Ý kiến về lỗi trong luật hình sự Việt Nam doc - Pdf 15

Ý kiến về lỗi trong Luật Hình sự Việt Nam
I. MỞ ĐẦU
Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu quan trọng của cấu thành tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động
cơ phạm tội và mục đích phạm tội. Trong đó, lỗi là dấu hiệu quan trọng
nhất, là nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan của cấu thành tội phạm,
không xác định được lỗi thì không thể cấu thành tội phạm. Vì vậy, nghiên
cứu về tính có lỗi giúp ta dễ dàng phân biệt sự giống và khác nhau giữa
các hình lỗi, hạn chế sự nhầm lẫn khi phân biệt lỗi này với lỗi khác, đồng
thời giúp ta hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của tính có lỗi trong đời sống thực
tiễn.
II. KHÁI NIỆM LỖI
1. Khái niệm lỗi
Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm đối với hành vi nguy hiểm
cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.
Một hành vi bị xem là tính có lỗi khi có đủ hai điều kiện:
- Hành vi trái pháp luật hình sự.
- Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực
hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự
khác không trái pháp luật hình sự.
2. Điều kiện để xác định tính có lỗi
Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã
hội có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác đinh tính
có lỗi của tội phạm.
Khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội khi hội đủ hai điều kiện:
- Không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi.
- Đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự hiện hành.
Ví dụ: A (20 tuổi) là người bị mộng du, thường xuyên đi trên lang cang vào
lúc giữa khuya, làm B (chồng của A) rất lo lắng. Một hôm B học được mẹo
hay là để con dao trên đầu nằm của A. Trong đêm, B để con dao to, sắc và

xã hội, thấy trước được hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho
xã hội.
- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng
có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nguy hiểm xảy ra do chính hành vi của
mình.
Ví dụ: Nhà ông A kinh doanh hoa cảnh, để phòng ăn trộm lấy mất những
cây quý sắp đem bán tết, ông đã câu dây điện trần xung quanh hàng rào
và đóng cầu dao điện từ giữa đêm đến sáng. B tiệc về khuya, trong người
đã có hơi men nên ngã vào hàng rào nhà ông A và bị điện giật chết. Như
vậy, ông A mặc dù không muốn B chết nhưng ông hoàn toàn có thể nhận
thức được hành vi rào điện chống trộm của mình là có thể gây ra hậu quả
chết người, nhưng ông A vẫn chấp nhận hậu quả chết người nếu có người
nào vào trộm cây nhà ông.
3. Lỗi vô ý vì quá tự tin (khoản 1 Điều 10 Bộ Luật hình sự 1999)
Lỗi vô ý vì quả tự tin là lỗi trong trường hợp người phạm tội tuy thấy hành
vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu
quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và
đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
- Về lý trí: Người phạm tội thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả
nguy hại cho xã hội.
- Về ý chí: Người phạm tội không chấp nhận hậu quả tác hại cho xã
hội: “nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa
được”. Người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra
nguy hại cho xã hội nhưng tin rằng với khả năng, kinh nghiệm, với các biện
pháp mình áp dụng, cách thức, phương tiện thực hiện, các điều kiện chủ
quan, khách quan khác mà hậu quả tác hại sẽ không xảy ra hoặc có thể
ngăn ngừa được nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra.
Ví dụ: Trong lúc đi săn, A nhìn thấy con thú đứng cạnh một người đi nhặt
củi, A tự tin vào tài thiện xạ của mình có thể bắn trúng con thú nhưng
không ngờ, khi A nổ súng con thú chạy và viên đạn bắn trúng người đi nhặt

sẽ xảy ra. “Phải thấy trước” ở đây là quy định của pháp luật buộc họ khi ở
vào hoàn cảnh, điều kiện đó bắt buộc phải thấy hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội. “Có thể thấy trước” có thể hiều là với độ tuổi, năng lực
trách nhiệm pháp lý, trình độ văn hoá, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm
nghề nghiệp, kiến thức xã hội, của một người bình thường thì người thực
hiện hành vi có thể thấy trước hậu quả của hành vi đó.
5. Một số trường hợp đặc biệt về lỗi
a) Trường hợp hỗn hợp lỗi
Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong cùng một cấu thành tội phạm
có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những tình tiết khách quan khác nhau.
Hỗn hợp lỗi chỉ xảy ra trong trường hợp có cấu thành tội phạm tăng nặng
của các tội phạm cố ý với tình tiết định khung tăng nặng là hậu quả nguy
hiểm cho xã hội. Ví dụ, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ
của người khác (Điều 104) có lỗi cố ý là làm tổn hại đến sức khoẻ con
người, nhưng trường hợp gây hậu quả chết người (khoản 3 Điều 104) thì
còn có thêm lỗi vô ý làm chết người.
“Hỗn hợp lỗi” khác với “lỗi hỗn hợp” ở chỗ:
Hỗn hợp lỗi Lỗi hỗn hợp
Trong cùng một cấu thành tội phạm có
hai loại lỗi (cố ý và vô ý) đối với những
tình tiết khách quan khác nhau.
Trường hợp có hành vi gây thiệt hại cho
xã hội nhưng đó là kết quả của nhiều bên
có lỗi: có lỗi của người phạm tội, người bị
hại hoặc lỗi của người thứ ba.
Ví dụ: Tội huỷ hoại hoặc cố ý kàm hư
hỏng tài sản (Điều 143) có lỗi cố ý làm
hư hỏng tài sản, nếu phá hoại tài sản gây
chết người (tình tiết định khung tăng
nặng) thì có thêm lỗi vô ý làm chết

nhau
Về lý trí: đều nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho
xã hội.
Khác
nhau
Người phạm tội mong muốn hậu Người phạm tội tuy không mong
muốn hậu quả xảy ra nhưng bỏ
quả xảy ra.
mặc cho hậu quả xảy ra, họ thể
hiện thái độ thờ ơ với lợi ích bị
xâm hại, thái độ chấp nhận hậu quả
nguy hiểm cho xã hội nếu hậu quả
xảy ra mặc dù không mong muốn.
Người phạm tội ý thức hành vi của
mình chắc chắn sẽ gây ra hậu quả
làm thiệt hại cho các lợi ích hợp
pháp, hành vi đó là vi phạm pháp
luật, là bị pháp luật ngăn cấm.
Người phạm tội tuy ý thức được
hành vi của mình gây nguy hiểm
cho xã hội nhưng ở mức độ thấp
hơn: “hành vi đó có thể xảy
ra” (thể hiện niềm tin nội tâm
không chắc chắn với hậu quả từ
hành vi của mình, có thể xảy ratức
là xảy ra hoặc không xảy ra).
2. Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và vô ý vì quá tự tin
Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin
Cố ý gián tiếp Vô ý vì quá tự tin
Giống

điện vào hàng rào sẽ có thể gây nguy hại đến tính mạng người ăn trộm và
cả người đi đường, nhưng ông lại tự tin rằng đặt bảng báo nguy hiểm có
sơn dạ quang ở bốn phía khu vườn thì ai cũng thấy được và tránh xa hàng
rào của ông, nào ngờ hậu quả xảy ra ngoài mong muốn là B say rượu
không thấy bảng nguy hiểm nên ngã vào hàng rào. Thật ra đáp án chính
xác vẫn là lỗi cố ý gián tiếp vì ông A ý thức được hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện, ông đặt bảng báo nguy hiểm nhưng
lại bỏ mặc, thờ ơ với hậu quả xảy ra: nếu ai không thấy bảng báo nguy
hiểm va vào hàng rào nhà ông thì bị điện giật.
3. Phân biệt lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả
Phân biệt lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả
Vô ý vì quá tự tin Vô ý do cẩu thả
Giống
nhau
Về ý chí: không mong muốn hậu quả xảy ra và không để mặc hậu quả
xảy ra.
Khác
nhau
Người phạm tội nhận thức được
hành vi của mình có thể gây hậu
quả nguy hiểm cho xã hội.
Người phạm tội không nhận thức
được hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội,
cũng như hậu quả nguy hiểm cho
xã hội có thể xảy ra.
Giữa lỗi vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin dễ bị nhầm lẫn trong các
trường hợp tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Ví dụ: A
đang lái xe trên đường trường, trời đã gần tối nhưng vào đêm trăng tròn
nên đường đi vẫn còn sáng, A cũng không chú ý việc bật đèn xe. Đến một

gọt trái cây, trên đường từ chợ về nhà, B gặp A (người đã từng đánh B bị
thương nằm bệnh viện ba tháng vì nghi ngờ B tố cáo hắn hút thuốc trong
trường) và A nhớ lại thù xưa nên tiếp tục doạ đánh B. Vì ốm yếu hơn nên B
bỏ chạy, A đuổi theo, đến một quãng vắng thì B đuối sức không thể chạy
nỗi nữa. A xông lại định đánh B thì B rút con dao mới mua ra chỉ vào mặt A
và nói: “đừng bước tới đây”, nhưng A không nghe, hắn vẫn tiếp tục xông tới
định đánh B. Hễ B cầm con dao cànglùi thìA càngtiến lại, không may A vấp
phải hòn đá dưới chân và ngực A đâm thẳng vào con dao của B. B gọi
người đến cấp cứu, vì vết thương thấu tim nên A đã chết. Trong tình huống
này, có người cho rằng hành vi của B gây ra cái chết của A chỉ là sự kiện
bất ngờ vì B chỉ muốn tự vệ nên mới rút con dao ra với mục đích là muốn A
đừng đánh mình, A vấp phải hòn đá nên ngã vào con dao B đang cầm mà
chết (sự kiện bất ngờ), B không thể biết trước hậu quả là làm cho A chết,
nên B không có lỗi. Nhưng tình huống này lại có một phần lỗi của B, vì lúc
B rút con dao ra là B có đủ điều kiện để biết việc rút con dao có thể làm tổn
thương đến A nếu A liều lĩnh quá, vậy theo quan điểm của người thực hiện
bài báo cáo thì hành vi của B phạm lỗi vô ý do cẩu thả.
V. Ý NGHĨA CỦA LỖI TRONG LUẬT HÌNH SỰ
- Lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản và rất quan trọng của luật hình
sự, không có lỗi thì không thể cấu thành tội phạm.
- Lỗi là một nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan của cấu thành tội
phạm, là căn cứ để phân loại các cấu thành tội phạm.
- Lỗi là một trong những yếu tố xác định tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội, lỗi là một trong những căn cứ để quy định hình phạt đối
với từng loại tội phạm.
- Lỗi là cơ sở trực tiếp để Toà án quyết định hình phạt trong từng trường
hợp cụ thể.
VI. KẾT LUẬN
Lỗi là một dấu hiệu rất quan trọng trong cấu thành tội phạm nhưng ta phải
chú ý không xác định lỗi độc lập với hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì lỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status