MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
I. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG GIỮA CÁC NƯỚC
1. KHÁI NIỆM XKLĐ
2. NGUYÊN NHÂN CỦA HOẠT ĐỘNG XKLĐ
II: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH
DƯƠNG
1: TÌNH HÌNH XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI
2: CÁC NƯỚC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN XKLĐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XKLĐ Ở VIỆT NAM
II: TÌNH HÌNH XKLĐ Ở NƯỚC TA
1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ XKLĐ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
2: XKLĐ NHỮNG NĂM 1980- 1990
3:XKLĐ TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY
III: TÁC ĐỘNG CỦA XKLĐ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1: TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC
2: TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
IV: NHỮNG VẤN ĐỀ SAU XUẤT KHẨU
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XKLĐ
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
I: MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1: NGUỒN LAO ĐỘNG
2: THỊ TRƯỜNG
3: QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
II: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1: ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC BỘ NGÀNH LIÊN QUAN
2: ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XKLĐ
3: ĐỐI VỚI CÁ NHÂN XUẤT KHẨU

động to lớn như vậy thì xuất khẩu lao động cần được quan tâm, chú ý đến như một hướng
phát triển kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế chung của đất nước.
Hơn nữa, nước ta với đặc điểm là một nước đông dân, vì thế nguồn lao động nước ta
phần nào chiếm ưu thế hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để tranh thủ sự
thuận lợi này thì nước ta cần chú trọng phát triển lực lượng lao động và hoạt động xuất khẩu
lao động ra nước ngoài.
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam,
vấn đề hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu. Việt Nam phải hội nhập trên mọi lĩnh vực, khi đẩy
manh xuất khẩu lao động, Việt Nam cũng đã rút ngắn khoảng cách hội nhập với lao động
trong khu vực và trên thế giới, góp phần hội nhập toàn nền kinh tế.
2
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
Như vậy xét cả tầm nhìn vi mô và vĩ mô thì vấn đền xuất khẩu lao động của Việt Nam
không phải là một vấn đề mới, nhưng hiện nay nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện những mục tiệu quan trọng của đất nước như: Giảm thất nghiệp, xóa đói giảm
nghèo, tăng trưởng kinh tế…Vì vậy xuất phát từ thực trạng và tình hình đó chúng em đã
nghiên cứu và tiến hành viết đề tài” MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT
NAM”
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài
Như đã trình bày ở trên, xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế, tự bản thân nó là một vấn đề phức tạp, phụ thuộc nhiều yêu tố như: Chính sách lao
động, công tác quản lý, đào tạo lao động…Vì vậy đề tài này chủ yếu đi sâu tìm hiểu kỹ về
vấn đề thực trạng hoạt động trong và sau xuất khấu . Thông qua đó nêu lên xu thế vận động
của xuất khẩu lao động, những mặt tích cực và tiêu cực của nó và đưa ra một số giải pháp dể
khắc phục những hạn chế, nhằm tăng hiệu quả và những đóng góp của xuất khẩu lao động
vào sự phát triển kinh tế nước nhà.
Bằng phương pháp tiến hành điều tra đối tượng trên cơ sở tập hợp thu thập thông tin,
phương pháp thống kê, tính toán. Chúng tôi đã đưa ra những vấn đề cơ bản của XKLĐ với
những số liệu cụ thể về cơ cấu XKLĐ (cơ cấu thị trường, cơ cấu nghề, cơ cấu giới tính…)
và XKLĐ với những nội dung chủ yếu sau.

lao động thông qua các chính phủ, các tổ chức kinh tế hoặc các pháp nhân, các nhân dưới sự
đồng ý của chính phủ các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu lao động. Hình thức di cư này
là hợp pháp, do đó ngày càng tăng về số lượng và chủng loại.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, xuất phát từ nước xuất khẩu
cũng như nhập khẩu thì hình thức di cư lao động chính thức ngày càng phát triển, mà biểu
hiện nổI bật chính là hoạt động XKLĐ của các nước. Trong tình hình mới XKLĐ cũng được
hiểu theo đầy đủ nghĩa của nó. Ta có thể nói: Xuất khẩu lao động là hoạt động của các
chính phủ, tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức pháp nhân nhằm đưa những người lao động
của nước mình đến tham làm việc tại những nước có nhu cầu về lao động nước ngoài (gọi
là nước XKLĐ và nước NKLĐ), nhằm đạt được những mục đích kinh tế, chính trị, xã hội
nhất định, dưới sự hợp tác, đồng ý của chính phủ cả hai nước XKLĐ và NKLĐ.
2. NGUYÊN NHÂN CỦA HOẠT ĐỘNG XKLĐ
Nguyên nhân tạo ra hoạt động XKLĐ có nhiêu nguyên nhân, nguyên nhân đó xuất phát
từ vấn đề lịch sử, vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội…Nhưng nguyên nhân quan trọng tác
động mạnh mẽ đến hoạt động XKLĐ đó là xuất phát từ nguyên nhân kinh tế của cả nước
XKLĐ và nước NKLĐ.
4
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
Trước hết, xuất phát từ lợi ích thu được của nước XKLĐ như: XKLĐ giúp giải quyết
việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cả về vật chất và tinh
thần của người tham gia XKLĐ. Đây là một bộ phận có đóng góp quan trọng, chiếm tỷ lệ
lớn trong việc thu hút nguồn ngoại tệ, đóng góp lớn vào nguồn ngân sách quốc gia. Bên cạnh
đó XKLĐ còn giúp các nước tham gia tăng cường quan hệ ngoại giao của mình với các
nước khác, trên cơ sở đó phát triển một mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị, đôi bên
cùng có lợi.
Ngoài ra, sự mất cân đối giữa cung và cầu về việc làm trong mỗi quốc gia cũng là
nguyên nhân quan trọng dẫn đến XKLĐ quốc tế. Tại một số nước phát triển có tỷ lệ tăng
dân số hàng năm cao, nguồn nhân lực dồi dào trong khi sản xuất trong nước còn chậm phát
triển, chưa thu hút được nhiều lao động. Do đó sức ép về việc làm tăng lên, đòi hỏi chính
phủ phải tìm đầu ra cho lượng lao động dư thừa để giảm tình trạng thất nghiệp và thiếu việc

2: CÁC NƯỚC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG
Tình hình hoạt động XKLĐ ở các nước này ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Bởi lẽ,
về mặt địa lý, các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương ở gần Việt nam, bên cạnh đó lại có
sự tương đồng về khí hậu, phong tục tập quán, lối sống…Các nước trong khu vực Châu Á
như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…đã và đang nhập khẩu lao động Việt Nam trên nhiều
lĩnh vực, mang nhiều hình thức. Đồng thời họ cũng nhận lao động của các nước khác như:
Trung Quốc, Thái Lan, Philipin…cho nên sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu lao động
không thể tránh khỏi. Các nước XKLĐ đều phát huy hết lợi thế của mình, khiến cho hình
thức và cách tiến hành XKLĐ hết sức đa dạng, phong phú. Một số nước yêu cầu nhập khẩu
lao động có trình độ cao, một số nước lại có nhu cầu sử dụng lao động dịch vụ, nhất là lao
động giúp việc gia đình, lao động giản đơn…Một số nước Châu Á vừa có chính sách nhập
khẩu và xuất khẩu lao động, nhập lao động của nước này rồi lại xuất lao động của mình sang
nước khác, tạo nên thị trường lao động thật sôi động nhưng cũng nhiều vấn đề mới phát
sinh. Ví dụ: Thái Lan cho phép hàng chục ngàn dân Myanmar sang làm thuê cho nông dân
Thái Lan, trong khi đó nông dân Thái Lan tràn vào thành phố tìm việc, còn dân thành thị lại
đi tìm việc ở nước ngoài có thu nhập cao hơn. Nhiều sinh viên, thanh niên Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan sang Mỹ, Newzeland, Úc để du học và tìm việc trong khi đất nước họ lại
tiếp nhận nhiều lao động của các nước khác đến làm việc.
Các nước ở khu vực Thái Bình Dương, chủ yếu là có nhu cầu nhập khẩu lao động ở
một số ngành may mặc, xây dựng, lao động giản đơn…Tuy nhiên việc sử dụng lao động
cũng gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt phong tục tập quán, bất đồng ngôn ngữ…
6
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN XKLĐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XKLĐ Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một nước ở khu vực Đông Nam Á với đặc điểm xã hội là một nước nông
nghiệp với số dân đông đúc. Theo thống kê, trung bình năm 2007 dân số nước ta khoảng
84,089 triệu người mà với diện tích đất nước chỉ có khoảng 331.000 km
2
, mà đại bộ phận

Xô, Đông Âu, LiBi, Irắc, đồng thời để phát triển thêm loại hình mới về XKLĐ, chính phủ đã
có Quyết định số 398/CT ngày 26/12/1987 giao cho bộ xây dựng chủ trì hợp tác lao động kĩ
7
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
thuật xây dựng với nước ngoài, nhằm tổ chức lực lượng xây dựng đồng bộ đi nhận thầu ở
nước ngoài và ban hành chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/06/1988 cho phép mở rộng hợp tác
lao động và chuyên gia với nước ngoài theo các hình thức hợp tác trực tiếp.
Ngày 22/09/1998, Bộ chính trị ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số
41-CT/TW về xuất khẩu lao động và chuyên gia khẳng định: xuẩt khẩu lao động và chuyên
gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc
làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ
cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước khác.
Chủ trương về XKLĐ đã được quy định trong bộ luật lao động được Quốc hội thông
qua năm 1994, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua năm 2002.
Chính phủ đã cụ thể hóa Bộ luật lao động về xuất khẩu lao động bằng việc ban hành các
nghị định số 07/CP ngày 20/01/1995 và nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999 sau
đó chính phủ đã ban hành nghị định số 81/2003 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ
luật lao động về người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài. Đến năm 2005, Nghị
định 141/2005/NĐ-CP được ban hành về việc quản lí lao động Việt Nam làm việc ở nước
ngoài. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ( Luật
XKLĐ) đã được ban hành năm 2006 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2007. Trong
năm 2007 Cục Quản lý Lao động Ngoài nước và Trung tâm Lao động Ngoài nước đã soạn
thảo 18 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng, trong đó có 2 nghị định của Chính phủ, 1 quyết định của thủ tướng
Chính phủ, 5 thông tư liên tịch và 8 quyết định của Bộ; đến nay đã trình các cấp có thẩm
quyền ban hành được 11 văn bản chủ yếu, 7 văn bản đang được hoàn thiện để trình ban hành
trong quý I năm 2008.
Bên cạnh việc đề ra những chủ trương để nhằm chỉ đạo hướng dẫn việc thực hiện
XKLĐ. Nhà nước ta cũng nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý và ra nhiều chính sách
nhằm quy định, bảo vệ về lợi ích của những người tham gia XKLĐ cũng như hỗ trợ họ trong

khích nhiều người tham gia vào việc XKLĐ (đặc biệt là lao động nhàn rỗi) để từ đó cải thiện
đời sống nhân dân, thực hiện được mục tiêu kinh tế của nhà nước.
II: TÌNH HÌNH XKLĐ Ở NƯỚC TA
1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ XKLĐ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
9
ti nghiờn cu khoa hc H ni- 2008
10
Bộ ngành liên quan Bộ lao động- thương binh XH
Bộ ngoạigiao
Bộ tài chính
Bộ công an
Bộ y tế
Bộ KH&ĐT
Bộ TM&NH
Bộ VHTT
Bộ tư pháp
UBND các
tỉnh
Cục quản lý
lao động
ngoài nước
Sở tài chính
Sở LĐTBXH
Sở công an
Sở KHĐT
NHNN tỉnh
Sở VHTT
Sở tư pháp
Phòng quản lý
Phòng CSLĐ

cú nhiu lao ng Vit Nam lm vic hoc cú nhu cu v kh nng nhn nhiu lao ng Vit
Nam vi s lng biờn ch, chc nng, nhim v v quyn hn phự hp vi Phỏp lnh v c
quan i din nc Cng ho xó hi ch ngha Vit Nam nc ngoi.
Theo điều 19: Nghị định số 152/1999/NĐ- CP quy định quyền và nghĩa vụ của các
bên liên quan nh sau
1. B Ti chớnh ch trỡ phi hp vi B Lao ng - Thng binh v Xó hi quy nh
chi tit vic thu v s dng l phớ, phớ qun lý v phớ dch v; mc v th thc gi tin t
cc ca ngi lao ng.
11
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
2. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện quản lý Nhà nước đối với lao
động Việt Nam ở nước sở tại; thông qua Bộ Ngoại giao cung cấp kịp thời cho Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội thông tin về tình hình thị trường lao động ngoài nước và tình hình
người lao động Việt Nam ở nước sở tại; liên hệ với các cơ quan chức năng của nước sở tại
để giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thiết lập quan hệ hợp tác sử dụng lao động;
phối hợp với các tổ chức, cơ quan hữu quan của nước sở tại và các tổ chức quốc tế để giải
quyết các vấn đề phát sinh nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và của
doanh nghiệp Việt Nam.
3. Bộ Công an trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội trong việc quản lý người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tạo điều
kiện để người lao động được cấp hộ chiếu một cách thuận lợi theo quy định của pháp luật,
đáp ứng yêu cầu về thời gian thực hiện hợp đồng với bên nước ngoài.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa
nội dung hợp tác lao động với nước ngoài vào các kế hoạch phát triển kinh tế đối ngoại, các
chương trình hợp tác quốc tế, cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định chỉ tiêu
kế hoạch về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hàng năm, 5 năm.
5. Bộ Thương mại và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu trình Chính phủ ban
hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách tạo điều kiện để người lao động và
doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài thực hiện
các quyền quy định tại khoản 3 Điều 8, khoản 1 Điều 10 và Điều 17 của Nghị định này.

gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng XKLĐ.
Trước hết là về công tác quản lý XKLĐ trong nước vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém.
Doanh nghiệp không đủ năng lực khai thác thị trường, tuyển dụng và đào tạo lao động. Đã
có những hợp đồng ký kết với nội dung không chặt chẽ gây bất lợi cho người lao động. Hợp
đồng tuyển dụng lao động chưa được thực hiện đồng bộ, việc thực hiện hợp đồng còn bị
buông lỏng: Có trường hợp lao động không được làm việc theo đúng hợp đồng, trường hợp
lao động Việt Nam bị hành hung. Tất cả nhưng rủi ro, thiệt thòi đó của người lao động Việt
Nam ở nước ngoài có thể ngăn chặn và xử lý kịp thời nếu như công tác quản lý lao động
được thực thi tốt tại nước ngoài. Hiện tại Việt Nam mới chỉ có 5 cơ quan đại diện về vấn đề
XKLĐ ở Nga, Cộng Hòa Séc, Đức, Hàn Quốc và Đài Loan. Còn ở các thị trường khác thì
người lao động bị phó mặc cho doanh nghiệp các nước sở tại. Thực tế ở Việt Nam hiện nay,
những vụ lừa đảo trong XKLĐ diễn ra rất phức tạp gây tâm lý hoang mang của người lao
động khi có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài. Đây chính là khuyết điểm trong công tác
quản lý XKLĐ.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được hoạt động XKLĐ của nước ta hiện nay đang bộc
lộ một số vấn đề cần giải quyết để có thể tạo dựng một hình ảnh lành mạnh về lao động Việt
Nam. Đó là vấn đề lao động Việt Nam tự ý phá vỡ hợp đồng, trốn khỏi nơi làm việc để ra
làm ăn bên ngoài với hy vọng có thu nhập cao hơn. Trong thời gian gần đây, vấn đề bỏ trốn
đang diễn biến phức tạp, Tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn cao nhất là ở Nhật Bản (chiếm
30-40%), tiếp đến là Hàn Quốc (25-30%), tại Đài Loan là 9%, trên thực tế con số này còn
cao hơn. Điều này đã tác động xấu đối với hoạt động XKLĐ của Việt Nam. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trang trên, trong đó phải kể đến nguyên nhân cơ bản là công tác
giáo dục, định hướng người lao động đi xuất khẩu còn yếu kém. Nhiều doanh nghiệp quá
thiên về tuyển dụng và tăng nhanh số lượng lao động xuất cảnh vì lợi nhuận kinh tế mà
không chú ý đến chất lượng lao động và vấn đề giáo dục ý thức. Thậm chí có những đơn vị
còn phó mặc cho đối tác Đài Loan tự thực hiện toàn bộ việc tuyển lao động xuất cảnh, doanh
nghiệp này chỉ cung cấp giấy phép. Một nguyên nhân khác là ngay bản thân các chế tải xử
13
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
phạt hiện tại với việc lao động bỏ trốn chưa đủ mạnh để răn đe người lao động. Nhiều khi

Bungari (03/10/1980) và Tiệp Khắc (27/11/1980).
Nước Liên Xô CHDC
Đức
Bungari Tiệp
Khắc
Tổng số
Người 112.338 72.786 35.099 37.659 257.880
Bảng 1: Cơ cấu thị trường XKLĐ trong giai đoạn 1980 - 1990
14
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
Ngoài thị trường chủ yếu là Liên Xô và Đông Âu, trong giai đoạn này Việt Nam còn ký
hiệp định chính phủ về hợp tác chuyên gia với một số nước Châu Phi. Trong tổng số
277.183 người đi lao động ở giai đoạn này chủ yếu ở Liên Xô và Đông Âu là 257.880 người
chiếm 93% trong đó Liên Xô chiếm số lượng lớn 112.338 người, còn lại phân bổ ở các nước
như: CHDC Đức 72.186 người, Bungari 35.099 người, Tiệp Khắc 37.659 người. Số còn lại
được phân bổ ở các nước Irắc, Angieri, Cônggô (19.301 người). Trong đó riêng Irắc đã
chiếm 16.408 người.
Về giới tính, trong giai đoạn này tỷ lệ lao động Nam chiếm tỷ trọng cao, trung bình
trong cả giai đoạn là lao động Nam chiếm 61,6% với số lượng là 148.063 người trong tổng
số 240.301 người, trong khi đó lao động nữ chỉ có 92.238 người chiếm 38,4%. Nhìn chung
qua các năm tỷ lệ lao động nữ đều thấp hơn nam, dao động từ 27,6% đến 60,7%. Năm cao
nhất là năm 1985 chiếm 60,7% với lượng người 3.040 người. Đây cũng là một đặc trưng cơ
bản của giai đoạn này, nguyên nhân là do yếu tố chủ quan là lao động nữ còn nhiều ràng
buộc về gia đình, sức khỏe, trình độ nên tỷ lệ đi lao động nước ngoài không cao. Bên cạnh
đó còn có tác động do nhu cầu nghề nghiệp chủ yếu là các công việc nặng nhọc như: đánh
cá, xây dựng…Ngược lại, những đặc điểm này lại phù hợp với lao động là nam giới. Vì vậy
trong giai đoạn này ta thấy chủ yếu là lao động là nam giới tham gia XKLĐ. Chúng ta thấy
rõ điều này qua bảng 2, thể hiện đầy đủ cơ cấu giới tính biến động cụ thể qua các năm.
Năm Tổng số Nam Nữ
15

tiên (con thương binh liệt sỹ, anh hùng lực lượng vũ trang, gia đình có công với cách mạng).
Đây chủ yếu là nguồn đáp ứng những nhu cầu lao động không cần tay nghề, chuyên
môn kỹ thuật, chủ yếu là lao động phổ thông.
Còn để đáp ứng về cầu lao động trong khu vực II thì nguồn của nước ta chủ yếu tuyển
chọn những lao động có tay nghề, có kinh nghiệm, đã làm việc lâu năm trong nghề.
Hình thức hợp tác lao động chủ yếu là làm xen ghép trong dây chuyền sản xuất với lao
động nước bạn. Những năm 1983, 1984 có thêm hình thức nhận thầu công trình và hợp tác
trực tiếp giữa các bộ, các ngành và các địa phương kết nghĩa của hai nước với nhau (Hà Nội
– Matxcơva, Nghệ Tĩnh – Ulianop…). Lao động Việt Nam thường được tổ chức thành các
đội (40 – 50 người), có một đội trưởng và phiên dịch phụ trách. Trên cấp quản lý đội lao
động, có cán bộ quản lý vùng, quản lý khu, quản lý chung về mặt nhà nước đối với LĐXK.
16
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
Lao động Việt Nam thường được bố trí làm những công việc mà lao động nước bạn
không thích làm (những công việc không đòi hỏi chuyên môn cao, có lương thấp) hoặc được
phân công đến vùng xa xôi, hẻo lánh. Trong giai đoạn này cơ cấu lao động xuất khẩu của
Việt Nam được phân bổ vào các ngành: Hơn 40% vào công nghiệp nhẹ với 117.432 người
mà chủ yếu là các nghề dệt, da, may mặc; 25,3% vào cơ khí với 71.077 người. Phân bố vào
ngành xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng 22,9% là 64.247 người; vào các ngành công
nghiệp khác chiếm 4,2%, phân bố chủ yếu trong 2 ngành: ngành hóa chất 8329 người, ngành
công nghiệp thực phẩm 3.542 người. Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp 6.160 người, chiếm
2,19%, các ngành khác gồm 10.119 người chiếm 3,58%.
Lao động phân chia theo
khu vực và ngành nghề
Cơ cấu
Số lượng người %
Tổng số 288.106 100%
Bao gồm
Chuyên gia 7.200
Lao động 280.906

qua đào tạo, khi đến nước tiếp nhận, lao động được phân phối về các đơn vị sản xuất, được
kèm cặp đào tạo tại chỗ, được trang bị tay nghề phù hợp với các xí nghiệp, nhà máy bạn yêu
cầu.
3:XKLĐ TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY
Năm 1986 với tinh thần phê và tự phê, Đại hội VI của Đảng đã họp và thẳng thắn nhận
ra sai lầm của mình và sớm đã có biện pháp khắc phục là chuyển từ cơ chế quan liêu, tập
trung bao cấp sang cơ chế thị trường cạnh tranh tự do. Từ đại hội VI của Đảng ta cũng đã có
những thay đổi trong nhận thức về việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Sau chỉ thị
số 73-CT ngày 13/03/1990 của chủ tịch HĐBT về việc tạm ngừng XKLĐ để củng cố, chấn
chỉnh tổ chức hệ thống lao động ở nước ngoài. Ngày 09/11/1991 Hội đồng bộ trưởng đã ra
quyết định 370/HĐBT, ban hành quy chế về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc
có thời hạn ở nước ngoài. Bản quy chế này đã trở thành kim chỉ nam trong hành động, mở ra
một thời kỳ mới cho XKLĐ dưới thời “mở cửa”.
XKLĐ dưới thời kỳ này không chỉ đơn thuần là giải quyết việc làm và học hỏi kinh
nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nữa. Mà chính phủ Việt Nam coi XKLĐ: “Là một
hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho
đất nước góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa
Việt Nam với các nước sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn
trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau”.
Hình thức XKLĐ cũng được mở rộng, XKLĐ không chỉ được thực hiện thông qua các
hiệp định giữa 2 chính phủ mà còn được thực hiện theo các hợp đồng cung ứng lao động
giữa các tổ chức kinh tế Việt Nam với các tổ chức hoặc các nhân người nước ngoài. Chấp
nhận các quy luật thị trường, quy luật cạnh tranh, chấp nhận qua hệ chủ - thợ…Việt Nam
mở rộng quan hệ, hợp tác lao động với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo
cơ chế mới, Nhà nước giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp XKLĐ tìm kiếm, khảo sát thị
trường lao động, trực tiếp tuyển chọn, bồi dưỡng đào tạo định hướng cho người lao động
phù hợp với yên cầu của bên sử dụng lao động. Nhà nước (mà trực tiếp là Bộ lao động
18
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
thương binh và xã hộI) chỉ thị thực hiện chức năng quản lí, kiểm tra, giám sát, ban hành các

1992 816 56 0 210 0 550
1993 3.968 1.352 0 289 53 2.274
1994 9.228 4.378 37 257 15 4.541
1995 9.569 5.674 87 723 2 3.083
19
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
1996 12.668 6.275 122 1.343 2 4.916
1997 18.447 4.880 191 2.250 0 11.126
1998 12.184 1.322 197 1.926 7 8.732
1999 19.970 4.518 558 1.856 1 13.037
2000 31.500 7.316 8.099 1.497 239 14.349
2001 36.168 3.910 7.728 3.249 23 21.204
2002 46.122 1.190 13.191 2.202 19.965 9.574
2003 78.489 4.326 29.974 2.384 40.552 1.253
2004 67.440 4.770 37.140 2.750 14.560 8.220
2005 70.594 12.102 22.784 2.953 24.605 8.150
2006 78.855 10.577 14.127 5.360 37.941 10.850
2007 85.020 12.187 23.640 5.500 26.704 16.989
Quí
I/2008
22.932 2.656 8.501 1.201 4.898 5.676
Bảng 4: Cơ cấu thị trường XKLĐ giai đoạn 1991- 2008
Nguồn: Số liệu của cục quản lý lao động nước ngoài Bộ LĐ-TB và xã hội
Tạp chí nghiên cứu kinh tế
Ta thấy, sở dĩ lao động phần lớn được đưa sang Hàn Quốc ở giai đoạn này bởi vì đây là
một thị trường mới, nhiều tiềm năng, và điều kiện sống ở Hàn Quốc cũng gần với Việt Nam.
Là 1 nước Châu Á, Hàn Quốc thu hút nhiều lao động Việt Nam như năm 1997 con số này
lên tới 18.447 lao động. Nhưng đến năm 1998 được coi là năm khó khăn cho XKLĐ Việt
Nam, lượng lao đông xuất khẩu giảm hẳn (từ 18.447 người năm 1997 xuống còn 12.184
người năm 1998), nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ

Đến đầu năm 2008, bên cạnh giữ vững những thị trường truyền thống, Việt Nam đã mở
rộng được nhiều thị trường mới, đặc biệt đã kí bản ghi nhớ về hợp tác lao động với Â-Man,
kí kết Hiệp định hợp tác lao động với Quatar (1/2008), đang đàm phán để kí Hiệp định với
Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất, Ba-ranh…Chúng ta cũng đang triển khai kế hoạch
đưa lao động sang Makau, Balan, Litva, Romania, Cộng hòa séc, Úc, Bruney, Mĩ.
Như vậy quy mô XKLĐ của nước ta mấy năm gần đây liên tục tăng. Như năm 2007 số
lượng lao động đưa đi xuất khẩu ở nước ta là 85.020 người, mục tiêu đến năm 2010 là nước
ta sẽ đạt mức trung bình mỗi năm đưa được 100.000 lao động đi làm việc tại nước ngoài.
Như vậy ta thấy số lượng lao động dồi dào, phong phú đây là một lợi thế so sánh của lao
động Việt Nam với các nước trong khu vực.
Tuy vậy nhưng hiệu quả XKLĐ của nước ta lại kém hiệu quả hơn so với các nước khác
như: Thái Lan, Philipin, Malaysia…Vậy vấn đề cần quan tâm ở đây là: Tuy số lượng nhiều
nhưng chất lượng kém.
Xét về vấn đề chất lượng của lao động xuất khẩu của Việt Nam: Lao động Việt Nam
khi tham gia XKLĐ cũng có những ưu điểm nhất định: Xuất phát từ những lao động của nền
nông nghiệp lúa nước nên lao động nước ta có bản chất chăm chỉ, cần cù, ham học hỏi…
chính những điều này cũng đã đáp ứng một phần nhu cầu lao động của nước bạn. Nhưng
bên cạnh đó vấn đề chất lượng lao động vẫn nổi lên nhiều yếu kém, ảnh hưởng đến hiệu quả
của XKLĐ. Thứ nhất về trình độ văn hóa: Việt Nam vẫn là một nước nghèo, hiện nay cả
nước chưa phổ cập hết phổ thông trung học, một số nơi tỷ lệ trẻ em không được đi học vẫn
cao mà tỷ lệ này rơi nhiêu ở nông thôn. Mà đây lại là một lực lượng lao động thất nghiệp
chủ yếu, chính những đối tượng này lại có nhu cầu tham gia XKLĐ vì thị trường trong nước
không đáp ứng được việc làm. Nhìn chung lao động xuất khẩu của Việt Nam có trình độ văn
21
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
hóa thấp. Từ vấn đề này đã gây ra một loạt khó khăn cho lao động Việt Nam khi tham gia
lao động tại nước ngoài như: Hạn chế trong nhận thức, tốn kém trong vấn đề đạo tạo. Đặc
biệt là trình độ ngoại ngữ yếu kém gây khó khăn trong giao tiếp. Vì vậy không thu hút nhiều
nhu cầu của những nhà tuyển dụng nước ngoài. Thứ hai là trình độ chuyên môn thấp, theo
ước tính sơ bộ từ điều tra lao động việc làm năm 2006, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên qua

Yêu cầu về chấp hành kỷ luật và ngoại ngữ cũng không kém, nhất là tại các thị trường không
thông dụng tiếng Anh. Hiện lao động của ta ra nước ngoài cơ bản đáp ứng yêu cầu doanh
nghiệp sở tại nhưng tay nghề, trình độ còn hạn chế, khi đưa ra các nước có kinh tế phát triển
22
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
còn khó khăn.Chính vì vậy đã làm giảm đi một phần sức cạnh tranh của nước ta trên thị
trường lao động thế giới.
. Lao động Việt Nam thì chủ yếu tham gia vào những ngành như: Ngành khai thác mỏ,
làm nông nghiệp, những nơi làm việc mà lao động bản địa không thích làm. Còn một số
ngành công nghiệp thì rất ít lao động Việt Nam đáp ứng đủ yêu cầu của nhà tuyển dụng, đặc
biệt là ở một số thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu…
Một trong những nguyên nhân của vấn đề trên chính là do công tác khai thác, tìm kiếm
thị trường của ta còn nhiều hạn chế. Ban đầu do hạn chế về số lượng doanh nghiệp tham gia
XKLĐ nên thông tin không được đầy đủ, không đáp ứng được hết các nhu cầu của thị
trường. Việc xuất khẩu lao động và chuyên gia được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh
tế do các tổ chức kinh tế đã ký với bên nước ngoài. Cho đến tháng 8/1998, nước ta đã có 55
tổ chức kinh tế là doanh nghiệp nhà nước có giấy phép hoạt động XKLĐ. Trong giai đoạn
1996 – 1999, số lượng các doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ XKLĐ
thực hiện nghị định 07/CP là 77 doanh nghiệp trong đó có 53 doanh nghiệp thuộc Bộ ngành
và 24 doanh nghiệp địa phương. Tính đến năm 2007, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ XKLĐ là 145 doanh nghiệp, có 118 doanh nghiệp nhà nước, 11 doanh nghiệp thuộc
các tổ chức đoàn thể, 13 công ty cổ phần và 3 công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy ta thấy
số lượng các doanh nghiệp tham gia XKLĐ đã tăng đáng kể, phần nào đáp ứng được nhu
cầu của thị trường rộng lớn. Nhưng con số này cũng chưa phản ánh hết được thị trường
XKLĐ thế giới. Mà đặc biệt là ở những thị trường mới mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa
khai thác hay mới khai thác bước đầu.
Hình thức quảng bá, tiếp cận với các thị trường mới cũng là một điều đáng bàn. Các
doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở hình thức ký kết các hợp đồng thông qua sự hợp tác của
các chính phủ. Còn các hình thức hợp tác trực tiếp giữa 2 doanh nghiệp của 2 nước thì còn bị
hạn chế bởi những thủ tục hành chính phức tạp, gây tốn kém thời gian chi phí, tạo ra tâm ly

2000 31.500 9.065 28,75 22.435 71,25
2001 36.168 7.704 21,30 28.464 78,70
2002 46.122 10.556 22,89 35.566 77,11
2003 78.489 29.715 37,86 48.744 62,14
2004 67.440 26.807 39,75 40.633 60.25
2005 70.594 29.918 42,38 40.676 57.62
2006 78.855 35.524 45,05 43.331 54,95
2007 85.020 39.075 45,96 45.945 54,04
Bảng 5: Cơ cấu giới tính của LĐXK 1992-2007
Nguồn: Số liệu của cục hợp tác lao động nước ngoài Bộ LĐ-TB và xã hội
Nhìn chung tỷ lệ lao động nữ xuất khẩu trong giai đoạn này cũng đã tăng lên nhiều so
với thời kì trước, nhưng tỷ lệ này vẫn chưa cao bằng lao động nam. Trong tổng số lao động
giai đoạn này là 581.038 người thì có tới 381.559 lao động nam chiếm 65.67%. Cũng trong
giai đoạn này cả lao động nữ và nam đều tăng lên đáng kể từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Như năm
1992 số lao động nữ chỉ là 100 người thì đến năm 2007 đã lên đến 39.075 người, con số này
ở nhóm nam là 45.945 người. Qua số liệu về cơ cấu giới tính của XLKĐ trong thời kỳ này ta
thấy cơ cấu giữa lao động Nam và nữ đã đỡ mất cân đối hơn, mặc dù lao động nam vẫn
chiếm ưu thế, nhưng điều đó đúng đặc trưng của từng giới, tỷ lệ này phù hợp với thực tế lao
động ở nước ta.
Thứ ba về cơ cấu nghề nghiệp
Trong suốt quá trình từ khi bắt đầu thực hiện đưa lao động đi làm việc (năm 1980) cho
đến nay thì cơ cấu nghề nghiệp trong XKLĐ đã có sự thay đổi đáng kể. Sự thay đổi này là
sự tăng lên cả về chất và về lượng. Xét về mặt chất, cơ cấu nghề nghiệp đã có sự đa dạng và
mở rộng ra nhiều ngành nghề mới. Nếu như giai đoạn 1980 – 1990 lao động Việt Nam chủ
yếu làm việc trong các ngành nghề như: Cơ khí, công nghiệp nhẹ, hóa chất, …thì đến nay
lao động Việt Nam vẫn phát huy ưu thế trong các ngành trên và còn tham gia vào các ngành
24
ti nghiờn cu khoa hc H ni- 2008
mi khỏc, c bit l nhng ngnh v cỏc dch v xó hi nh: Chm súc ngi gi, lm vic
ni tr, lm nụng nghipTrong s 526.342 ngi i lm vic nc ngoi tớnh t 1998

Lao ng xut khu Vit Nam vn xut thõn t nụng thụn, ch yu khụng ngh, khụng
ngoi ng, khụng tỏc phong cụng nghip, ý thc t chc, k lut kộm, thng gi l 3
khụng rt khú c tuyn chn v thu nhp thp. Trong khi ú, ti cỏc th trng lao ng
ngoi nc, nhu cu lao ng cú tay ngh rt ln. i Loan, Ma-lay-si-a rt cn lao ng cú
ngh trong cỏc nh mỏy, cụng xng, khu cụng ngh cao. Nht Bn, Hn Quc cn nhng
25

Trích đoạn Nạn chảy mỏu chất xỏm NHỮNG VẤN ĐỀ SAU XUẤT KHẨU QUẢN Lí LAO ĐỘNG 2:ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 3:ĐỐI VỚI CÁ NHÂN XUẤT KHẨU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status