhưng chưa đủ 6 tuổi, phải chịu TNHS về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tức là hầu hết các
tội xâm phạm an ninh quốc gia; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”:
nghĩa là nếu người đó phạm tội lúc chưa đủ 14 tuổi thì không phải chịu TNHS ngay cả khi phạm tội do cố
ý.
1.3.2.1. Hình thức lỗi cố ý
Xét về mặt lý luận căn cứ vào các tiêu chí khác nhau của các nhà nghiên cứu
đã đưa ra các hình thức lỗi cố ý khác nhau. Chẳng hạn, căn cứ vào yếu tố lý trí và
ý chí của sự cố ý người ta chia ra: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp; căn cứ vào thời
điểm xuất hiện và hành thành sự cố ý có hình thức: cố ý dự mưu, cố ý đột xuất;
căn cứ vào mức độ cụ thể của sự nhận thức được hậu quả nguy hại do hành vi của
chủ thể sẽ xảy ra có cố ý xác định, có ý không xác định…
Tuy nhiên, hình thức lỗi cố ý được thừa nhận chung trong cả ba lĩnh vực thể
hiện trong Luật hình sự Việt Nam (pháp luật hình sự thực định, khoa học và thực
tiễn xét xử) gồm hai dạng: cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
˜Về lỗi cố ý trực tiếp:
Kẻ phạm tội biết rõ được hành vi nguy hiểm của mình sẽ dẫn đến hậu quả
thiệt hại, nhưng vẫn cứ thực hiện. Cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội
nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của
hành vi đó và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra (khoản 1, Điều 9, Bộ luật hình
sự): “Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội” là
thể hiện về lý trí của người phạm tội. Nhận thức rõ là không còn một nghi ngờ nào
về tính nguy hiểm của hành vi, như: khi chĩa thẳng súng vào đầu người khác bóp
không chỉ căn cứ vào lời khai của người phạm tội hay người bị hại.
˜Lỗi cố ý giáp tiếp.
Cố ý giáp tiếp là trường hợp người phạm tội nhân thức rõ hành vi của mình là
nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của chính hành vi đó có thể gây ra, tuy
không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Về lý trí: Cố ý gián tiếp cũng giống như cố ý trực tiếp ở chỗ người phạm tội
cũng nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng khác cố ý trực
tiếp là chỉ thấy trước hậu quả của hành vi có thể xảy ra chứ không chắc chắn xảy
ra. Đối với người có lỗi cố ý gián tiếp, việc xảy ra hậu quả không có ý nghĩa gì
hậu quả xảy ra hay không họ điều chấp nhận.
Như vậy, khi xét sâu hơn về lý trí người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp thấy
rằng: không thể có trường hợp người phạm tội nhân thức được hậu quả tất yếu sẽ
xảy ra mà chỉ tồn tại trong trường hợp người đó nhận thức được hậu quả có thể
xảy ra. Bởi vì, thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra hoặc thấy trước khả năng hậu
quả có thể không xảy ra. Còn nếu họ thấy được hậu quả tất yếu phải xảy ra thì
không thể có ý thức để mặc được. Ví dụ: Một người mắc điện trên hàng rào để
phòng kẻ trộm và hậu quả là một em bé đã chết khi em leo vào nhà lượm quả banh
mà em đá vào sân nhà người này. Trong trường hợp này, người phạm tội không
mong muốn cho hậu quả xảy ra mà chỉ có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Chính sự không mong muốn và để mặc cho hậu quả xảy ra này là cơ sở để khẳng
định một người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp ít thể hiện ý thức
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chống đối xã hội hơn so với người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong trường này không phù hợp với mục đích
họ đặt ra. Người phạm tội nhằm tới mục đích khác, nhưng để đạt được mục đích
này họ chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra.
Về phần lỗi cố ý, theo tôi, Điều 9 cố ý phạm tội chưa làm rõ về mặt thuật ngữ
thực tế lại không như họ tưởng. Cũng chính vì thế mới gọi là tự tin (tin mà không
có căn cứ vững chắc).
Về ý chí: người phạm tội không mong muốn cho hậu quả xảy ra. Điều này
thể hiện ở ngay nhận thức của họ đối với hành vi, cho rằng hậu quả không xảy ra
Trung
tâm
Học
ĐHthức
Cần
Thơvi @
họcxảytập
và nghiên
thì sẽ
không
thể liệu
có nhận
về hành
nhưTài
vậy. liệu
Hậu quả
ra cũng
là ngoài ýcứu
muốn của họ. Tuy nhiên, người phạm tội cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc
có thể ngăn ngừa được, nhưng niềm tin của họ thiếu căn cứ, sự tính toán của họ
qua thực tế chứng minh rằng họ đã sai lầm, tức là đánh giá sai chính bản thân
mình cả về mặt chủ quan lẫn khách quan.
˜Lỗi vô ý vì cẩu thả:
Vô ý vì cẩu thả mà người phạm tội không thấy trước khả năng gây hậu quả
nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước.
Khác với vô ý vì quá tự tin và các hình thức vô ý, người phạm tội do vô ý vì
Trung
ĐHquả
Cần
@xảy
Tàira”.
liệu
vàmực
nghiên
kháitâm
niệmHọc
“cho liệu
rằng hậu
đó Thơ
sẽ không
Vì học
ở mộttập
chừng
nào đócứu
thời điểm lý trí của dạng lỗi vô ý này cũng giống như lỗi cố ý gián tiếp – người
phạm tội do vô ý vì quá tự tin cũng thấy trước khả năng xảy ra hậu quả (mà ở đây
là khả năng thực tế chứ không phải trừu tượng) nên việc cho rằng “hậu quả sẽ
không xảy ra" là vô lý. Chẳng hạn: khi một người lái xe đến ngã tư gặp đèn đỏ, dù
nhận thức được đó là hành vi vi phạm các qui định về an toàn giao thông, thấy
trước là hậu quả đụng nhau với xác phương tiện tham gia giao thông khác, nhưng
vì chủ quan tin vào thắng xe tốt, tay lái cứng, và nghĩa rằng các người khác khi
tham gia giao thông cũng sẽ thận trọng… nên sẽ ngăn ngừa đựơc hậu quả xảy ra
(nếu có) nhưng kết quả là tai nạn xảy ra, người đó đã đụng chết một người khác.
Như vậy, sự tính toán của người gây ra tai nạn là sai lầm – quá tự tin (chủ quan),
vì đối với việc ngăn ngừa hậu quả đó thực sự đã không đủ các cơ sở mà quá tự tin
là mình ngăn ngừa được.
Tóm lại, Luật hình sự Việt Nam không thừa nhận hình thức hỗn hợp lỗi, bởi
lẽ, nếu thừa nhận sẽ không thể xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội
khi có thái độ tâm lý khác nhau đối với hành vi và đối với hậu quả. Ví dụ: một
người cố ý gây thương tích nhưng dẫn đến hậu quả làm chết nạn nhân mà xác định
vừa cố ý vừa vô ý (cố ý với hành vi, vô ý với hậu quả) thì trách nhiệm hình sự của
người này sẽ là cố ý gây thương tích và vô ý làm chết người, điều này trái với
nguyên tắc xử lý.
1.4 . Các trường hợp loại trừ tính chất lỗi của hành vi
Một người sẽ không bị xem là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm nếu tồn
tại năng lực chủ quan của chủ thể để lựa chọn nhưng không tồn tại cách cư xử hợp
với lợi ích và yêu cầu của xã hội để lựa chọn hoặc ngựơc lại tồn tại cách cư xử để
lựa chọn nhưng không có năng lực lựa chọn và quyết định. Theo đó, các trường
hợp loại trừ tính chất lỗi của hành vi phân thành hai nhóm:
˜ Nhóm1: Gồm các trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự:
Điều 13: Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; Điều 12: Tuổi chịu
trách nhiệm hình sự; và Điều 15: Phòng vệ chính đáng. Đó là các trường hợp chủ
thể không có lỗi đối với hành vi gây thiệt hại khách quan do họ thực hiện, bởi vì
không đủ điều kiện để có lỗi hoặc hành vi gây thiệt hại không phải được thực hiện
dưới sự nhận thức và điều khiển của lý trí và ý chí.
Ngoài những trường hợp không thoả mãn các điều kiện để có lỗi đã nêu trên:
không có năng lực trách nhiệm hình sự, không đủ độ tuổi qui định… Luật hình sự
Việt nam còn qui định trường hợp cụ thể: một người sẽ không có lỗi do không thể
nhận thức trước và không buộc thấy trước hành vi đó. Điều 11 BLHS gọi đó là sự
kiện bất ngờ: “Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự
kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải
thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”
Đặc điểm quan trọng về chủ quan của trường hợp này là người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể lựa chọn hay nói cách khác là không có
việc thực hiện hành vi của mình. Luật hình sự không những không truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với những người này mà còn khuyến khích họ thực hiện tạo cơ
sở pháp lý cho công dân phát huy quyền làm chủ tập thể.
Tuy nhiên, khi một người thực hiện các hành vi gây thiệt hại nhằm bảo vệ lợi
ích chung hay lợi ích chính đáng của cá nhân phải biết dừng lại ở chừng mực cho
phép: gây thiệt hại cần thiết hoặc nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Nếu vượt quá
những điều kiện mà Luật hình sự cho phép thì người gây thiệt hại vẫn được xem là
có lỗi về việc vượt quá giới hạn trong hành vi của mình và phải chịu trách nhiệm
hình sự.
Trong thực tế, theo tôi, còn có nhiều trường hợp qui định tội phạm không hợp
lý và không có khả năng thực thi. Chẳng hạn, Điều 18 tội che giấu tội phạm thuộc
phần chung và Điều 313 tội che giấu tội phạm. Bởi leõ, nếu xem xét các trường hợp
này trong mối quan hệ quy phạm đạo đức, phong tục tập quán và truyền thống dân
tộc sẽ thấy sự thiếu hợp lý của nó. Thực vậy, trong các mối quan hệ gia đình, xã
hội thì cha con anh em vợ chồng luôn có ý thức đùm bọc, bảo vệ lẫn nhau, chăm
sóc giúp đỡ lẫn nhau. Bởi lẽ: “anh em như thể tay chân” hay “Hổ dữ không ăn thịt
con”. Đó là một truyền thống tốt đẹp mà bất kỳ xã hội nào cũng phải công nhận và
tuân theo.
Bởi những lẽ trên, theo tôi nên bổ sung thêm vào các điều luật này phần qui
địnhtâm
về đối
tượng
không
chịuThơ
trách @
nhiệm
sự học
khi thực
Trong LHSViệt Nam, cấu thành tội phạm cơ bản phản ánh những nội dung,
biểu hiện cấu trúc có tính đặc trưng của một loại tội, để cho phân biệt tội này với
tội khác. Mỗi loại cấu thành sẽ xác định được một loại tội. Việc phân loại cấu
thành tội phạm là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định tội
danh. Mặt khác, lỗi- một yếu tố quan trọng của mặt chủ quan trong cấu thành tội
phạm, là một trong những căn cứ để phân loại cấu thành tội phạm. Chính vì vậy có
thể nói lỗi có vai trò to lớn trong vấn đề định tội.
Lỗi - căn cứ quy định hình phạt đối với từng loại tội phạm. Là yếu tố xác
định tính nguy hiểm nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Ở từng loại tội phạm, tính
nguy hiểm của hành vi có thể là một cơ sở để các nhà làm luật quy định hình phạt.
Chính vì vậy, xét về mặt logic, lỗi chính là một trong những căn cứ để quy định
hình phạt đối với từng loại tội, nói cách khác, hình thức và mức độ lỗi không chỉ
có ý nghĩa định tội mà còn là căn cứ để lượng hình và quy định hình phạt.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
.
,
.
Chương 2
LỖI VỚI VẤN ĐỀ TỘI PHẠM
2.1. Khái niệm tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam
Tội phạm là một hiện tượng xã hội, nó xuất hiện từ khi xã hôi phân chia giai
cấp và luôn gắn liền sự phát triển của xã hội, do đó khái niệm của tội phạm cũng
hình thành và phát triển theo từng giai đoạn của sự phát triển xã hội. Mỗi xã hội,
mỗi chế độ chính trị có quan niệm về tôi phạm khác nhau. Luật hình sự nước ta
cũng như Luật hình sự của các nước XHCN điều có định nghĩa thống nhất về mặt
khác môt cách trái pháp luật; hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực đe doạ dùng vũ lực
hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để
giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ…
Như vậy, giữa khái niệm chung và khái niệm cụ thể về tội phạm tuy khác
nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, đây là môt cặp phạm trù giữa
cái chung và cái riêng, nếu không nắm chắc các yếu tố cấu thành tội phạm chung
thì cũng không thể xác định tội danh một cách chính xác. Và khi nghiên cứu khái
niệm tội phạm chung cũng phải từ những tội danh cụ thể, mà khi định tội cụ thể
phải căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan,
mặt khách quan. Nắm chắc được các đặc điểm của tội phạm cũng như các yếu tố
cấu thành tội phạm thì việc xác định tội phạm cụ thể sẽ dễ dàng và chính xác hơn.
Bàn về vấn đề lỗi trong tội phạm thì tính có lỗi là một trong những đặc điểm
cơ bản trong tội phạm, nếu một hành vi gây hậu quả hoặc đe doạ gây hậu quả nguy
hiểm cho xã hội nhưng người thực hiện hành vi đó không có lỗi thì không bị coi là
tội phạm. Khi khẳng định lỗi là một thuộc tính của tội phạm cũng tức là không
chấp nhận qui tôi khách quan như một số nước TBCN. Nguyên tắc truy cứu trách
nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi là nguyên tắc của nhiều ngành luật (Luật hình sự,
Luật hành chính…). Một hành vi không có lỗi thì không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Tính có lỗi là thuộc tính cơ bản của hành vi sai trái, có thể trái pháp luật
nhưng cũng có thể trái đạo đức xã hội. Khi một người làm hoặc không làm một
điều gì đó trái với đạo đức xã hội hoặc trái pháp luật người đó thường xin lỗi, xin
tha thứ… tội phạm cũng là một hiện tượng xã hội phản ánh một viêc làm sai trái
nhưng tính chất và mức độ sai trái của người thực hiện hành vi phạm tội nguy
hiểm nhất so với các hành vi sai trái khác và cũng như các hành vi sai trái khác,
hành vi phạm tội cũng có lỗi. Như vậy, lỗi cũng là thuộc tính cơ bản của hành vi
phạm tội. Khi đặt vấn đề có lỗi của hành vi cũng tức là thừa nhận có hành vi
không có lỗi và hành vi đó không bị xem là hành vi phạm tội.
hành vi của họ phản ánh thái độ của họ đối với xã hội. Lỗi trong luật hình sự thể
hiện rõ nét ý thức vô trách nhiệm của kể phạm tội đối với các quan hệ xã hội. Nội
dung cơ bản của lỗi không phải chỉ có mối quan hệ tâm lý giữa kẻ phạm tội và
hành vi nguy hiểm cho xã hội. Việc xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị
xem là có lỗi chính là phản ứng của xã hội đối với hoạt động có ý thức của con
người.
2.2.2. Lỗi – dấu hiệu cơ bản của mặt chủ quan của tội phạm
Như đã nói hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, đây là sự khác
biệt cơ bản nhất giữa hoạt động của con người và hoạt động vô thức của các sinh
vật khác. Cho nên, khi tiến hành một hoạt động cụ thể nào đó, con người thấy
được hoặc có thể thấy được hậu quả có thể xảy ra. Như vậy, một người chỉ có thể
chịu trách nhiệm hình sự khi người đó gây ra một hành nguy hiểm cho xã hội do
cố ý hay vô ý.
Mối quan hệ bên trong giữa hành vi nguy hiểm và hậu qủa thiệt hại được
Luật hình sự khái quát thành khái niệm lỗi. Mặt chủ quan của tội phạm là trạng
thái tâm lý của kẻ phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do
hành vi đó gây ra. Lỗi thể hiện trạng thái tâm lý của con người, mặc dù trong
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhiều trường hợp con người phạm tội với nhiều động cơ khác nhau, song nội dung
cơ bản vẫn là lỗi của người đó.
Những dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, động cơ, mục đích
nhưng lỗi mới là dấu hiệu chính và là dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan của tội
phạm. Hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị coi là coi lỗi thì người đó không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự hay nói cách khác không có lỗi thì không có tội
phạm.
2.2.3. Hiểu thế nào là người có lỗi trong tội phạm
Bộ luật hình sự hiện hành ra đời thay thế cho Bộ luật hình sự 1985 là kết quả
của một quá trình lập pháp và hành pháp, xét thấy BLHS 1985 không còn phù hợp
để điều chỉnh các quan hệ xã hội, không đáp ứng các yêu cầu mà xã hội mới đặt ra
Học
liệu
Cầnkhoa
Thơhọc@thực
Tài
họckhái
tậpniệm
và“Lỗi
nghiên
xác tâm
định tội
phạm,
nó ĐH
có ý nghĩa
tiễnliệu
vì bằng
là tháicứu
độ tâm lý của người phạm tội được thực hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với
hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành vi
đó”, với việc chỉ ra hai hình thức của nó khẳng định chế định lỗi trong luật hình sự
Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận lỗi về mặt tâm lý, trường phái được
coi là tiến bộ và khoa học hơn cả so với hai trường phái lý luận còn lại về lỗi (lý
luận lỗi về tình trạng nguy hiểm và lý luận về đánh giá lỗi). Riêng khái niệm
“nguời có lỗi trong tội phạm” đã bổ sung cho nguyên tắc hiến định và nguyên tắc
của luật tố tụng hình sự nước ta, khẳng định một cách thống nhất trong thực tiễn tư
pháp hình sự rằng người có thể bị coi là có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự
theo bản án kết tội đã có hiệu lực của toà án phải là người có lỗi trong việc thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộ được pháp luật quy định. Bằng cách đó góp
phần thể hiện một trong những nguyên tắc rất nhân đạo và tiến bộ của luật trách
nhiện hình sự trong nhà nước pháp quyền là: tất cả mọi sự nghi ngờ về lỗi của bị