Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của việt nam - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong kinh tế thị trường, sức lao động đã trở thành một loại hàng hóa
đặc biệt. Với xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ, xuất khẩu lao động cũng ngày
càng phát triển. Nó vừa thu hút ngoại tệ, làm tăng nguồn vốn đầu tư phát triển
sản xuất ở trong nước thông qua tiền gửi của người lao động làm việc ở nước
ngoài, vừa là cơ hội tăng việc làm, giảm bớt nạn thất nghiệp ở trong nước, nhờ
đó góp phần xóa đói giảm nghèo. Nó còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; tạo cơ hội
tiếp cận công nghệ tiên tiến; mở rộng quan hệ với bạn bè quốc tế. Do vậy, xuất
khẩu lao động được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược của nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong thời gian qua, hoạt động này của nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, ngày càng khẳng định là một ngành
đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Theo thống kê, hiện nay có trên 500 ngàn
người lao động Việt Nam đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hàng năm
chuyển về gia đình khoảng 1.7 tỷ USD.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta còn nhiều mặt hạn
chế, do cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, thiếu những chính sách thích hợp để mở
rộng thị trường lao động; chất lượng nguồn lao động xuất khẩu thấp, còn có
những hành vi lừa đảo, thiệt hại cho nhiều người…
Để đẩy mạnh xuất khẩu lao động, cần phải thẳng thắn chỉ ra những điểm hạn
chế, phân tích những nguyên nhân gây ra những hạn chế đó, để tìm giải pháp khắc
phục.
Chính vì vậy, “Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt
Nam” được chọn làm đề tài cho luận văn thạc sĩ này.

1


2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, xuất khẩu lao động ngày càng

lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài” của Phạm Kiên Cường, Đại học Kinh tế quốc dân, đã
nghiên cứu cơ sở hợp tác và phân công lao động giữa các nước, sự cần thiết
khách quan đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Tác giả cũng
đã khảo sát tình hình đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài, đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu
quả hoạt động này.
Đề tài khoa học cấp Bộ: “Những giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu
lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do TS.
Nguyễn Hữu Cát, Vụ Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương làm chủ nhiệm đề tài,
nghiệm thu năm 2006. Công trình này làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về
xuất khẩu lao động, những kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về xuất
khẩu lao động có thể vận dụng vào Việt Nam; đánh giá hiệu quả của xuất khẩu
lao động trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả xuất khẩu lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở
nước ta…
Sách “Bảo vệ quyền của người lao động di trú. Pháp luật và Thực tiễn
quốc tế, khu vực và quốc gia” do Phạm Quốc Anh chủ biên, Nxb Hồng Đức,
xuất bản năm 2008, nghiên cứu về các quy định pháp luật và các cơ chế quốc tế,
khu vực và quốc gia về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
ở nước ngoài.
Sách chuyên khảo: “Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của
các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay” do Trần Thị Thu làm chủ biên,
Nxb Lao động xã hội, xuất bản năm 2006, đã nghiên cứu về hiệu quả quản lý
trong các doanh nghiệp xuất khẩu lao động; phân tích thực trạng và đề ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp này tới năm 2010.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết về vấn đề này được đăng trên kỷ yếu
các hội thảo, các báo và tạp chí.

3

4


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, đồng thời kế thừa những kết quả nghiên cứu trong các công trình khoa
học đã công bố để phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế
chính trị, đặc biệt coi trọng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng
hợp…
6. Đóng góp của đề tài:
Luận văn đã phát hiện những hạn chế trong hoạt động xuất khẩu lao
động của nước ta, phân tích sâu những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
ấy, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hoạt động này trong
thời gian tới. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong khi hoàn thiện chính sách về xuất khẩu lao động.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Xuất khẩu lao động của Việt Nam - Tính cấp thiết và thành
tựu.
Chương 2: Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt Nam và
những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế ấy.
Chương 3: Những giải pháp để khắc phục những hạn chế nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam.

5



6


Bảng 1.1: Tổng số dân và dân số trong độ tuổi từ 15 đến 59 ở Việt Nam
Chỉ tiêu
1979
1989
1999
2007
2020
Tổng số dân (triệu)
52,742
64,375
76,325 85,1549 99,003
P15-59* (triệu)
26,63
34,76
44,58
55,38
64,543
Tỷ lệ gia tăng P (%)
2,0
1,7
1,37
1,16
Tỷ lệ gia tăng P15-59 (%)
2,66
2,49
2,71
1,18

Nhìn chung, trên thị trường LĐ hiện nay, cung LĐ vẫn lớn hơn cầu, sức
ép về việc làm tương đối lớn, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2007
là 4,91%, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn năm 2007 là 5,79%, LĐ
tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 74,6%). Phân bố lao động theo
vùng thì ở vùng đồng bằng sông Hồng (22,3%), đồng bằng sông Cửu Long
(21,5%); trong khi đó, lực lượng lao động ở Tây Bắc chỉ chiếm 3,18% và Tây
Nguyên chiếm 5,59%, nên chưa phát huy được lợi thế về đất đai, hạn chế tốc
độ phát triển kinh tế cũng như tạo việc làm cho người lao động tại các vùng
này, đồng thời, tạo ra dòng dịch chuyển lao động tự phát, ảnh hưởng đến tổ
chức sản xuất và quá tải các công trình kỹ thuật hạ tầng kinh tế - xã hội ở các
vùng kinh tế phát triển. Đến năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị
và tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn đều tăng lên các mức tương ứng
là 4,65% và 6,1% (xem bảng 1.3).
Bảng 1.2: Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị và nông thôn
thời kỳ 1996 - 2008 (%)
Khu
Nông
thôn
Thàn
h thị

199

199

199

199

6


9,2

9,3

9,0

8,4

6,6

8,4

8,6

7,7

5,7

4,5

-

2,34

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2007 2008

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống
kê, Hà Nội.
Bảng 1.3: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng

thôn

Chung

Thành
thị

Nông
thôn

2.38

4.65

1.53

5.10

2.34

6.10

2.29

5.35

1.29

6.85



2.51
4.89

1.00
2.05

5.12
2.13

3.72
1.03

5.65
3.69

2.71

4.12

2.35

6.39

3.59

7.11

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống
kê, Hà Nội.

Từ năm 2007, Đài Loan tạm dừng nhận LĐ Việt Nam giúp việc trong
các gia đình, nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ LĐ bỏ trốn khỏi nơi làm việc
tương đối cao (10,13%).
Bộ LĐ-TB&XH có các giải pháp tạo điều kiện cho NLĐ hết hợp đồng
được ký lại hợp đồng trực tiếp với người sử dụng LĐ; đồng thời tiếp tục chỉ
đạo thực hiện các giải pháp ngăn chặn tình trạng NLĐ bỏ trốn ra ngoài làm
việc, vận động phía Đài Loan tiếp nhận trở lại LĐ giúp việc gia đình.
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, số NLĐ Việt Nam
sang Đài Loan làm việc năm 2009 có giảm, nhưng vẫn dẫn đầu so với số
người đi sang các thị trường khác. Ba tháng đầu năm 2010, Đài Loan vẫn là
thị trường tiếp nhận nhiều NLĐ Việt Nam (4.567 người). Nhiều chuyên gia
nhận định đây vẫn là thị trường khá ổn định và có nhu cầu lớn về người nhập
cư. Theo điều tra của Ủy ban LĐ Đài Loan, tổng nhu cầu nhân lực của các
doanh nghiệp cuối tháng 4 tăng khoảng 58.000 người [76].

10


Sự bùng nổ của nền kinh tế Hàn Quốc từ năm 1980s đã khiến nước này
thiếu hụt nhân công trầm trọng. Hiện tại, hàng năm trung bình Hàn Quốc cần
tiếp nhận khoảng 50.000 LĐ nước ngoài. Tỷ lệ có việc làm trong lực lượng
LĐ Hàn Quốc khá cao: 96,44% và 96,77% năm 2007 [56, tr.816].
Việc hợp tác cung ứng và sử dụng LĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc bắt
đầu từ năm 1993 và được thực hiện theo 5 hình thức:
- Tu nghiệp sinh (TNS) gồm những ngành nghề: công nghiệp, xây
dựng, nông nghiệp và thủy sản;
- Thuyền viên đánh cá cho các tàu cá Hàn Quốc;
- Cung ứng lao động cho tập đoàn Hàn Quốc trúng thầu ở Li-bi;
- Cung ứng lao động theo luật tiếp nhận lao động nước ngoài (EPS);
- Cung ứng lao động kỹ thuật cao.

Nam tăng dần theo từng năm. Hiện còn khoảng 20.000 TNS đang làm việc tại
Nhật Bản. Tuy nhiên, số TNS Việt Nam chỉ chiếm 4,5% tổng số TNS nước
ngoài tại Nhật Bản, trong khi con số này của Trung Quốc là 77%.
1.1.2.2. Những thị trường mới
Hoạt động XKLĐ của nước ta đang được mở rộng sang các thị trường
mới, như Trung Đông, Hoa Kỳ, Ca-na-da, Phần Lan, Niu-di-lan, Bồ Đào Nha...
Nhiều nước ở khu vực Trung Đông, nhất là 6 nước vùng Vịnh, có
nguồn dầu mỏ và khí đốt phong phú, nhưng dân số lại ít, nên rất cần LĐ NN.
Thí dụ: UAE có dân số 4,8 triệu người [57, tr.22], LĐ NN chiếm tới 90% lực
lượng LĐ trong nhiều lĩnh vực kinh tế. Có khoảng 3,11 triệu LĐ NN đến từ
202 quốc gia, trong đó 1,5 triệu là người Ấn Độ. Từ năm 2004, Việt Nam bắt
đầu đưa NLĐ sang làm việc có thời hạn tại đây, và đến nay đã là 10.000
người, bao gồm cả số đi theo hợp đồng cá nhân [57, tr.23].
Ca-ta chỉ có 900.000 dân (năm 2008), nhưng nhu cầu xây dựng và phát
triển kinh tế cao đòi hỏi phải thu nhận nhiều NLĐ NN. Ca-ta có nhu cầu
nhiều về thợ hàn bậc cao với mức thu nhập cao.

12


Thị trường Hoa Kỳ có nhu cầu về lao động chuyên môn cao, y tá, lao
động nông nghiệp theo thời vụ, nhưng đòi hỏi rất khắt khe về tiếng Anh, bằng
cấp và thủ tục nhập cảnh.
Ca-na-đa tiếp nhận nhiều LĐ NN: năm 1995: 69.000 người, năm 2005:
99.000 người, dự báo nhu cầu hàng năm trong thời gian tới là khoảng 100.000
người.
Ca-na-đa không áp dụng quy định về cấp quota tiếp nhận LĐ NN,
không hạn chế về ngành nghề hay xuất xứ. Nghề nghiệp, trình độ, quốc tịch,
tay nghề... của LĐ NN hoàn toàn tùy thuộc vào yêu cầu của người sử dụng.
Tính đến nay ở Ca-na-đa, số NLĐ NN có trình độ cao (lập trình viên, quản lý

tại Úc, với thời hạn từ 3 tháng đến 4 năm). Chính phủ Úc đưa ra quy định rất
chặt chẽ và cụ thể về: Danh sách các nghề đòi hỏi kỹ năng và danh sách các
nghề cần LĐ nhập cư (LĐ nước ngoài chỉ có thể tới Úc làm việc theo các
ngành nghề được quy định trong các danh sách trên); mức lương tối thiểu ở
hầu hết các ngành nghề; thời hạn hợp đồng đối với NLĐ NN đến làm việc tại
Úc thường là 2 năm (có thể gia hạn đến 4 năm). Vào thời điểm giữa năm
1995, có khoảng hơn 14.300 người LĐ nước ngoài làm việc có thời hạn tại
Úc thì đến năm 2004, con số này đã lên tới 43.100. Hiện nay thị trường
XKLĐ Úc đang tuyển lao động trong các lĩnh vực như: bếp, thợ làm bánh,
thợ hàn, thợ cơ khí, điện lạnh... theo những tiêu chuẩn sau: có từ 3 - 5 năm
kinh nghiệm trong nghề, thông thạo tiếng Anh (5.0 IELTS, thay vì 4.5 IELTS
như trước đây theo thông báo của Chính phủ Úc về các thay đổi từ chương
trình visa 457 dành cho LĐ NN, được áp dụng từ 1/4/2009) và có sức khỏe
tốt. Mức lương tối thiểu cho những LĐ xin cấp visa mới hoặc đang có visa
457 từ ngày 1/7/2009 cũng tăng 4,1% so với tổng thu nhập năm 2008. Từ
giữa tháng 9 năm 2009, tất cả LĐ Việt Nam thuộc chương trình visa 457 được
áp dụng mức lương tối thiểu của thị trường.
Cũng như Úc, Niu-di-lân đang cần LĐ trong lĩnh vực thợ làm bánh
(trong siêu thị), thợ hàn, đầu bếp; tuy nhiên, LĐ trong lĩnh vực nông nghiệp
và chương trình vừa học vừa làm được đánh giá là triển vọng nhất. Ngày

14


3/8/2009, trong buổi gặp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân
nhân dịp kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, đại sứ Niu-di-lân James
Kember cho biết trong thời gian tới, việc Niu-di-lân đồng ý tiếp nhận 100 đầu
bếp và 100 kỹ sư của Việt Nam sang làm việc ba năm, việc này có ý nghĩa rất
quan trọng đối với hoạt động XKLĐ của Việt Nam. Đặc biệt, thỏa thuận giữa
hai nước về chương trình làm việc trong kỳ nghỉ (một chương trình đưa sinh

đem lại thu nhập cho người lao động.
Một trong những vấn đề cấp thiết mà các nước XKLĐ phải đương đầu
là giải quyết sức ép về lao động và việc làm và khả năng tạo chỗ làm việc
mới. Tình trạng phổ biến chung đối với các nước này là tốc độ gia tăng của
chỗ làm việc mới không thể đáp ứng kịp với số người mỗi năm bước vào tuổi
lao động. Đó là chưa kể trong quá trình sản xuất có hàng loạt cơ sở bị phá sản
do làm ăn thua lỗ, bổ sung vào số lao động thất nghiệp trong xã hội.
Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đã góp phần giảm đầu tư trong
nước để dạy nghề, tạo việc mới cho người lao động. Điều này được đánh giá
qua công thức: Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo việc làm (Là số tiền tiết kiệm
được do chi phí đầu tư tạo việc làm mới ở các nước ngoài thấp hơn trong
nước, tính cho một thời kỳ nhất định, thường là một năm):
Ms = (MOE - MIE) x OE
Trong đó:
Ms: Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo việc làm hàng năm
MOE: Suất đầu tư trung bình cho một chỗ làm việc mới ở trong nước
MIE: Chi phí bình quân cho một lao động xuất khẩu
OE: Số lượng lao động bình quân làm việc ở nước ngoài hàng năm
XKLĐ giảm bớt sức ép về việc làm, tiết kiệm được vốn đầu tư tạo việc
làm, làm tăng thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển khác hoặc đầu tư để giải
quyết việc làm trong nước. Hàng năm XKLĐ tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng
cho vốn đầu tư tạo việc làm mới [30].

16


1.1.3.2. Tăng thu nhập cá nhân và tích lũy cho đất nước
Số liệu khảo sát cho thấy, người Việt Nam đi làm ở nước ngoài có thu
nhập ròng cao hơn làm việc trong nước khoảng 3 lần. Khoản tiền đó được gửi
về nhà, giành phần chi tiêu vào việc nâng cao mức sống, chăm sóc sức khỏe

thì họ lại chờ thời cơ để xuất cư lần nữa.
1.1.3.4. Tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngắn hạn
và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại trong dài hạn
Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, việc thu hồi đất nông
nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tất yếu làm cho một số lượng nhất
định lao động nông nghiệp mất việc làm. Dưới tác động của cạnh tranh, các
nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn phương án đầu tư sử dụng nhiều vốn. Cả hai
khuynh hướng đó làm cho trên một diện tích đất nông nghiệp thu hồi, số LĐ
được sử dụng sẽ giảm đi đáng kể. Đây là quy luật tất yếu của quá trình CNH HĐH.
Trong ngắn hạn, XKLĐ sẽ là một trong các con đường chuyển LĐ nông
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ hay từ nông nghiệp lạc hậu lên trình độ
cao.
Trong dài hạn, trình độ NLĐ đi làm việc ở NN được nâng cao nhờ đào
tạo và đào tạo lại, sẽ là nguồn LĐ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của các
nhà đầu tư theo chiều sâu, sau khi họ về nước.
1.1.3.5. Góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào
sản xuất, thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo nguyên lý "3I"
(Imitation-Bắt chước, Initiative-Cải tiến, Innovation-Sáng tạo).
Trong quá trình làm việc, NLĐ trực tiếp sử dụng kỹ thuật và công nghệ
hiện đại để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Theo quy luật nhận thức, NLĐ từ
bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến và cuối cùng là sáng tạo.
Kinh nghiệm của các nước dẫn đầu về XKLĐ như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Ấn Độ, Ixaren cho thấy, những NLĐ đi làm việc ở NN, sau khi về
nước, họ mang những tri thức đã tích lũy được áp dụng vào quá trình sản xuất
kinh doanh của mình. Chính lực lượng lao động này đã góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình đưa công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và quản lý. Điều
này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học và
công nghệ tiên tiến.

18

sách Đổi mới, Hội đồng Bộ Trưởng đã có Chỉ thị số 108/HĐBT ngày

19


30/06/1988 khẳng định mục tiêu kinh tế của công tác XKLĐ và cho phép
thành lập các tổ chức kinh tế làm dịch vụ đưa LĐ ra làm việc ở NN.
Từ năm 1991, Chính phủ ra Nghị định số 370/HĐBT ban hành Quy chế
về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở NN, xác định hiệu quả kinh tế
là mục tiêu cơ bản của XKLĐ. Chính phủ chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về hoạt động XKLĐ, các DN có đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực
XKLĐ, được Bộ LĐ-TB&XH cấp giấy phép chuyên doanh, chủ động tìm kiếm
thị trường LĐ, trực tiếp ký kết hợp đồng LĐ với đối tác NN, tuyển chọn, đưa
lao động đi, và tổ chức quản lý, bảo đảm quyền lợi cho NLĐ trong và sau khi
hết hạn hợp đồng LĐ theo quy định của luật pháp Việt Nam.
Ngày 23/06/1994, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật lao động, trong đó
có những qui định về XKLĐ. Dựa theo Luật này, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 07/CP quy định chi tiết việc đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở
NN, thay thế Nghị định số 370/CP.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII đã chỉ rõ: “Mở rộng xuất
khẩu lao động trên thị trường đã có và thị trường mới. Cho phép các thành
phần kinh tế tham gia xuất khẩu lao động và làm dịch vụ xuất khẩu lao động
và làm dịch vụ xuất khẩu lao động trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý
chặt chẽ của Nhà nước. Kiên quyết chấn chỉnh những hoạt động dịch vụ xuất
khẩu lao động trái quy định của Nhà nước”.
Tại Chỉ thị số 41/CT-TW, Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: “Xuất khẩu
lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phấn phát triển
nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay
nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước,… cùng với
các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và

người, tỷ trọng việc làm do XKLĐ tạo ra cũng tăng đều đạn hàng năm so với
tạo việc làm trong nước, từ 2,8% năm 2001 lên 5,36% năm 2008 (xem bảng
1.5). Như vậy, số lao động được giải quyết việc làm thông qua XKLĐ ngày
càng tăng.
Năm 2008, cả nước giải quyết việc làm cho 1,35 triệu lao động, trong
đó thông qua các chương trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động
86.990. 4 thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm của Việt Nam là: Đài
Loan (33.000), Hàn Quốc (16.000), Malaysia (7.800) và Nhật Bản (5.800).

21


Năm 2009, do khủng hoảng tài chính toàn cầu nên một bộ phận đáng kể
LĐ mất việc làm, nhiều nước thực hiện các biện pháp hạn chế hay tạm dừng
nhận LĐ NN. Có khoảng 9.000 người Việt Nam làm việc ở NN đã phải về nước
trước thời hạn. Từ giữa năm 2009, kinh tế của nước ta bắt đầu ổn định và phục
hồi, nhu cầu LĐ có tăng lên, nhưng vẫn ở mức thấp. Tính đến ngày 31/12/2009,
có 75.000 NLĐ đi làm việc ở NN, đạt gần 83% kế hoạch đã đề ra [62]. Trong
năm 2009, các DN cũng đã tiếp cận và đưa được LĐ vào một số thị trường mới:
Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Ixraen... Tuy số lượng còn nhỏ, nhưng cũng mở ra
triển vọng mới.
Bảng 1.4: Số lượng lao động đưa đi phân theo thị trường điểm (1992 - 2009)
Đơn vị tính: người
TT

1
2
3
4
5

2006
2007
2008
2009
Tổng
% tổng số

Tổng
số

Đài
Loan

810
0
3.960
0
10.150
0
7.187
0
12.950
0
18.470
191
12.240
1.697
21.810
558
31.500

2.955
5.360
5.517
5.800
5.456
44.901
6,06

Nước tiếp nhận
Hàn
Malaysia Nước khác
Quốc
210
0
600
3.318
0
478
4.781
0
4.987
5.270
0
1.631
7.826
0
4.087
4.880
0
11.172

16.000
7.800
24.390
7.578
2.792
37.507
112.278
172.853
197.283
15,17
23,35
26,65

Nguồn: Báo cáo hàng năm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

22


Bảng 1.5: So sánh xuất khẩu lao động với việc làm trong nước được
tạo ra hàng năm
Đơn vị tính: 1000 người
Chỉ
tiêu

2001

2002

2003


nước

1.364

1.374

1.450

1.490

1.540

1.572

1.5335

1.535

Tỷ lệ
(%)

(97,42)

(96,76)

(95,08)

(95,66)

(95,61)


(3,24)

(4,92)

(4,34)

(4,39)

(4,78)

(5,36)

(5,36)

Nguồn: Tài liệu Hội thảo: Pháp luật và cơ chế quốc gia, khu vực và
quốc tế về bảo vệ người lao động ở nước ngoài", Hội Luật gia Việt Nam, Báo
cáo "Pháp luật Việt Nam về bảo vệ NLĐ Việt Nam ở NN", tr.3.
Bảng 1.6: Số lượng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong
năm theo hợp đồng phân theo giới tính, trình độ chuyên môn
Đơn vị tính: người
Năm

Tổng số
Theo trình độ chuyên môn
Phổ thông
Có tay nghề
Đại học
Chuyên gia


58

Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2007), Báo cáo số
lượng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài năm 2007.

23


Theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc
ở nước ngoài trong tháng 6/2010 là 7.493 người. Như vậy, tổng số lao động
đưa đi từ đầu năm tới nay là 37.068 người. Trong đó Đài Loan 12.939 người;
Hàn Quốc 1.476 người; Nhật Bản 2.475 người; Malaysia 2.511 người; Lào
2.840 người; UAE 4.416 người, Libya 3.032 người, Ả rập Xê út 1.465 người,
Macao 1.693 người, Bahrain 1.204 người, Campuchia 1.387 người và các thị
trường khác là 1.630 người [95].
Chất lượng nguồn lao động đi XKLĐ cũng được từng bước nâng lên.
Thông qua hoạt động XKLĐ, chúng ta đã có một lực lượng lao động có kỹ năng,
tay nghề và lối sống công nghiệp. Năm 2007, số LĐ có tay nghề chiếm 38,62%
trong tổng số lao động đi XKLĐ, tăng so với mức 29,95% của năm 2006. Số
chuyên gia đi XKLĐ tuy còn khiêm tốn, nhưng cũng đã tăng từ 0,23% năm 2006
lên 0,39% trong năm 2007 (tính toán theo số liệu trong bảng 1.6). Đến nay, có thể
nói lao động Việt Nam đang ngày càng có uy tín trên thị trường quốc tế, được
người sử dụng lao động NN đánh giá cao về tính cần cù, thông minh, sáng tạo,
khả năng tiếp thu công nghệ và hòa nhập với môi trường lao động mới. Một ví dụ
điển hình là trong số 15 quốc gia phái cử lao động sang Hàn Quốc làm việc theo
Chương trình cấp phép mới, lao động Việt Nam luôn được các chủ sử dụng nước
này đánh giá cao nhất với tỷ lệ được lựa chọn và số lượng lao động nhiều nhất
[66, tr.19].
1.2.2. Về thu nhập và đời sống của người lao động làm việc ở nước ngoài


2
3
4
5
6
7

Nước
Đài Loan
Hàn Quốc
Nhật Bản
Libi
Lào
Malaysia
Các nước
vùng Vịnh
8 Sỹ quan,
thuyền
viên
Bình quân

2004
550-600
700-750
700-800
150-200
100-150
120-170

2005


500-1000

500-1000 500-1000

400

450

500

Nguồn: [30, tr.82-83]

25

550

600


Trích đoạn Cục Quản lý lao động ngoài nước, Tổng cục dạy nghề và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện “Đề Cục Quản lý lao động ngoài nước, Tổng cục dạy nghề và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện “Đề Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động địa phương tại các huyện nghèo cần hợp tác chặt chẽ, nhiệt tình hơn nữa với các doanh nghiệp xuất khẩu lao Giảm thiểu chi phí xuất khẩu lao động và hoàn thiện hệ thống tín dụng cho vay vốn đối với người đi xuất khẩu lao động Nâng cao hiệu lực quản lý lao động làm việc ở nước ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status