Tìm hiểu phép suy luận quy nạp không hoàn toàn trong dạy học nội dung số tự nhiên ở tiểu học - Pdf 31

Khãa luËn tèt nghiÖp

Lêi c¶m ¬n
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn
các thầy giáo, cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2 và các thầy, cô giáo trong tổ
bộ môn Tâm lý – Giáo dục đã trang bị cho tôi vốn kiến thức lý luận, giúp
tôi xây dựng nên cơ sở khoa học của đề tài.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và bạn bè
trong khoa Giáo dục Tiểu học trường ĐHSP Hà Nội 2. Đặc biệt, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Thị Hương, người đã động
viên, hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên

Dương Thị Nga

D-¬ng ThÞ Nga

1


Khãa luËn tèt nghiÖp

Lêi cam ®oan
Đề tài “Tìm hiểu phép suy luận quy nạp không hoàn toàn trong
dạy học nội dung số tự nhiên ở Tiểu học” là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Hương và không
trùng với kết quả nghiên cứu khác.
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng, nếu sai tôi xin hoàn toàn

1.1.3. Trí nhớ của học sinh Tiểu học ....................................................5
1.1.4. Tưởng tượng của học sinh Tiểu học ...........................................5
1.1.5. Tư duy của học sinh Tiểu học .....................................................6
1.2. Các phép suy luận dùng trong dạy học môn Toán ở Tiểu học ...........7
1.2.1. Khái niệm phép suy luận ............................................................7
1.2.2. Phân loại suy luận .......................................................................8
1.2.2.1. Suy luận diễn dịch ...............................................................8
1.2.2.2. Suy luận quy nạp ..................................................................10
1.2.3. Vai trò của phép suy luận quy nạp không hoàn toàn trong việc
dạy học nội dung số tự nhiên ở Tiểu học ...................................................13

D-¬ng ThÞ Nga

3


Khãa luËn tèt nghiÖp
Chƣơng 2: Phép suy luận quy nạp không hoàn toàn trong dạy học nội
dung số tự nhiên ở Tiểu học ....................................................................15
2.1. Nội dung và phương pháp dạy học nội dung số tự nhiên ở Tiểu học..15
2.1.1. Hình thành khái niệm ban đầu về số tự nhiên ở Tiểu học ................15
2.1.2. So sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên ..................................................19
2.1.3. Các phép toán trên tập hợp số tự nhiên ...........................................23
2.1.3.1. Dạy học phép cộng ................................................................23
2.1.3.2. Dạy học phép trừ ...................................................................25
2.1.3.3. Dạy học phép nhân ................................................................27
2.1.3.4. Dạy học phép chia ..................................................................31
2.1.4. Dạy học các tính chất ở tiểu học ......................................................34
2.1.4.1. Dạy học tính chất phép toán cộng ..........................................34
2.1.4.2. Dạy học tính chất phép trừ ......................................................35

triển bền vững cho nên càng phải chú trọng hơn nữa đến giáo dục đào tạo ở
cấp Tiểu học nhằm trang bị cho các em những tri thức, phương pháp học
đúng đắn.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có vị trí rất quan trọng và
khả năng giáo dục nhiều mặt của môn Toán là rất to lớn. Nhà bác học
người Nga N.E.Giucôpxki (1847-1921) đã nhận xét: “Toán học cũng có vẻ
đẹp riêng giống như hội họa và thi ca. Vẻ đẹp này thường được hiện ra
qua những tư tưởng rõ ràng khi mọi chi tiết như bày ra trước mắt ta nhưng
có khi nó làm ta phải sửng sốt vì những ý đồ rộng lớn chưa được nói ra hết
nhưng đầy hứa hẹn”.
Số tự nhiên là một thành tựu Toán học lâu đời nhất của loài người.
Ngày nay, số tự nhiên được sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi của đời sống xã hội.
Do đó, việc dạy học số tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong dạy học
Toán ở Tiểu học. Học sinh nắm được các kiến thức về số tự nhiên là cơ sở
để tiếp thu các kiến thức khác và có thể vận dụng vào trong thực tế.
Tư duy của học sinh Tiểu học đang trong giai đoạn “tư duy cụ thể”,
chưa hoàn chỉnh, khả năng phân tích của học sinh Tiểu học còn non nớt, vì
vậy việc nhận thức các kiến thức toán học trừu tượng khái quát là vấn đề
khó với các em. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để dạy học tốt các nội dung
của chương trình môn toán tiểu học nói chung và nội dung số tự nhiên nói

D-¬ng ThÞ Nga

5


Khãa luËn tèt nghiÖp
riêng? Làm thế nào để giúp học sinh bước đầu hiểu được bản chất các khái
niệm, giúp các em có thể rèn luyện và phát triển tư duy suy luận, tư duy
logic khi dạy học nội dung này? Câu trả lời ttheo tôi đó là: Trong dạy học,

D-¬ng ThÞ Nga

6


Khãa luËn tèt nghiÖp
- Nghiên cứu việc vận dụng phép suy luận quy nạp không hoàn toàn
trong dạy học nội dung số tự nhiên ở Tiểu học.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
P

quy nạp không hoàn toàn trong dạy học.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung và phương pháp dạy học số tự nhiên ở Tiểu học
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo luận văn
gồm có hai chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2.

quy nạp không hoàn toàn trong dạy học

nội dung số tự nhiên ở Tiểu học.

vào

D-¬ng ThÞ Nga

8


Khãa luËn tèt nghiÖp
:C
.

, không

.

.

.

,
.

1

.

.

.



.
c

.

.

.
4, 5)
thu t
.
-

:T
.

-

:H
.


.
Ví dụ 1: Tiền đề: Số 25 chia hết cho 5
Số 55 chia hết cho 5
Số 75 chia hết cho 5
Kết luận: Các số có tận cùng là 5 thì chia hết cho 5.
Ví dụ 2: Tiền đề: Nếu một số có tận cùng là 0 thì chia hết cho 10.
Số 430 có tận cùng là 0
Kết luận: Số 430 chia hết cho 10.
Ví dụ 3: Tiền đề: Số 12 chia hết cho 4
Số 16 chia hết cho 4
Số 24 chia hết cho 4
Số 28 chia hết cho 4
Số 40 chia hết cho 4
Kết luận: Các số chẵn đều chia hết cho 4.
Ví dụ 4: Tiền đề: Mọi hình vuông đều là hình chữ nhật
Kết luận: Có những hình chữ nhật là hình vuông.
Ví dụ 5: Tiền đề: Mọi hình chữ nhật đều là hình tứ giác
Kết luận: Mọi hình tứ giác đều là hình chữ nhật.
1.2.2. Phân loại suy luận
Căn cứ vào cách thức lập luận, suy luận được chia thành suy luận
diễn dịch và suy luận quy nạp.
1.2.2.1. Suy luận diễn dịch

D-¬ng ThÞ Nga

12


Khãa luËn tèt nghiÖp
Suy luận diễn dịch (hay còn gọi là suy diễn) là suy luận theo những

cũng là mệnh đề đúng.
Ví dụ:
Tiền đề 1: Nếu tứ giác là hình thoi thì hai đường chéo của nó vuông
góc với nhau.
Tiền đề 2: Tứ giác ABCD là hình thoi.
Kết luận: AC vuông góc với BD.
Trong hai ví dụ trên, các tiền đề đều đúng, ta đã vận dụng phép suy
luận 1, 2 vừa nêu trên. Vì vậy các kết luận của chúng phải đúng.
Chúng ta có thể hiểu: Suy luận diễn dịch (suy diễn) là cách suy luận
đi từ cái chung đến cái riêng, từ trường hợp tổng quát áp dụng vào trường
hợp cụ thể.
Đặc trưng của phép suy diễn là tuân theo nguyên tắc logic.

D-¬ng ThÞ Nga

13


Khãa luËn tèt nghiÖp
Ví dụ 1: Muốn chứng tỏ rằng số 3006 chia hết cho 9 ta có thể suy
luận như sau:
a. Ta đã biết quy tắc chung “các số có tổng các chữ số chia hết cho
9 thì chia hết cho 9”
b. Số 3006 có tổng các chữ số là:
3 + 0 + 0 + 6 = 9 (Mà 9 : 9 = 1 nên 9 chia hết cho 9)
c. Vậy số 3006 chia hết cho 9.
Ở đây, quy tắc chung (a) được áp dụng cho trường hợp cụ thể là (b)
để rút ra kết luận (c). Vậy ta có một phép suy diễn.
Ví dụ 2: Từ cách tính thể tích (V) của hình hộp chữ nhật có chiều dài
là a, chiều rộng là b, chiều cao là c. Ta suy ra cách tính thể tích của hình


14


Khãa luËn tèt nghiÖp

1036 có hai chữ số tận cùng là 36
Ta có thể rút ra nhận xét chung: “Các số có 2 chữ số tận cùng chia
hết cho 4 thì chia hết cho 4”.
Ví dụ 2: Từ các trường hợp riêng: 24 chia hết cho 4
84 chia hết cho 4
524 chia hết cho 4
Với nhận xét: “Các số 24, 84, 524 đều có tận cùng là chữ số 4”
Ta có thể rút ra nhận xét chung: “Các số có tận cùng là 4 thì đều chia
hết cho 4”.
Vậy, qua hai ví dụ trên ta thấy: Kết luận chung được rút ra trong ví
dụ 1 là đúng, song kết luận chung được rút ra trong ví dụ 2 là sai (Ví dụ
như 14 có chữ số tận cùng là 4 nhưng không chia hết cho 4). Vì vậy phải
thận trọng kiểm tra các kết luận chung được rút ra, khi biết chắc chắn kết
luận ấy là đúng thì mới được áp dụng.
Phép suy luận quy nạp bao gồm phép suy luận quy nạp hoàn toàn và
phép suy luận quy nạp không hoàn toàn.
1.2.2.2.1. Phép suy luận quy nạp hoàn toàn
Phép suy luận quy nạp hoàn toàn là phép suy luận đi từ việc khảo sát
tất cả các trường hợp riêng, rồi nhận xét để nêu lên kết luận chung cho tất
cả các trường hợp riêng đó và chỉ cho các trường hợp riêng đó mà thôi.
Có thể ghi tóm tắt nội dung của phép suy luận quy nạp hoàn toàn
như sau:
Tiền đề


một số đối tượng của lớp ấy.
Có thể tóm tắt nội dung của phép suy luận quy nạp không hoàn toàn
như sau:
Tiền đề

- Các phần tử a1, a2, a3…an đều có tính chất p
- a1, a2, a3…an là một số phần tử của tập hợp X

Kết luận

Tất cả các phần tử của X đều có tính chất p

(Ở đây giả thiết là X có nhiều hơn)
Ví dụ 1: Từ các trường hợp riêng:
10 chia hết cho 2
22 chia hết cho 2
34 chia hết cho 2

D-¬ng ThÞ Nga

16


Khãa luËn tèt nghiÖp
56 chia hết cho 2
48 chia hết cho 2
Nhận xét: Các số 10, 22, 34, 56, 48 đều là những số chẵn.
Kết luận: Mọi số chẵn đều chia hết cho 2.
Rõ ràng 10, 22, 34, 56, 48 là những số cụ thể, không phải là toàn bộ
các phần tử của tập số chẵn, nhưng ở đây ta vẫn rút ra được kết luận này.

có liên quan chặt chẽ với nhau trong mọi quá trình học và nghiên cứu Toán
học. Người ta thường sử dụng phép suy luận quy nạp để tìm tòi, dự đoán
các sự kiện Toán học, đáp số và hướng giải các bài toán. Sau đó dùng phép
suy luận diễn dịch để kiểm tra, trình bày các sự kiện cũng như cách giải
quyết các bài toán ấy.
Ở bậc Tiểu học nước ta, dù không được khái quát hóa, các em vẫn
đang tiếp cận với nguyên tắc ban đầu trong lý luận giải toán, nhất là các em
học sinh giỏi. Thực ra nguyên tắc logic nằm trong tất cả các bài toán mà
các em tiếp cận từ nhỏ tới lớn, bởi đó chính là các suy luận hợp lý. Việc
các em giải đúng một bài toán theo các bước đã thể hiện sự logic giữa các
ý, các kiến thức trong bài toán đó.

D-¬ng ThÞ Nga

18


Khãa luËn tèt nghiÖp

Chƣơng 2
ẠP KHÔNG HOÀN TOÀN
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG SỐ TỰ NHIÊN Ở
TIỂU HỌC
2.1. Nội dung và phƣơng pháp dạy học số tự nhiên ở T
2.1.1. Hình thành khái niệm ban đầu về số tự nhiên ở Tiểu học
Trong chương trình Toán Tiểu học, việc hình thành khái niệm số tự
nhiên được đưa vào từ lớp 1. Các số tự nhiên được xây dựng theo từng
vòng số (vòng số 10, vòng số 100…), bắt đầu từ số 1, theo thứ tự phép
đếm. mô hình toán học này có thể được coi là mô hình dựa trên khái niệm
số “đứng liền sau”. Các số xây dựng theo quan niệm bản số được xếp thứ

Tiếp đó thay bằng ba chấm tròn:    để làm cho học sinh bỏ qua
các tính chất khác của đồ vật (không chú ý đó là vật gì) mà chỉ chú ý phát
hiện ra các nhóm có đặc điểm chung đều là có số lượng bằng ba.
- Khi hình thành các số 6, 7, 8, 9, 10 trên cơ sở đã học hết các số 1, 2,
3, 4, 5 các số tiếp theo được hình thành theo cách đếm thêm một.
Ví dụ: Khi dạy số 6, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động và
phát hiện: Có năm bạn đang chơi, thêm một bạn nữa được sáu bạn (đang
chơi); có năm bông hoa, thêm một bông hoa nữa được sáu bông hoa…Từ
đó, học sinh thấy được tính chất chung đang xét là: “Có năm vật, thêm
một vật nữa được sáu vật”.
- Khi hình thành số 0 cho học sinh trong chương trình cải cách giáo
dục, số 0 được hình thành khi học sinh đã được học phép cộng và phép trừ.
Nhưng trong chương trình giáo dục hiện hành thì số 0 được giới thiệu
trước khi học phép cộng và phép trừ.
- Ta có thể hình thành số 0 cho học sinh như sau: Xuất phát từ bể cá
có 3 con cá, ta vớt dần từng con, số lượng cá giảm dần.
Vớt đi 1 con, còn lại 2 con
Vớt đi 1 con nữa, còn lại 1 con cá
Lại vớt đi 1 con nữa, còn lại 0 con cá.
Khi đó ta có thể nói bể còn “không” con cá (Số lượng cá ở bể là 0)
 Dạy học các số trong vòng 20
Gộp một chục với các đơn vị riêng lẻ. Thông qua mô hình trực quan
gồm có một bó một chục que tính và các que tính rời, học sinh sẽ hiểu rõ
về cách viết, cấu tạo và ý nghĩa các chữ số trong cách viết các số từ 11 đến
19.

D-¬ng ThÞ Nga

20


Số 100 được hình thành như là số liền sau số 99. Số 100 được viết
bằng cách viết chữ số 1 trước, sau đó viết tiếp 2 chữ số 0 vào bên phải chữ
số 1 (Việc hướng dẫn mang tính áp đặt, không giải thích cách viết).
Giáo viên cần hiểu, 100 cũng có thể hình thành bằng cách gộp 10
chục que tính mà thành: Có các que tính, cứ 10 que gộp thành một bó (bó

D-¬ng ThÞ Nga

21


Khãa luËn tèt nghiÖp
nhỏ), có 10 bó nhỏ ta gộp thành 1 bó to (Hay nói cách khác 10 chục gộp
thành 100).
Trong cách viết số 100, chữ số 1 chỉ rằng có 1 trăm, chữ số 0 thứ nhất
chỉ rằng có 0 chục và chữ số 0 thứ 2 chỉ rằng có 0 đơn vị. Số 100 gồm 1
trăm, 0 chục, 0 đơn vị.
Vòng 1000 và các vòng tiếp theo xuất hiện nhiều đơn vị đếm mới
như: “Nghìn, triệu…”. Việc hình thành số tự nhiên ở vòng số này tương tự
như vòng 20. Tuy nhiên, các đồ dùng trực quan có mức độ trừu tượng tăng
dần “ô vuông” thay thế cho “que tính”, sau đó dùng thẻ số thay thế cho “ô
vuông”.
 Ghi số và cấu tạo thập phân của số tự nhiên
Người ta thường dùng các kí hiệu để ghi số. Việc ghi số nhằm giúp
cho việc biểu thị các số một cách thuận tiện và đơn trị, giúp cho việc tiến
hành so sánh các số một cách nhanh chóng và trực tiếp, giúp cho việc thực
hiện các phép tính được thực hiện một cách dễ dàng, đơn giản.
Có hai hệ ghi số: Hệ ghi theo vị trí và hệ ghi số không theo vị trí. Ở
Tiểu học, học sinh được học hệ ghi số theo vị trí, với mười chữ số theo cơ
số 10 (còn gọi là hệ thập phân). Ngoài ra, sách giáo khoa Toán 3 còn giới

một hàng gấp 10 lần đơn vị ở hàng liền sau và bằng

1
lần đơn vị ở hàng
10

liền trước nó.
- Những điều được học về số và chữ số, chữ số chỉ hàng và lớp được
thể hiện dưới dạng phân tích một số thành tổng các số chỉ hàng. Chẳng
hạn:
34 = 30 + 4 hoặc 34 = 3 10 + 4

1;

237 = 200 + 30 + 7 hoặc 237 = 2 100 + 3

10 + 7

1;

1234 = 1000 + 200 + 30 + 4 hoặc
1234 = 1

1000 + 2

100 + 3

10 + 4

1.

một”, khái niệm “lớn hơn”, “nhỏ hơn” và biết dùng các dấu <, > để diễn tả
các quan hệ so sánh giữa hai số bằng công thức và bằng lời. Quan hệ “bằng
nhau” và dấu “=” cũng đã được lĩnh hội khi học sinh vẽ tương ứng 1- 1.
Từ quan hệ số lượng phần tử giữa các tập hợp, ta xây dựng quan hệ
thứ tự giữa các số tự nhiên:
+ Số biểu thị số lượng phần tử của tập hợp nhiều phần tử hơn là số
lớn hơn.
+ Số biểu thị số lượng phần tử của tập ít phần tử hơn là số bé hơn.
+ Hai số biểu thị số lượng phần tử của hai tập hợp có số phần tử
bằng nhau thì bằng nhau.
Việc dạy so sánh hai số tự nhiên trong vòng các số đến 10 kết hợp
chặt chẽ với việc hình thành các số mới đều có so sánh số với số dạy trước
đó, cũng như việc xác định vị trí của số đó so với số trước khi sắp xếp
chúng thành dãy.

D-¬ng ThÞ Nga

24


Khãa luËn tèt nghiÖp
Ví dụ: Hình thành khái niệm ban đầu về số 6. Qua phép đếm, qua
phân tích số, học sinh nhận ra số 6 đứng tiếp sau số 5 trong dãy 1, 2, 3, 4, 5,
6.
Khi yêu cầu học sinh ghi lại lần lượt các số mới theo thứ tự hình
thành của nó thành một dãy các từ: một, hai, ba…Học sinh dễ dàng nhận ra
thứ tự các từ này trùng với thứ tự các từ dùng khi đếm. Từ đó tiếp tục nhận
thức củng cố nhận thức của học sinh về vấn đề: khi đếm từ đếm sau biểu
thị “số lượng” lớn hơn số biểu thị bằng từ đếm trước.
Dựa vào hình thành như trên, người ta giới thiệu cho học sinh về tia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status