Tìm hiểu khả năng phát hiện và hiểu ý nghĩa từ láy của học sinh lớp 4, 5 trong các bài tập đọc - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự quan
tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy
cô trong khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Em xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ quý báu này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thạc sỹ Lê Bá Miên, người
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành khóa luận này.
Do điều kiện nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, kiến thức còn chế nên đề tài
không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của
các thầy cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn.

Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 2012

Sinh viên

TRỊNH THỊ DUNG

Trịnh Thị Dung

1

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp


3

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài ………………………………………………. . .......................... 1
2. Lịch sử vấn đề..........................................................................................................2
3. Mục đích –yêu cầu................................................................................................... 3

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4
6. Dự kiến cấu trúc của bài viết ......................................................................... 4
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 6
Chương I.Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn .......................................................... 6
I.Cơ sở lý luận ............................................................................................... 6
1.Định nghĩa từ láy...................................................................................... .6
2. Láy đôi .................................................................................................... 7
2.1. Từ láy toàn bộ …………………………………………………….7
2.2. Từ láy bộ phận………………………………………………….....8
3.Ý nghĩa từ láy…………………………………………………………....9
II. Cơ sở thực tiễn……………………………………….……………….......11
1. Kiến thức về từ láy cung cấp trong sách giáo khoa TiếngViệt……...11
2. Kết quả thống kê từ láy trong sách giáo khoa lớp 4, lớp 5……….....13
Chương II. Miêu tả, phân tích thực trạng về từ láy của học sinh Tiểu học……...15



Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống ngôn từ, từ chính là đơn vị trung tâm và có vai trò đặc biệt
quan trọng. Nói như Nguyễn Kim Thành thì: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ,
có thể tách khỏi những đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là
một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa(từ vựng hoặc ngữ pháp)”(1).
Trở lại với lịch sử ngôn ngữ học ta thấy rằng: Sau khi có hệ thống thanh điệu
xuất (thế kỷ XII) Tiếng Việt gồm những từ đơn âm tiết. Nhưng để đáp lại yêu cầu
biểu đạt khái niệm và biểu cảm, của sự phát triển đời sống con người thì Tiếng
Việt phải tiến hành theo con đường đa âm tiết. Và nhờ hệ thống thanh điệu phong
phú nó được phát triển theo hướng láy từ. Vì vậy phép láy từ đóng vai trò tạo từ
chủ yếu trong giai đoạn này.
Đến thời kỳ toàn thịnh của văn học cổ điển Việt Nam viết bằng tiếng mẹ đẻ
(thế kỷ XVIII) thì hiện tượng láy từ càng nổi bật. Cuốn “Sơ lược lịch sử văn học
Việt Nam” tập 1 cũng nhận định rằng: “Tiếng đệm (từ láy) kể có hàng ngàn trong
một tác phẩm”.
Như vậy, phép láy từ có chức năng quan trọng về mặt tạo từ cơ bản nữa. Tuy
nhiên trong các sáng tác văn học, từ láy vẫn giữ một vị trí quan trọng vì giá trị tu từ
của nó như: Tính chất hình tượng, miêu tả gợi cảm và tính cân đối nhip nhàng. Cái
du dương của âm điệu, tiếng nói của Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, cái thắm thiết
của tình cảm dân tộc trong thơ Tố Hữu được bộc lộ ở những từ láy sinh động là
một bằng chứng hùng hồn.
Đối với học sinh Tiểu học, những kiến thức sơ giản, ban đầu về từ láy được
cung cấp trong phân môn Luyện từ và câu. Đây là một trong những kiến thức cơ

Xác định được tầm quan trọng của vấn đề và qua tìm hiểu thực tế dạy học
chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu khả năng phát hiện và hiểu ý nghĩa từ láy
của học sinh lớp 4, 5 trong các bài tập đọc”
2. Lịch sử vấn đề
Như đã trình bày ở phần trước thì kiến thức về từ láy là một trong những kiến
thức cơ bản của chương trình ngữ pháp (Luyện từ và câu) nói riêng và Tiếng Việt
nói chung. Tuy nhiên, từ trước đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu
riêng về khả năng phát hiện và hiểu ý nghĩa từ láy của học sinh lớp 4, 5. Chúng tôi
chỉ thấy xuất hiện một số bài viết in trên các tạp chí có đề cập đến các vấn đề từ láy
ở tiểu học như:
Lê Phương Nga với bài: “Về khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy được dạy ở
tiểu học” in trên tạp chí Giáo dụcTiểu học (T/C GDTH) số 2 – 1996
Nguyễn Thị Lương với: “Trở lại vấn đề phân biệt từ đơn, từ láy, cụm từ
trong Tiếng Việt” (T/C GDTH) số 5 – 1996
Hà Quang Năng với bài: “Khả năng nhận biết và sử dụng từ láy, từ ghép ở
Tiểu học” (T/C Ngôn ngữ và đời sống) số 10 – 2002

Trịnh Thị Dung

7

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Vì vậy chúng tôi có thể khẳng định đề tài: “Tìm hiểu khả năng phát hiện và
hiểu ý nghĩa từ láy của học sinh lớp 4, 5 trong các bài tập đọc” là một đề tài

Trịnh Thị Dung

8

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tìm hiểu khả năng phát hiện và hiểu ý nghĩa từ láy của học sinh lớp 4,5
trong các bài tập đọc.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
1. Đọc và tra cứu tài liệu.
2. Điều tra thống kê tư liệu thực.
3. Mô tả, phân loại và so sánh tư liệu.
4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Quá trình nghiên cứu đề tài được tiến hành tuần tự theo các bước sau:
1. Đọc lý thuyết có liên quan tới đề tài.
2. Thống kê tư liệu điều tra được.
3. Xử lý tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại và so sánh
6. Dự kiến cấu trúc của bài viết
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

10

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Định nghĩa từ láy
Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu : ‘‘Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương
thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với
thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc tức biến thanh, là quy tắc thanh
điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và
nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có
nghĩa”.
Căn cứ vào số lượng âm tiết có trong từ láy người ta chia từ láy thành 3 loại:
láy đôi, láy ba, láy tư.
Mô hình cấu tạo của từ láy:
Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các
từ láy đôi (từ láy hai âm tiết).
Thí dụ: Phương thức láy
Đẹp
Xinh

Đẹp đẽ
Xinh xắn


Hoặc phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một lần vào một đơn vị
hai âm tiết cho các từ láy từ. Nhưng các từ láy tư này khác các từ láy chân chính. Ở
trên ở chỗ nó chỉ chịu tác động láy có một lần.
Thí dụ: Phương thức láy
Quần áo

Quần quần áo áo

Sách vở

Sách sách vở vở

Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một hình vị một âm tiết
cho ta từ láy ba (từ láy ba âm tiết).
Thí dụ: Phương thức láy
Sạch

Sạch sành sanh

Dưng

Dửng dừng dưng

Trong Tiếng Việt, các từ láy ba và láy tư chiếm số lượng rất ít vì vậy đề tài chỉ
đi tìm hiểu kỹ về các từ láy đôi.
2. Láy đôi
Từ láy đôi là những từ có hai âm tiết. Đây là loại từ điển hình của Tiếng Việt
Dựa vào cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở, có thể chia từ láy đôi
thành hai loại: láy toàn bộ và láy bộ phận.

nguyên tắc cùng nhóm âm vực.
Thí dụ:
Tối
Tối tăm
Nhỏ
Nho nhỏ
Nhóm biến đổi âm cuối
Phụ âm cuối sẽ biến đổi theo nguyên tắc

-P

-m

-t

n

- k (ch)

ng, (- nh)

Như:
Đẹp

Đèm Đẹp

Tốt

Tôn tốt


Vội vã
Múa máy

- Từ láy vần: là từ láy mà phần vần của hình vị cơ sở được giữ lại còn phụ
âm đầu thì khác.
Trong các từ láy vần, những từ có hình vị cơ sở ở sau có số lượng lớn.
Thí dụ:
Bồng

Bồng bềnh

Rối

Bối rối

Ngoài tiêu trí này, còn có thể sử dụng các tiêu chí khác để phân loại từ láy đôi
song chương trình Tiểu học không đề cập đến nên người viết không nêu ra ở đây.
3. Ý nghĩa của từ láy
Từ láy hình thành do phương thức láy tác động vào các hình vị cơ sở cho
nên ý nghĩa của của từ láy cũng hình thành từ ý nghĩa của hình vị cơ sở. Do đó khi
xét ý nghĩa của từ láy cần phải đối chiếu ý nghĩa của nó với ý nghĩa của hình vị cơ
sở.
Thí dụ để biết ý nghĩa của các từ láy: “bối rối” cần phải đối chiếu nó với ý nghĩa
của “rối”.
Không kể trường hợp chưa xác định được hình vị cơ sở, phương thức láy tạo
ra những từ láy là ý nghĩa hoặc đột biến hoặc sắc thái hóa ý nghĩa của hình vị cơ
sở.
Thí dụ ý nghĩa mà các từ láy: rạch ròi, lỗ chỗ … khác hẳn, đột biến so với nghĩa
của rạch, chỗ …
Trịnh Thị Dung

- Các từ láy âm mà hình vị láy ở sau có vần “ắn” thường diễn đạt một tính chất
đó là một người trung thực, tin cậy được: đầy đặn, ngay ngắn, vuông vắn …….
Trên đây, chúng ta đã điểm qua những tác dụng ngữ nghĩa chủ yếu của từ
láy. Những tuyến ngữ nghĩa, những tác dụng ngữ nghĩa chủ yếu đã nêu là căn cứ
để lý giải ý nghĩa của từng kiểu láy một. Nhưng khi lý giải nghĩa của từng từ.
Ngoài tác dụng ngữ nghĩa nói trên, còn phải chú ý đến ý nghĩa của hình vị cơ sở.

Trịnh Thị Dung

15

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Các tác dụng ngữ nghĩa này thì tác động vào các hình vị cơ sở có ý nghĩa khác
nhau thì sẽ sản sinh ra các từ láy có ý nghĩa khác nhau.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Kiến thức về từ láy cung cấp trong sách giáo khoa Tiếng Việt
Trước khi tìm hiểu từ láy trong các bài đọc, chúng tôi xem xét một chút vấn đề
tri thức về từ láy mà sách giáo khoa Tiếng Việt cung cấp cho học sinh ra sao?
Trong chương trình CCGD, những kiến thức về từ láy được cung cấp thông
qua phân môn Ngữ pháp và phân môn Từ ngữ cụ thể:
Học sinh bước đầu làm quen với khái niệm từ láy trong giờ lý thuyết về cấu
tạo từ (tiết 8 – Ngữ pháp 4). Trước đó ở tiết, học sinh đã được học và lấy ví dụ về
từ đơn, từ ghép đặt trong thế đối lập về số lượng tiếng trong từ và nghĩa của mỗi
tiếng có trong từ. Sang tiết 8 học sinh làm quen với từ láy đặt trong thế đối lập với

bản:
- Láy đôi: lủng củng, là tà.
- Láy ba: sạch sành sanh, dửng dừng dưng.
- Láy tư: hớt hơ hớt hải.
Trong chương trình 2000, những kiến thức về từ láy được dạy trong kiểu bài
Luyện từ và câu thuộc phân môn Tiếng Việt. Cụ thể ở lớp 4 và lớp 5.
Lớp 4:
Tiết 1: Bài: “Từ láy và từ ghép”
Tiết 2: Bài: “Luyện tập về từ láy và từ ghép”
Trong tuần IV chủ điểm “Măng mọc thẳng” sách Tiếng Việt 4 tập 1.
Lớp 5:
Bài: “Nghĩa của từ”
(Tiếng Việt 5 tập 2)
Ở chương trình này, từ láy được xem xét với tư cách là bộ phận của từ phức
(gồm 2 tiếng trở lên). Cụ thể khi tạo từ phức bằng cách phối hợp những tiếng co
âm hay vần lặp lại nhau sẽ tạo ra từ láy (săn sóc, le te, …)
Sách đưa ra bảng phân loại từ láy gồm.
- Từ láy có hai tiếng giống nhau ở hai âm đầu: nhút nhút…
- Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần: lao xao….

Trịnh Thị Dung

17

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2



Khóa luận tốt nghiệp

Tổng số bài Số bài có từ
láy
120

111

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tổng số từ
láy

Loại từ láy

468

Láy đôi

Láy ba

Láy tư

468

0

0

Câu hỏi đưa ra:
Chúng tôi đưa ra một vài đoạn văn, trong đó có các từ láy:
“Rừng núi còn chìm đắm trong màn đêm. Trong bầu không khí đầy hơi ấm
và lành lạnh, mọi người đang ngon giấc trong chiếc chăn đơn. Bỗng một con gà
trống vỗ phành phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản. Tiếp đó, rải rác khắp
thung lũng tiếng gà gáy râm ran. Mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy te te.
Hoàng Hữu Bội”
“Chị nhà Trò đã bé nhỏ lại gầy yếu quá, người bự những phấn, như mới lột. Chị
mặc áo thân dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm non, lại
ngắn chùn chùn. Hình như cánh yếu quá, chưa quen mở, mà cho dù có khoẻ cũng
chẳng được ra.
Dế mèn bênh vực kẻ yếu_ Tô Hoài”

Trịnh Thị Dung

20

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

“Một buổi có những đám mây bay về. Những đám mây lớn nặng và đặc xịt lổm
ngổm đầy trời.Mây tan ra từng đám nhỏ rồi san đều trên một nền đen xám xịt.
Mưa rào _Tiếng Việt 5”
“ Gió rào rào nổi lên. Có một tiếng động gì lạ lắm. Những chiếc lá lạt xạt
lướt trên cỏ. Cây xấu hổ co rúm mình lại. Nó bỗng thấy xung quanh lao xao. He hé
mắt nhìn: không có gì lạ cả .Lúc bấy giờ nó mới mở bừng những con mắt và quả

Tổng
số bài

SL

Sai

Xác định thiếu
từ

TL(%) SL

TL(%)

SL

TL(%)

Tiểu học Xuân Đài

64

21

32,81

41

64,06


Số học sinh xác định sai cũng nhiều:
Trường Tiểu học Xuân Đài: 41/ 64 bài = 64, 06%
Trường Tiểu học Cổ Loa: 32/67 bài = 47, 76 %
Trong đó tiêu biểu là lớp 5A có 22 bài làm sai /35 bài = 62, 8 %, lớp 4A con
số này là: 18/30 bài = 60%

Trịnh Thị Dung

22

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nguyên nhân dẫn đến lỗi sai của học sinh đó là: Các em nhằm lẫn giữa từ đơn và
từ láy
1.2 Khả năng xác định từ láy trong đoạn thơ (cho sẵn)
Mục đích của dạng bài tập này là đánh giá khả năng nhận biết từ láy
trong một đoạn thơ cụ thể.
Câu hỏi đưa ra:
Xác định từ láy trong các đoạn thơ sau.
“Em yêu màu vàng:
Lúa đồng chín rộ
Hoa cúc mùa thu,
Nắng trời rực rỡ
Sắc màu em yêu _Phạm Đình Ân”



“Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa…đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao lên luỹ lên thành tre ơi?
Tre Việt Nam _Nguyễn Duy”

“Mưa
Mưa
Ù ù như xay lúa
Lộp bộp

Trịnh Thị Dung

24

K34A – Giáo dục Tiểu học


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Lộp bộp
Rơi
Mưa _ Trần Đăng Khoa”

Với 131 phiếu phát ra ở 4 lớp chúng tôi đã thu được kết quả như sau:


4,69

4

6,25

Tiểu học Cổ Loa

67

60

89,55

4

5,97

3

4,48

Như vậy kết quả đạt được khá cao.
Trường Tiểu học Xuân Đài là: 57/64 bài = 89, 06% trong đó tiêu biểu là lớp 5A,
số bài đúng đạt 30/32 bài = 93, 74 %.
Trường Tiểu học Cổ Loa là 60/67 bài = 89, 55 % trong đó phải kể đến lớp 4H với
30/30 đạt 100 %.
Số học sinh xác định thiếu còn nhiều:
Trường Tiểu học Xuân Đài là: 4/64 bài = 6, 25 %.Trong đó có 2/64 bài = 3,
13 % em còn xác định thiếu hai từ “mong manh” và “thăm thẳm”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status