Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT rất phổ biến ở Việt
Nam. Cùng với sự đi lên của xã hội, ngành Giáo dục cũng mạnh dạn đưa ứng
dụng CNTT vào dạy học. Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, ứng dụng này
có tác dụng mạnh mẽ làm thay đổi nội dung và PPDH. Mặt khác, ngành Giáo
dục và Đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực
cho CNTT. Hơn nữa, đây là phương tiện để giúp chúng ta tiến tới một “xã hội
học tập”. Bởi vậy, trong những năm học này, ngành Giáo dục tiếp tục ứng
dụng CNTT trong trường học để tạo bước đột phá ứng dụng CNTT trong
Giáo dục và tạo tiền đề phát triển lĩnh vực này trong những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều trường học được trang bị các thiết bị
hiện đại để phục vụ cho việc giảng dạy nhưng việc sử dụng các thiết bị này
trong dạy học lại chưa thật sự đạt hiệu quả do tâm lí ngại chuẩn bị bài giảng
vì mất nhiều thời gian, công sức thiết kế bài giảng và thời gian chuẩn bị cho
việc giảng dạy hoặc một số GV chưa biết cách sử dụng các phần mềm dạy
học để thiết kế bài giảng hay GV có sử dụng CNTT trong giảng dạy nhưng
chỉ trên mức độ thay cho bảng đen, phấn trắng, chưa phù hợp với yêu cầu sư
phạm. Từ đó dẫn tới chất lượng dạy học không những không được nâng cao
mà có khi còn bị đẩy lùi.
Yêu cầu đặt ra cho nhà sư phạm là cần đổi mới, cải tổ PPDH hiện tại, tìm
ra hướng dạy phù hợp, đồng thời tìm ra một phần mềm dạy học phù hợp, tiện
dụng để có thể ứng dụng CNTT vào đó, tạo ra những bài giảng hấp dẫn và lí
thú, từ đó phát triển tư duy, năng lực học tập của HS, phù hợp với đặc điểm
nhận thức của con người “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Hơn nữa, đặc trưng nổi bật của môn Khoa
học 4 là môn học ngoài lượng kênh hình phong phú, đa dạng còn có rất nhiều
Tiểu học.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu việc ứng dụng CNTT để thiết kế bài
giảng điện tử môn Khoa học 4.
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận này chỉ nghiên cứu trong phạm vi tìm
hiểu về phần mềm Violet, phần mềm PowerPoint 2007 và một số ứng dụng
của hai phần mềm để thiết kế bài giảng điện tử nhằm phục vụ cho việc giảng
dạy môn Khoa học 4.
Lưu Thị Thư
2
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu, làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT
trong dạy học ở Tiểu học nói chung và ứng dụng phần mềm Violet và
PowePoint 2007 trong dạy học môn Khoa học 4 nói riêng.
Tìm hiểu phần mềm Violet, phần mềm PowerPoint 2007 và quy trình
thiết kế bài giảng điện tử bằng phần mềm PowerPoint 2007.
Tiến hành thiết kế bài giảng điện tử môn Khoa học 4 bằng phần mềm
Violet và PowerPoint 2007.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu ứng dụng phần mềm Violet và PowerPoint 2007 vào thiết kế bài
1.1. Định hướng đổi mới PPDH ở Tiểu học theo hướng ứng dụng CNTT
trong dạy học
1.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới PPDH
Ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão
kéo theo những thay đổi lớn lao trong đời sống kinh tế - xã hội, khi mà thế
giới đang bước vào thời đại của toàn cầu hoá và phát triển bền vững thì ngành
Giáo dục và Đào tạo đứng trước những thách thức và vận hội mới: “Nhà
trường cần phải đào tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động,
sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tế, góp phần xây dựng
một đất nước giàu mạnh về kinh tế, một xã hội công bằng và văn minh”.
Có thể nói, một trong những yêu cầu, đòi hỏi cấp bách của xã hội hiện
nay là đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới PPDH.
Nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khoá VII đã xác định: “Phải khuyến
khích tự học”, “Áp dụng PPDH hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định: “Phải đổi mới
phương pháp Giáo dục Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”.
Định hướng đó đã được pháp chế hoá trong văn bản pháp luật. Khoản 2,
điều 28 của luật Giáo dục năm 2005 đã nêu rõ: “PPDH phải phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn
Lưu Thị Thư
4
K34A-GDTH
Lưu Thị Thư
5
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin cùng với sự thay đổi
tăng tốc không chỉ về lượng và nguồn thông tin. Hơn nữa, HS Tiểu học ngày
càng được tiếp xúc với các nguồn thông tin đa dạng.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đang mở ra những khả năng và
điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình
dạy học.
Bill Gates, ông chủ tập đoàn Microsoft đã khẳng định: “Một trong những
điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của Internet. Chính
Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san
phẳng… Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều trường đại học trên
thế giới đưa bài giảng lên Internet. Bạn có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới
để chọn bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập
mà không phải trả tiền. Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục
trong thời gian tới”.
Tại Việt Nam, CNTT đã bước đầu được ứng dụng vào dạy học trong
nhiều năm trở lại đây. Với tác động của CNTT, môi trường dạy học cũng thay
đổi, nó tác động mạnh mẽ tới quá trình quản li, giảng dạy, đào tạo và học tập
dựa trên sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng, website và hạ tầng CNTT đi
công diễn”. Bài giảng là tiến trình GV triển khai giáo án của mình trên lớp.
Bài giảng điện tử là bài giảng của GV được thể hiện trên lớp nhờ sự hỗ
trợ của các thiết bị điện tử và phương tiện CNTT và truyền thông.
Theo Wikipedia:
Bài giảng là một phần nội dung trong chương trình của một môn học
được GV trình bày trước HS .
Còn bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp nhằm thực thi
giáo án điện tử. Trong đó, toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được
chương trình hóa, do GV điều khiển thông qua môi trường đa phương tiện với
sự hỗ trợ của CNTT. Nếu như bài giảng truyền thống là sự tương tác giữa
thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học
truyền thống thì bài giảng điện tử là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua
các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy- học có sự hỗ trợ của CNTT.
Theo tôi, có thể hiểu khái niệm bài giảng điện tử như sau:
“Bài giảng” là sự thực thi một giáo án (kế hoạch dạy học) nào đó trên
đối tượng HS. Nói cách khác, giáo án chỉ có thể trở thành bài giảng khi nó
được thực thi.
Lưu Thị Thư
7
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
“Bài giảng điện tử” là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khi ta thực thi một giáo án (kế hoạch dạy học) nào đó trên đối tượng HS
cụ thể trong một không gian vào thời điểm nhất định thì được coi là ta đang
thực hiện một bài giảng. Như vậy, giáo án là tĩnh, bài giảng là động. Một giáo
án chỉ có thể trở thành bài giảng khi nó được thực thi. Hay nói một cách văn
chương, nếu coi giáo án là “kịch bản” thì bài giảng được coi là “vở kịch được
công diễn”. Bài giảng là tiến trình GV triển khai giáo án của mình ở trên lớp.
Chính vì chưa phân biệt rõ ràng hai khái niệm này nên có GV khi lên lớp
đã trình diễn luôn các phần không nên trình chiếu như giới thiệu “mục tiêu,
yêu cầu của bài học”, các bước làm việc của thầy, của trò vvv… Hoặc do hiểu
sai mà nhiều GV đánh đồng bài giảng điện tử với bài trình chiếu PowerPoint
thông thường. Có thầy cô giáo soạn bài giảng lên lớp như bài soạn của các
báo cáo viên dẫn đến thay vì “đọc chép” nay lại “chiếu chép” gây nên sự
nhàm chán phản tác dụng của bài giảng điện tử.
1.2.3. Vai trò của bài giảng điện tử trong dạy học
Trong dạy học, bài giảng điện tử đóng chức năng vô cùng quan trọng và
đảm nhiệm những nhiệm vụ chính sau:
a.
Hình thành tri thức mới
Thông qua việc sử dụng bài giảng điện tử, việc GV truyền đạt kiến thức
cho HS không chỉ dừng lại ở việc GV dùng lời nói giảng cho HS hiểu mà ở
vào bài học, kích thích được những tư duy và trí tưởng tượng của HS. Từ đó,
các em thêm hứng thú với giờ học hơn.
d. Tổ chức, điều khiển các hoạt động dạy học
Trong bài giảng điện tử, mọi hoạt động, tổ chức của GV và HS trong tiết
học đều thể hiện trong đó.
Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy là hoạt động tổ chức điều khiển
hoạt động nhận thức của HS mà trong đó GV tổ chức điều khiển quá trình tri
giác cảm tính những hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu của HS.
Song những đối tượng đó không phải lúc nào cũng hiện trực tiếp ngay trong
phòng học. Trong trường hợp đó PTDH tạo khả năng tái hiện chúng một cách
gián tiếp bằng tranh ảnh, mô hình, sơ đồ.. Nhờ đó mà tạo nên trong ý thức của
HS những hình ảnh trực quan cảm tính của sự vật hiện tượng từ đó giúp cho
HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các phương tiện thích hợp,
GV sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm
cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho
HS những tình cảm tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận
thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của HS tăng dần theo các cấp độ của tri
giác: nghe -thấy-làm được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn
thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những gì tự tay làm), nên khi đưa
những phương tiện vào quá trình dạy học, GV có điều kiện để nâng cao tính
Lưu Thị Thư
10
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
11
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Nên dùng các màu dịu mắt, khi cần tập trung sự chú ý thì nên dùng các
màu đỏ hay sáng. Cũng cần phối hợp thêm âm thanh để thông báo cho HS các
thông tin cần thiết, có thể dùng các bản nhạc quen thuộc với các em.
- Cỡ chữ nên dùng từ 14-18 để HS dễ dàng đọc và cũng đảm bảo số lượng
chữ hiện trên màn hình, phông chữ cần chân phương, giống như SGK.
- Trong phần mềm có phần thông báo kết quả, điểm số, điểm thưởng, trừ
điểm,… nhằm động viên, khuyến khích các em.
- Đảm bảo hình thức trình bày tương tự với cách trình bày trong SGK, cấu
trúc bài giảng cũng vậy.
b. Về nội dung
- Phần mềm phải được thiết kế theo nội dung chương trình SGK hiện hành.
- Hệ thống bài tập nên đảm bảo yêu cầu đa dạng, nhiều thể loại. Bên cạnh
các bài tập vận dụng trực tiếp thì cũng cần có các bài đòi hỏi một trình độ
nhất định về năng lực tư duy.
c. Về phương pháp
- Phần mềm phải phù hợp với phương pháp giảng dạy ở Tiểu học, đáp ứng
với yêu cầu đổi mới PPDH ở Tiểu học.
- Phần mềm cần phù hợp với nhiều đối tượng, với các mức độ khó dễ khác
nhau để GV, HS dễ dàng lựa chọn nội dung học dễ hay khó. Đáp ứng các mức
độ: cơ bản, mở rộng, nâng cao…
- Phần mềm phải tạo được giao diện thân thiện giữa người và máy.
Violet tạo ra các bài giảng với các tính năng nổi trội sau:
- Bài tập trắc nghiệm: Một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi,
chọn đúng - sai.
- Bài tập ô chữ.
- Bài tập điền khuyết.
- Vẽ đồ thị hàm số.
- Lập trình mô phỏng.
- Tạo hiệu ứng hình ảnh, hiệu ứng chuyển động.
- Đóng gói, lưu và xuất bài giảng ra dạng HTML, xuất ra file (exe) hoặc
xuất ra gói SCORM (để đưa lên các hệ LMS)
- Nhúng Violet vào PowerPoint. Đây là tính năng nổi trội hơn hẳn so với
các phần mềm khác của Violet.
- ….vvv
Lưu Thị Thư
13
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
+ Phần mềm Macromedia Flash
Flash là phần mềm đồ họa mà chúng ta có thể dung nó để mô phỏng các
hiện tượng trong vật lí, hóa học, sinh học,… bằng các đoạn hoạt hình có tính
tương tác cao.
Các mô phỏng tạo ra từ phần mềm Flash hoàn toàn tương thích với các
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Với khả năng tạo file trình diễn nhanh chóng, đẹp và chuyên nghiệp, hiện
nay MS PowerPoint là lựa chọn hàng đầu trên thế giới khi thực hiện việc trình
chiếu.
PowerPoint 2007 là một phần của bộ Microsoft Office 2007. Cũng giống
như Word (chương trình xử lý văn bản), Excel (bảng tính), Outlook (trình
quản lý e- mail và quản lý công việc cá nhân) và Access (trình dữ liệu),
PowerPoint 2007 giúp chúng ta tạo nên các bài thuyết trình, báo cáo sinh
động, lôi cuốn và hấp dẫn.
Khi báo cáo, chúng ta có thể dùng các loại dụng cụ hỗ trợ có thể nhìn
thấy như: slide 35mm, phim chiếu cho máy overhead, các slide trên máy tính,
bản báo cáo được in ra, các bản ghi chú của người thuyết trình. PowerPoint có
thể tạo ra tất cả các dụng cụ trên và có thể kèm theo các hiệu ứng hấp dẫn và
thu hút người nghe.
Do PowerPoint 2007 được tích hợp rất chặt chẽ với các thành phần khác
của bộ Microsoft Office 2007 nên chúng ta có thể chia sẻ thông tin giữa các
thành phần này rất dễ dàng. Ví dụ, chúng ta có thể chép các đoạn văn bản của
Word rồi đưa vào PowerPoint,….
1.3.2.2. Những cải tiến của Powerpoint 2007
Cũng giống như các chương trình khác của bộ Office 2007, PowerPoint
2007đã được thế kế mới về giao diện. Với giao diện mới sẽ rất tiện lợi trong
việc sử dụng. Tuy nhiên, đòi hỏi tất cả người dùng, thậm chí những người
dùng thành thạo các phiên bản trước phải làm quen với giao diện này. Dưới
đây là một số tính năng mới mà chúng ta gặp khi sử dụng phiên bản
PowerPoint 2007.
- Các Tab và Ribbon
PowerPoint 2007 xây dựng thanh Ribbon có các nút lệnh đồ họa dễ nhận
biết được chia thành các Tab (ngăn) thay cho hệ thống thực đơn phức tạp của
style lên các đối tượng hình ảnh như: hình, các dòng kẻ, các khối hình giống
như văn bản.
Lưu Thị Thư
16
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Hình 2: Các kiểu mẫu hình ảnh và văn bản
- Nhiều lựa chọn hình vẽ và định dạng hơn
Các đối tượng vẽ (Office Art) được cải tiến rất nhiều trong PowerPoint
2007. Bạn không những có thể áp dụng các màu sắc và tô nền cho các đối
tượng mà còn có thể đổ bóng, chiếu sáng, trang trí bề mặt, hiệu ứng 3- D,
nghiêng và xoay hình.
- Nhiều tùy chọn định dạng văn bản
PowerPoint 2007 thêm vào nhiều định dạng văn bản mới. Sự cải tiến
trong định dạng văn bản có ý nghĩa nhất là công cụ WordArt. Công cụ này
cho phép áp dụng vào cả các đoạn văn bản thông thường với một ít giới hạn
(lưu ý: tập tin phải được lưu với phần mở rộng của PowerPoint 2007 thì các
tính năng này mới hiện hữu).
- Màu sắc (Color), kiểu chữ (Font) và các mẫu hiệu ứng (Effect themes)
Các style không những có thể tự động định dạng các đối tượng đơn lẻ mà
còn có thể thay đổi định dạng của toàn bài trình diễn. Mỗi themes có ba thành
phần đó là: màu sắc, kiểu chữ và các hiệu ứng.
Giao diện của PowerPoint 2007 nhìn chung cũng giống như các chương
trình Windows khác, tuy nhiên nó cũng có vài điểm đặc trưng. Các thành
phần trên cửa sổ PowerPoint 2007 như sau:
- Thanh tiêu đề (Title Bar): Thể hiện tên của chương trình đang chạy là
PowerPoint và tên của bài trình diễn hiện hành.
- Ribbon: Chức năng của Ribbon là sự kết hợp của thanh thực đơn và các
thanh công cụ, được trình bày trong các ngăn (tab) chứa các nút và danh sách
lệnh.
- Nút Office: Mở thực đơn Office từ đó ta có thể truy cập các lệnh mở (open),
lưu (save), in (print) và tạo mới (new) bài trình diễn.
- Quick Access Tollbar: Chứa các lệnh tắt của các lệnh thông dụng nhất. Ta
có thể thêm, bớt các lệnh theo nhu cầu sử dụng.
Lưu Thị Thư
18
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Nút Minimize: Thu nhỏ cửa sổ ứng dụng vào thanh tác vụ (taskbar) của
Windows; bạn nhấp vào nút thu nhỏ của ứng dụng trên taskbar để phóng to lại
cửa sổ ứng dụng.
- Nút Minimze/Restore: Khi cửa sổ ở nút toàn màn hình, nếu chọn nút này sẽ
thu nhỏ cửa sổ lại, nếu cửa sổ chưa toàn màn hình thì khi chọn nút này sẽ
phóng to cửa sổ thành toàn màn hình.
Hình 4: Mở Microsoft PowerPoint 2007
Cách 2:
Nháy đúp chuột vào biểu tượng PowerPoint 2007
trên màn hình
nền của Windows.
Lưu Thị Thư
20
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1.3.2.4.2. Tạo mới bài trình diễn
Trước khi thiết kế bài giảng, ta phải tạo mới một bài trình diễn.
PowerPoint cung cấp nhiều cách tạo mới một bài trình diễn. Cụ thể như
sau:
a. Tạo bài trình diễn trống (blandk)
Khi khởi động chương trình PowerPoint thì một bài trình diễn rỗng
được tạo ra, chúng ta chỉ cần tiếp tục soạn thảo nội dung cho các slide. Nếu
muốn tạo mới một bài trình diễn rỗng từ đây thì làm theo các bước sau:
- Chọn nút Office → chọn New. Cửa sổ New Presentation xuất hiện.
- Chọn Bland Presentation và nhấn nút Create để tạo mới.
các mẫu.
+ Chọn một mẫu ở khung giữa và xem hình minh họa ở phía bên phải cửa
sổ. Nếu đồng ý thì ấn nút Download để tải mẫu về sử dụng.
- Dùng các mẫu thiết kế sưu tầm đang lưu trên đĩa
Khi bạn sử dụng một mẫu từ Internet thì chương trình PowerPoint tự
động lưu mẫu đó vào danh mục Saved Template để bạn sử dụng sau này. Làm
theo các bước sau để sử dụng một mẫu đang lưu trên đĩa:
+ Chọn nút Office → New. Hộp thoại New Presentation xuất hiện.
+ Chọn My Template, lựa chọn nút mong muốn và nhấn nút OK để tạo tập
tin trình diễn mới.
c. Tạo bài trình diễn từ một tập tin có sẵn
Nếu bạn có sẵn một bài trình diễn mà nội dung nó tương tự với bài tập mà
bạn sắp tạo thì bạn nên tạo bài trình diễn mới dựa trên tập tin có sẵn. Ta thực
hiện theo các bước sau:
- Chọn nút Office → New. Hộp thoại New Presentation xuất hiện.
- Chọn New frome Existing.
- Hãy tìm tới nơi chứa tập tin trình diễn mẫu và chọn nó.
- Nhấn nút Creat để tạo mới bài trình diễn dựa trên tập tin có sẵn.
d. Tạo bài trình diễn từ nội dung của một tập tin ứng dụng khác
Ngoài những cách trên, PowerPoint còn cho phép tạo bài trình diễn mới từ
các tập tin của các ứng dụng khác như tập tin dàn bài của Word. Sau khi nhập
nội dung vào PowerPoint bạn có thể hiệu chỉnh lại tùy ý. Các bước thực hiện
như sau:
- Chọn nút Office → chọn nút Open. Hộp thoại Open xuất hiện.
- Chọn tập tin mong muốn và chọn Open để mở.
Lưu Thị Thư
22
23
K34A-GDTH
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lưu ý: Để thêm nút Save vào thanh Quick Access Toolbar ta vào Office →
nhấp chuột phải vào Save và chọn Add to Quick Access Toolbar.
1.3.2.4.4. Đóng và mở lại tập tin trình diễn
a. Đóng tập tin trình diễn
Khi đóng chương trình PowerPoint thì các tập tin đang mở sẽ tự động
đóng theo, tuy nhiên nếu bạn chỉ muốn đóng một tập tin cụ thể nào đó thì cho
tập tin đó hiện hành và vào Office chọn Close. Nếu tập tin chưa được lưu thì
chương trình sẽ có thông báo nhắc nhở.
b. Mở lại tập tin trình diễn đang lưu trên đĩa
Nếu muốn mở nhanh các tập tin đã sử dụng gần đây ta vào Office rồi chọn
tập tin muốn mở ở danh sách bên phải.
Hình 6: Mở nhanh tập tin từ danh sách Recent Documents
Nếu tập tin muốn mở không có trong danh sách hiện hành, ta làm theo các
bước sau:
- Vào Office → chọn Open. Hộp thoại Open xuất hiện.
- Tìm tới nơi lưu trữ tập tin và chọn tập tin muốn mở, sau đó nhấn nút
Open.
Lưu Thị Thư
25
K34A-GDTH