Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Xuân
Tr-ờng đại học s- phạm hà nội 2
KHoa giáo dục tiểu học
********
Nguyễn Thị XUân
Một số biện pháp nâng cao
chất l-ợng dạy học phầN địa
lí trong môn lịch sử - địa lí
lớp 4
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn nghnh: PPDH T nhiờn Xó hi
Ngi hng dn khoa hc
Th.S Nguyễn Thị H-ơng
H NI - 2010
1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
NguyÔn ThÞ Xu©n
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học là bậc học nền
tảng với mục đích và nhiệm vụ là trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng
nhất của người công dân, người lao động tương lai. Đó là những người “phát
triển toàn diện, có tri thức và có tay nghề cao, có năng lực thực hành, tự chủ,
sáng tạo”. Để làm được điều này chúng ta phải tiến hành đồng bộ những vấn
đề của bậc Tiểu học, phải có được nội dung và phương pháp thích hợp trong
đó đổi mới PPDH là một xu thế tất yếu để nâng cao chất lượng hiện nay. Đổi
mới PPDH theo hướng tích cức hóa hoạt động học tập, phát huy sự chủ động,
sáng tạo của học sinh.
Lịch sử - Địa lí là một môn học trong hệ thống các môn học của bậc
Tiểu học. Tuy là môn ít tiết nhưng môn Lịch sử - Địa lí có vị trí và ý nghĩa
sâu sắc trong đó phần Địa lí cung cấp cho HS rất nhiều kiến thức thực tế, vốn
sống sau này mà quan trọng là khơi gợi cho các em lòng yêu thích, ham muốn
khám phá thiên nhiên đất nước, con người. Qua đó giáo dục lòng yêu tổ quốc,
yêu quê hương, đất nước con người Việt Nam. Tuy vậy, lâu nay trong các
môn ở Tiểu học, đa số giáo viên còn chú trọng nhiểu ở môn công cụ như Toán
và Tiếng việt. Do đó, giáo viên có thể dạy rất tốt ở những môn này, những
môn còn lại trong đó có Địa lí ít được chú trọng nên giáo viên lúng túng dạy
chưa tốt, chưa tạo hứng thú cho HS trong học tập hoặc dạy qua loa nên chưa
đạt được hiệu quả của tiết dạy. Với mục tiêu chương trình là phát triển con
người toàn diện. Chính vì vậy, giáo viên cần thay đổi cách nghĩ cũng như tìm
ra các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học cho tất cả các môn trong đó có
phần Địa lí trong môn Lịch sử - Địa lí là một việc làm thiết thực.
Mặt khác, là một GV Tiểu học tương lai, với những kiến thức lí luận
được trang bị trong nhà trường và được tiếp xúc thực tiễn qua các kì kiến tập,
thực tập ở các trường Tiểu học tôi thấy việc nâng cao chất lượng dạy học Địa
lí lớp 4 nói riêng và chất lượng GD – ĐT ở Tiểu học nói chung là rất cần
pháp được đề xuất trong đề tài.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài
4
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
- Tìm hiểu thực trạng dạy học phần Địa lí trong môn Lịch sử - Địa lí
lớp 4 và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
- Đề xuất các biện pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học
phần Địa lí trong môn Lịch sử - Địa lí lớp 4.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp điểu tra, khảo sát
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp thống kê toán học.
8. Cấu trúc đề tài
- Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham
khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phần Địa lí trong
môn Lịch sử - Địa lí lớp 4.
5
“biện pháp” dạy học có quan hệ mật thiết với nhau đến nỗi khó phân biệt
được ranh giới giữa chúng. Trong từng tình huống cụ thể, PPDH và BPDH có
thể chuyển hóa lẫn cho nhau. Có lúc phương pháp là con đường độc lập để
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
giải quyết nhiệm vụ dạy học, có lúc phương pháp chỉ là một biện pháp có tác
dụng riêng biệt. Vì vậy việc xác định bản chất của khái niệm “biện pháp dạy
học” có thể dựa vào việc phân tích khái niệm PPDH.
Cũng như PPDH, BPDH cũng tuân theo những qui luật chung tổ chức
quá trình dạy học: có tính mục đích, gắn liền với các nội dung và các thành tố
khác của quá trình dạy học như: hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy
học,…
Vậy biện pháp dạy học là cách thức tổ chức các hoạt động học tập cho
HS của GV nhằm đạt được mục đích dạy học.
1.1.3. .Phân biệt phương pháp dạy học và biện pháp dạy học
Để phân biệt PPDH và BPDH ta cần biết khái niệm dạy học có thể hiểu
nhiều cách rộng, hẹp với những cấp độ khác nhau. Chẳng hạn, PPDH có thể
hiểu theo nghĩa hẹp là một phương pháp cụ thể có tính chất như một biện
pháp về mặt kĩ thuật dạy học như: phương pháp mô tả, phương pháp đàm
thoại…nhưng cũng có thể hiểu nó theo một nghĩa rộng như một hệ hay một
nhóm các phương pháp dạy học bao gồm nhiều PPDH cụ thể phục vụ cho
mục đích nhất định như: PPDH nắm kiến thức mới, PPDH phát huy tính tích
cực của HS. Như vậy, PPDH có khái niệm rộng hơn BPDH. PPDH hiểu theo
nghĩa hẹp là một biện pháp dạy học về mặt kĩ thuật dạy học.Còn PPDH hiểu
1.2.1.1. Cơ sở lí luận của việc đổi mới PPDH ở Tiểu học
Cơ sở lí luận của việc đối mới PPDH chủ yếu dựa trên những công
trình nghiên cứu về lĩnh vực khoa học giáo dục, dưới đây là một số nét chính.
Tiếp cận hệ thống: Quá trình dạy học được coi là một hệ thống bao
gồm nhiều thành tố: thầy, trò, phương tiện và điều kiện dạy học, mục đích,
nội dung, phương pháp dạy học,..phụ thuộc lẫn nhau, quyết định chất lượng
của nhau. Toàn bộ quá trình dạy học chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế xã hội.
Quá trình dạy học tiếp cận nhân cách: Đổi mới PPDH theo cách tiếp
cận nhân cách tức là phát triển ba mặt của nhân cách đó là: tính riêng biệt, độc
đáo của cá nhân, hòa đồng các mối quan hệ nhân cách, ảnh hưởng của nhân
cách tới xã hội, cộng đồng.
8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
Quá trình dạy học theo cách tiếp cận hoạt động: Phải đổi mới PPDH và
hình thức dạy học để quá trình dạy học thực sự là một quá trình GV tổ chức
các hoạt động khác nhau để HS được hoạt động và lĩnh hội tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo đồng thời hình thành nhân cách cho HS.
Công nghệ dạy học: Sử dụng tối đa và tối ưu phương tiện, kĩ thuật dạy
học hiện đại. Thiết kế đưa hệ dạy học mới, đó là hình thức dạy học “tự động
hóa – cá thể hóa – được trợ giúp.
Thuyết cộng tác: Theo thuyết này dạy có chức năng thiết kế, tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra quá trình học. Học là quá trình tự điểu khiển, chiếm lĩnh
tri thứ của bản thân tức là tự tổ chức, thi công và tự kiểm tra việc học của
chính mình dưới sự điều khiển của thầy. Hai hoạt động này thống nhất với
tiễn ta có thể khẳng định việc đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở
Tiểu học nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết.
1.2.2. Định hướng đổi mới PPDH nói chung và ở Tiểu học nói riêng
Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của việc đổi mới PPDH nói chung và ở
Tiểu học nói riêng được xác định trong các văn kiện, văn bản quan trọng của
Đảng , Nhà nước và Chính phủ. Nghị quyết TW 4 khóa VII ( 1/1993), nghị
quyết khóa 2 (khóa VIII - 12/1996), luật giáo dục (12/1998), chiến lược phát
triển giáo dục Việt Nam (2001 - 2010) cùng một số căn cứ khác như: chương
trình Tiểu học mới (11/2001). Dựa trên quan điểm chủ trương của Đảng thì
đổi mới PPDH theo những định hướng sau:
Đỏi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động của
người học trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn các PPDH
khác nhau: hiện đại và truyền thống sao cho đạt được mục tiêu dạy học.
Đổi mới PPDH theo hướng phát huy khả năng của người học vừa phù
hợp với đối tượng vừa phù hợp với thực tiễn của cơ sở. Cần hình thành cho
người học phương pháp tự học, tăng cường sự tìm kiếm tri thức hay ứng dụng
tri thức vào cuộc sống.
Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và
phát huy khả năng của cá nhân.
10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
Đổi mới PPDH theo hướng kĩ năng thực hành cho HS để HS có khả
năng vận dụng những lí thuyết đã học vào các tình huống cụ thể trong cuộc
Gắn với địa phương: Chương trình dành khoảng 10 – 15% tổng số thời
gian học cho nội dung tìm hiểu địa phương. Những nội dung này có thể được
thực hiện như sau:
- Với những bài lịch sử, địa lý có nội dung phản ánh những đặc trưng của địa
phương GV nên dành thời gian cho học sinh tìm hiểu, liên hệ thực tế kĩ hơn
so với học sinh nơi khác.
- Tạo điều kiện cho học sinh đi tham quan một số địa điểm ở địa phương để
các em có thể thu hoạch được những thông tin cần thiết cho bài học lịch sử và
địa lý. Trường hợp giáo viên không thể đưa học sinh đi tham quan nên mời
người có am hiểu về lĩnh vực kiến thức liên quan đến nội dung bài học nói
chuyện với học sinh.
1.3.1.2. Mục tiêu của chương trình môn Lịch sử - Địa lí
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản ban đầu thiết
thực về:
- Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian
của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nay.
- Các sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ địa lý đơn giản ở Việt Nam
và một số quốc gia trên thế giới
Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh những kỹ năng:
- Quan sát sự vật, hiện tượng và thu thập, tìm kiếm thông tin, tư liệu lịch
sử, địa lý từ các nguồn khác nhau.
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để
giải đáp.
- Nhận biết đúng các sự vật, hiện tượng lịch sử, địa lí.
- Trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,…
- Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
12
những thành tựu của dân tộc trong quá trình giữ nước chương trình có
tăng cường những nội dung về lịch sử kinh tế, lịch sử văn hóa.
13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
- Chương trình địa lí tập chung hơn vào việc tìm hiểu về đất nước qua
việc tăng cường thời lượng cho phần địa lý Việt Nam còn phần địa lí
các châu lục và đại dương trong chương trình chỉ lựa chọn những nội
dung tiêu biểu qua từng châu lục và đại dương.
1.3.1.4. Sách giáo khoa
- Sách giáo khoa LS - ĐL lớp 4, 5 ở tiểu học gồm các chủ đề với
số lượng các bài học được phân phối ở bảng sau:
SGK
Số bài học Số bài ôn tập, Tổng số tiết
mới / Số tiết
tổng
kết,
kiểm tra
Lớp 4
Lớp 5
35
Địa lý
29/29 tiết
6
35
1.3.2. Phần Địa lý lớp trong môn Lịch sử - Địa lí 4
1.3.2.1. Mục tiêu dạy học của phần Địa lí lớp 4
Mục tiêu của dạy học các bài địa lý lớp 4 nhằm giúp học sinh:
- Về kiến thức: Nhận biết được một số đặc điểm khái quát về tự nhiên,
dân cư và hoạt động ở các miền địa hình trên đất nước ta, cung cấp cho học
sinh những biểu tượng địa lí, bước đầu hình thành một số khái niệm cụ thể,
xây dựng một số mối quan hệ địa lí đơn giản.
- Về kỹ năng:
+ Bước đầu vận dụng được một số khái niệm đơn giản về bản đồ ( hiểu
bản đồ, đọc tên địa danh, một số đối tượng, …) và tranh ảnh địa lí.
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
+ Bước đầu rèn luyện kỹ năng so sánh, phân tích số liệu, tranh ảnh, kĩ
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
Bài 2. Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn
Bài 3. Hoạt động sản xuất của người dân ở Hoàng Liên Sơn
Bài 4. Trung du Bắc Bộ
Bài 5. Tây Nguyên
Bài 6. Một số dân tộc ở Tây Nguyên
Bài 7. Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên
Bài 8. Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên (tiếp
theo)
Bài 9 Thành phố Đà Lạt
Bài 10. Ôn tập
- Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền đồng bằng
Bài 11. Đồng bằng Bắc Bộ
Bài 12. Người dân ở đồng bằng Bắc Bộ
Bài 13. Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ
Bài 14. Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ
(tiếp theo).
Bài 15. Thủ đô Hà Nội
Bài 16. Thành phố Hải Phòng
Bài 17. Đồng bằng Nam Bộ
Bài 18. Người dân ở đồng bằng Nam Bộ
Bài 19. Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ
Bài 20. Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ
Bài 21. Thành phố Hồ Chí Minh
Bài 22. Thành phố Cần Thơ
Bài 23. Ôn Tập
Bài 24. Dải đồng bằng Duyên Hải Miền Trung
- Các câu hỏi hoặc hoạt động giữa bài nhằm gợi ý cho GV tổ chức cho
HS làm việc với kênh hình (chủ yếu là tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ) để
khai thác thông tin địa lí hoặc rèn luyện các kĩ năng địa lí cơ bản.
17
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
- Các câu hỏi ở cuối bài chủ yếu là các câu hỏi tự luận nhằm giúp GV
kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ nhận thức so với mục tiêu bài học và
củng cố kiến thức cho HS.
- Phần tóm tắt trọng tâm của bài được in đậm.
+ Về nội dung
Các bài địa lí lớp 4 có cấu trúc như một bài học địa lí ở bậc trung học
phổ thông với các phần: mở bài, nội dung chính của bài, tóm tắt nội dung
chính của bài và phần câu hỏi bài tập ở cuối bài. Tuy nhiên, mỗi bài học
thường gồm một số đề mục có nội dung đơn giản. Mỗi đề mục trả lời cho
câu hỏi có nội dung đơn giản. Mỗi đề mục trả lời cho một số ít câu hỏi (Tại
sao? Ở đâu? Cái gì?) giúp HS nhận biết một vài đặc điểm địa lí nổi bật của
các vùng, của đất nước.
1.3.2.3. Đặc điểm phần Địa lí lớp 4
* Chương trình phần Địa lí được xây dựng theo quan điểm tích hợp ở
ba điểm chính:
- Chương trình xem xét Tự nhiên - Con người - Xã hội trong một thể
thống nhất, có quan hệ và qua lại và tác động lẫn nhau.
- Kiến thức trong chương trình là kết quả của việc tích hợp kiến
thức của nhiều ngành khoa học: Sinh học, Lịch sử, Dân số - Môi trường,…
không khí học tập nhẹ nhàng, vui tươi, phát huy được tính tích cực của HS,
loại bỏ cách áp dụng áp đặt cứng nhắc một chiều.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng của việc dạy học phần Địa lí lớp 4 ở Tiểu học
Để tìm hiểu thực trạng dạy học phần Địa lí lớp 4 ở Tiểu học tôi đã sử
dụng phương pháp điều tra kết hợp quan sát, hỏi - đáp,.. việc dạy và học của
thầy và trò trường Tiểu học Thị Trấn - Sóc Sơn - Hà Nội và trường Tiểu học
Xuân Hòa A - Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
2.1.1. Thực trạng về việc lập kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học trên lớp
Thông qua các tiết dự giờ và trò chuyện, trao đổi với GV thì hầu hết
GV đều chưa lập kế hoạch bài học cụ thể cho một bài dạy địa lí. Tình trạng
dạy không có giáo án khá phổ biến, GV chỉ đọc trong SGK, sách tham khảo
và tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi nên giờ học không đem lại hiệu quả cao.
19
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
Một số GV khi soạn giáo án thì còn quá lệ thuộc vào sách giáo viên, sách thiết
kế mà chưa có sự tìm tòi, sáng tạo của bản thân để thiết kế các nội dung học
tập phù hợp với đối tượng HS trong lớp. Nhiều GV chưa xác định được đầy
đủ mục tiêu của bài học chính vì vậy mà chưa hoàn thành được mục tiêu của
bài học. Khi được hỏi về vấn đề này, thì đa số các GV cho rằng vì không có
thời gian để thiết kế giáo án và vì đây không phải là môn học chính nên không
cần phải đầu tư quá nhiều thời gian.
Do không chuẩn bị giáo án nên các GV chưa biết cách tổ chức các hoạt
động dạy học sao cho có hiệu quả. Hầu hết GV đều biến giờ học địa lí thành
Trò chơi
học tập
Dạy học
nêu vấn đề
Biểu đồ 1: Mức độ sử dụng các PPDH trong dạy học phần Địa lí lớp 4
20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
Qua bảng số liệu trên cho thấy hầu hết các GV sử dụng PPDH truyền
thống: Thuyết trình (mức độ thường xuyên là 73%), quan sát (mức độ thường
xuyên là 61%). Còn các PPDH phù hợp với đổi mới HS theo hướng phát huy
tính tích cực của HS như: thảo luận nhóm, trò chơi học tập, dạy học nêu vấn
đề,..thì ít được GV sử dụng.
Qua quan sát, dự giờ trong quá trình dạy học GV chủ yếu dạy học theo
hình thức cá nhân: hỏi – đáp (GV hỏi HS trả lời) hoặc hình thức GV giảng HS
chép mà “ngại ” tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm nên giờ học không sôi
nổi, không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS. Nhiều GV cho rằng
cứ đặt ra nhiều câu hỏi cho HS trả lời là phát huy được tính tích cực của HS.
2.1.3. Mức độ và hiệu quả sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học trong dạy
học Địa lí.
Để tìm hiểu mức độ và hiệu quả sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học
trong dạy học Địa lí 4 tôi đã tiến hành điều tra câu hỏi sau (Phụ lục 1).
Kết quả thu được như sau:
21
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
NguyÔn ThÞ Xu©n
chỉ sử dụng ở mức độ thường xuyên là: biểu đồ (52%), tranh ảnh
(43,5%),…Các phương tiện dạy học mang lại nhiều thông tin, tăng tính sinh
động, tạo hứng thú học tập đặc biệt là tiết kiệm được thời gian: máy vi tính,
băng tiếng, băng hình,… chưa được sử dụng nhiều trong giờ học.
Qua quan sát, dự giờ tôi thấy hầu hết các GV khi dạy địa lí chỉ sử dụng
các phương tiện, thiết bị dạy học địa lí để minh họa cho nội dung bài học mà
ít chú ý đến nguồn tri thức của chúng. GV chưa cập nhật thông tin địa lí, tìm
hiểu, sưu tầm những tranh, ảnh để phục vụ nội dung bài học. Hầu hết HS còn
yếu trong kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ do GV cũng chưa nắm chắc kĩ
năng này để hướng dẫn cho HS.
2.1.4. Thực trạng tổ chức các hình thức học tập tham quan, ngoại khóa cho
HS.
Qua trao đổi, trò chuyện với Ban giám hiệu nhà trường cùng một số
GV thì hầu hết các GV đều cho rằng việc tổ chức cho HS tham gia các hoạt
động học tập ngoại khóa, tham quan thực địa theo bài học là rất cần thiết đối
với HS. Tuy nhiên thì nhà trường chưa có điều kiện về thời gian cũng như
kinh phí để tổ chức các hoạt động này cho HS.
2.2. Nguyên nhân của thực trạng
Có một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên sau đây:
- Lâu nay, trong các môn ở Tiểu học đa số GV con chú trọng một số
môn công cụ như: Toán, Tiếng Việt còn ít chú trọng đến các môn học khác
trong đó có môn Địa lí. Chính vì vậy mà GV ít quan tâm, đầu tư thời gian cho
môn học này.
NguyÔn ThÞ Xu©n
Chương 2.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHẦN
ĐỊA LÍ TRONG MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÍ LỚP 4
1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp dạy học phần Địa lí trong môn Lịch
sử - Địa lí lớp 4
1.1. Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của bài học
PPDH là cách thức, con đường nhằm đạt được mục đích đề ra. Như vậy
tùy từng nội dung bài học, trình độ nhận thức của HS cũng như cơ sở vật chất
của nhà trường mà GV trong một giờ lên lớp có thể sử dụng nhiều PPDH
khác nhau để đạt được mục tiêu bài học.
1.2. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục
Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục là đảm bảo
trong dạy học đồng thời giúp HS nắm vững tri thức khoa học thì hình thành
cho HS thế giới quan khoa học và những phẩm chất của con người mới.
Để thực hiện nguyên tắc này GV phải có trình độ chuyên môn, có kĩ
năng dùng ngôn ngữ, tổ chức hợp lí quá trình dạy học và biết xử lí linh hoạt,
sáng tạo các tình huống nảy sinh trong quá trình dạy học.
1.3. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa dạy và học
Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức,
điều khiển, lãnh đạo hoạt động học tập của HS. Hoạt động học giữ vai trò tự
giác, tích cực, tự lực trong sự tiếp thu những tác động từ phía GV mà phát huy
được vai trò tự giác, tích cực, tự lực của HS.
Đảm bảo nguyên tắc này chúng ta kiên quyết chống lại hai khuynh
hướng sau:
+ Đề cao vai trò của thầy, hạ thấp vai trò của trò.
+ Đề cao vai trò của trò, hạ thấp vai trò của thầy.
HS tiếp xúc với những sự vật, hiện tượng của chúng từ đó đi đến nắm được
khái niệm, qui luật, lí thuyết khái quát. Và ngược lại cho HS nắm được những
cái trìu tượng, khái quát rồi xem xét đến những sự vật, hiện tượng cụ thể.
25