Giáo dục thẩm mĩ cho trẻ mầm non qua bộ phận văn học dành cho trẻ em - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Mục lục
Trang
Phần 1. mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Lịch sử nghiên cứu khoa học
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

3
4
4
4
4

Phần 2. nội dung
Chương 1. Chức năng giáo dục thẩm mỹ trong văn học

5

1. Khái niệm thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ
5
2. Chức năng giáo dục thẩm mỹ trong văn học dành cho trẻ mầm non
5
2.1 Chức năng giáo dục thẩm mỹ trong văn học dành cho trẻ mầm non 5
2.2 Khả năng của văn học trong việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
mầm non


Đỗ Thị Mi

1

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

1.2. Truyện cổ tích
22
a. Khái niệm
22
b. Đề tài và giá trị xã hội của truyện cổ tích
22
c. Chức năng giáo dục thẩm mỹ của truyện cổ tích đối với trẻ
mầm non.
24
2. Tổng quan về loại trữ tình dân gian và sức hấp dẫn đặc biệt của một số thể
loại trữ tình dân gian đối với trẻ mần non
24
2.1. Ca dao dân ca
29
a. Khái niệm
29
b. Đề tài và giá trị xã hội của ca dao - dân ca
29

1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục, hình thành và phát triển nhân
cách trẻ em.
Điều 21, 22 Luật Giáo dục (2005) xác định nhiệm vụ và mục tiêu giáo
dục Mầm non : Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về
thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của
nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
Đối với trẻ mầm non các môn học trong nhà trường như toán, văn học,
các tiết học làm quen, khám phá, hình thành biểu tượng đã góp phần giúp
trẻ xây đắp những ước mơ lớn lao cho tương lai của mình, đặc biệt là môn văn
học. Ngoài những đặc tính chung của nghệ thuật, văn học cho trẻ em còn
mang những đặc tính rất riêng do tâm lý tiếp nhận của lứa tuổi quy định. Văn
học sáng tác cho trẻ em xuất phát từ sự hồn nhiên, ngây thơ trong sáng của trẻ.
Trẻ mầm non rất giàu xúc cảm tình cảm, đây là nét tâm lý nổi bật của trẻ. Trẻ
luôn có nhu cầu được người khác quan tâm, luôn bày tỏ tình cảm với mọi
người xung quanh. Lứa tuổi này đặc biệt nhạy cảm trước sự thay đổi của thế
giới thiên nhiên, trẻ xúc động ngỡ ngàng trước những điều rất đơn giản.
Có thể nói để tiếp nhận thế giới của cái đẹp được xây dựng trong văn
học nghệ thuật thì không ai có lợi thế bằng trẻ em. Văn học có tầm quan trọng
đặc biệt, đảm nhiệm các chức năng giáo dục: chức năng nhận thức, chức năng
thẩm mỹ, chức năng thông tin, chức năng giải trí và xây dựng trí tưởng tượng
phong phú cho trẻ. Giáo dục thẩm mỹ là nội dung quan trọng của giáo dục
toàn diện đối với trẻ và là việc cần tiến hành nghiêm túc từ tuổi mẫu giáo. Có
thể coi trẻ mẫu giáo là thời kì hoàng kim của giáo dục thẩm mỹ. Do vậy, năng
khiếu nghệ thuật cũng được nảy sinh từ lứa tuổi này.
Khi nói đến giáo dục thẩm mỹ cho trẻ, người ta coi đó là nhiệm vụ của
trường mầm non trong các tiết học: tạo hình, âm nhạc, đóng kịch dựa trên
các tác phẩm văn học. Qua đó trẻ được làm quen, tiếp xúc với văn học. Văn
học là nghệ thuật phổ biến và có tác dụng giáo dục thẩm mỹ mạnh mẽ nhất.

Lê Phương Liên. Viết cho thiếu nhi là viết cho tương lai. Những ảnh
hưởng của Văn học thiếu nhi đến sự phát triển nhân cách trẻ em trong thời kì
đổi mới 9/2009

4. Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ khoá luận tốt nghiệp và thời gian nghiên cứu không dài,
trong khi văn học dành cho trẻ em là một kho tàng rộng lớn. Với đề tài này tôi
chỉ đề cập đến vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non qua bộ phân văn
học dành cho trẻ em. Dựa trên thể loại tự sự dân gian (thần thoại; truyện cổ
tích) và trữ tình dân gian (ca dao; hát ru).

5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân loại

Đỗ Thị Mi

4

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Phần 2: Nội Dung
Chương 1: Chức năng giáo dục thẩm mỹ
trong văn học
1. Khái niệm thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ


Đỗ Thị Mi

5

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

cuộc đời. Cái đẹp do văn học tạo ra là cái đẹp được chọn lọc có tính chất điển
hình, khái quát, có chất lượng cao và mới mẻ hơn cái đẹp trong đời thường.
Nó có khả năng nuôi dưỡng những xúc cảm thẩm mỹ cho con người và giúp
con người phát triển những phẩm chất nghệ sĩ vốn có của mình.
2.2. Khả năng của văn học trong việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non
Đối với trẻ mầm non, giáo dục đạo đức cần phải gắn chặt với giáo dục
thẩm mỹ. Giáo dục cho trẻ cảm nhận cái hay cái đẹp trong xã hội, trong tự
nhiên đồng thời phải giáo dục trẻ biết làm theo các tấm gương tốt, biết trân
trọng giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên. Văn học phản ánh hiện thực hay nói khác
đi văn học là cái phản ánh và hiện thực là cái được phản ánh. Giáo dục thẩm
mỹ cho trẻ làm cho trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong hiện thực (cái
được phản ánh) và cái đẹp của chính ngôn ngữ tác phẩm (cái phản ánh). Cái
đẹp trong xã hội mà tác phẩm văn học đem đến cho trẻ chính là cái đẹp trong
quan hệ giữa con người với con người (tình cảm đối với những người ruột thịt,
tình cảm với bạn bè)
Cái đẹp trong tự nhiên đem lại cho trẻ những xúc cảm thẩm mỹ lành
mạnh. Đáng yêu sao chú gà con mới nở:
Cái mỏ tí hon

nhiên là khởi điểm của tình yêu đất nước (đọc và kể chuyện văn học ở vườn
trẻ). Nếu trẻ có tình yêu và lòng nhân hậu đối với thiên nhiên, gần gũi với
thiên nhiên thì trẻ sẽ có tình yêu nồng nàn với Tổ quốc và con người.
Bên cạnh việc đem lại cảm xúc thẩm mỹ cho trẻ, các tác phẩm luôn
nhắc nhở trẻ phải biết bảo vệ thiên nhiên, biết chăm sóc các con vật, giữ gìn
và sử dụng tiết kiệm đồ dùng, đồ chơi(trồng cây, tưới rau, nuôi gà, hoa kết
trái,)
Cái đẹp trong ngôn ngữ tác phẩm cũng đa dạng như nội dung phản ánh.
để miêu tả thiên nhiên, các con vật các nhà thơ thường sử dụng lối nói ví von,
sự so sánh kết hợp với lối nói ẩn dụ và hoán dụ:
Trăng tròn như cái đĩa
Lơ lửng mà không rơi
Những hôm nào trăng khuyết
Trông giống con thuyền trôi
(Trăng ơi từ đâu đến - Trần Đăng Khoa)
Cũng có khi sử dụng lối nói nhân cách hoá:
Cây có ngàn mắt lá
Mắt nào cũng tươi xanh
Cây có trăm tay cành
Cùng vươn ra đón gió
Tâm hồn cây rất ngỏ
Chim thường đến tâm tình
( Thy Ngọc Cây)
Trong các câu văn, câu thơ, các tác giả thường sử dụng các từ tượng
hình, tượng thanh: ù ù như xay lúa; lộp bộp, lộp bộp rơi; bụi bay cuồn cuộn;
cơn mưa sầm sập; suối chảy rì rào trong kẽ đá Các từ láy đôi, láy ba: cầu
Thê Húc đỏ, đỏ, đỏ/ Nước dưới hồ xanh, xanh, xanh; hoa cà tim tím/ hoa
mướp vàng vàng
Tính thẩm mỹ biểu hiện cả trong những sự vật và hiện tượng tự nhiên.
Trong bản thân con người (từ dáng vẻ, hoạt động, hành vi, ứng xử). Những

hiện trong cả câu văn, câu thơ. Văn xuôi thường được thể hiện bằng câu đơn
ngắn gọn, ít khi dùng câu phức hợp. Nhan đề của tác phẩm bao giờ cũng cụ
thể, thường đúc kết ngay ý nghĩa giáo dục, có khi là tên nhân vật chính, hoặc
một câu hỏi mang tính định hướng: Bó hoa tặng cô; Cái bát xinh xinh; Ai
đáng khen nhiều hơn; Bài học tốt Truyện thường có kết cấu theo kiểu đối
lập, tương phản rõ ràng, giúp trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý
nghĩa của câu chuyện và trẻ có thể kể lại một cách dễ dàng: Chú dê đen; Ba cô
gái; Bác gấu đen và hai chú thỏ
Dạng phổ biến của thơ viết cho trẻ em là thể thơ ba chữ, bốn chữ, năm
chữ, rất gần với đồng dao một thể loại của văn học dân gian phù hợp với trẻ
thơ. Câu thơ ngắn vui nhộn, các em vừa đọc, vừa chơi, dễ thuộc dễ nhớ:
Cây dây leo
Bé tẻo teo

ở trong nhà
Lại bò ra
Ngoài cửa sổ
Và nghển cổ
Lên trời cao
Hỏi: vì sao?
Cây trả lời:
- Ra ngoài trời
Cho dễ thở
(Xuân Tiến Cây dây leo)
Hoặc:

Đỗ Thị Mi

8


(Giọt nước Tí Xíu )
Với cách tả trực tiếp như vậy, trẻ có thể dễ dàng hình dung ra và hiểu rõ
các sự vật, hiện tượng được thể hiện trong tác phẩm. Bên cạnh đó, truyện
thường có kết cấu đối lập tương phản với hai loại nhân vật thiện - ác; tốt - xấu
(kiểu kết cấu của cổ tích) phù hợp với lối tư duy cụ thể của trẻ, giúp trẻ nắm
được cốt truyện, hiểu nội dung ý nghĩa của câu chuyện và có thể kể lại một
cách dễ dàng: chú dê đen; Bác Hồ kính yêu; chú thỏ tinh khôn
3.3. Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu
Những hình ảnh đẹp, rực rỡ cùng với vần điệu và nhạc điệu vui tươi làm
cho tác phẩm thêm sinh động, có sức hẫp dẫn và lôi cuốn sự chú ý của trẻ. Có
thể nói vần là một yếu tố không thể thiếu trong thơ viết cho trẻ em. Thơ không
chỉ có vần mà còn phải có cách gieo vần thật phù hợp với sự tiếp nhận của trẻ:

Đỗ Thị Mi

9

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Bắp cải xanh
Xanh mát mắt
Lá cải sắp
Sắp vòng tròn
Búp cải non
Nằm ngủ giữa


Đỗ Thị Mi

10

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

(Thu Hà - Hoa kết trái)
Nhờ hàng loạt tính từ miêu tả (chói chang, nho nhỏ, xinh xinh ), các từ
tượng hình (đốm lửa, rung rinh) và các tính từ chỉ màu sắc (tim tím, vàng
vàng, đỏ, trắng tinh), bài thơ đã vẽ lên một bức tranh thật sinh động về
mảnh vườn, giúp trẻ có thể hình dung về các loài hoa với những màu sắc và
hình dáng thật cụ thể.
3.5. Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện
Đây cũng là một đặc điểm khá nổi bật trong sáng tác cho trẻ em lứa
tuổi mầm non. Khác với thơ viết cho người lớn, hầu hết là thơ tâm trạng, bao
gồm hệ thống những cảm xúc, nỗi niềm, suy tưởng thơ cho trẻ em có thể kể
lại được. Ngoài những truyện thơ như: Mèo đi câu cá; Nàng tiên ốc; Bồ câu và
ngan những bài thơ ngắn cũng đều kể lại một sự việc một hiện tượng : Đoá
hoa tặng mẹ; Chiếc cầu mới; Chú bò tìm bạn; Xe chữa cháy
Mặt trời rúc bụi tre
Buổi chiều về nghe hát
Bò ra sông uống nước
Thấy bóng mình ngỡ ai
Bò chào: kìa anh bạn

làm cho những bài học ấy không bị khô khan, cứng nhắc. Những truyện như:
Giọng hót chim sơn ca; Hoa mào gà; Chú đỗ con; Bồ nông có hiếu; Cây gạo
Chẳng khác gì những bài thơ bằng văn xuôi, những bài thơ ca ngợi cuộc sống,
ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và ca ngợi những tình cảm cao đẹp của con
người. Cùng với chất thơ bay bổng, ý nghĩa của câu chuyện có thể sẽ còn theo
các em suốt cả cuộc đời.
3.6. ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng
Một trong những chức năng cơ bản của văn học là chức năng giáo dục.
Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh mẽ đến
tâm hồn và nhận thức của con người. Nhất là với lứa tuổi mầm non thì văn
học, đặc biệt là thơ càng có sự tác động nhanh, nhạy. Tuy nhiên, lứa tuổi này
chỉ có thể đọc tác phẩm văn học một cách gián tiếp, tư duy lôgic chưa phát
triển nên hầu như chưa có khả năng suy luận, phán đoán. Chính vì thế, mỗi
một tác phẩm văn học đem đến cho trẻ một ý nghĩa giáo dục cụ thể, rõ ràng.

4. Vai trò của văn học với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non
Trẻ em như búp trên cành non tơ và trong trắng. Sự nhận thức của trẻ
thường thông qua con đường cụ thể, trực tiếp cảm tính, gắn liền với những
cảm xúc về cái đẹp, vì thế có thể thông qua giáo dục thẩm mỹ mà giáo dục
các mặt khác cho trẻ đặc biệt là giáo dục đạo đức. Đối với trẻ mầm non thì cái
đẹp và cái tốt chỉ là một, khó có thể chia cắt rạch ròi. Đặc biệt ở tuổi mẫu giáo
là thời kỳ phát triển của những xúc cảm thẩm mỹ. Tức là xúc cảm tích cực
được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp. Khiến trẻ thấy gắn bó tha
thiết với mọi người và thế giới xung quanh. Chính vì thế, đây là thời điểm vô
cùng thuận lợi cho việc giáo dục thẩm mỹ và chính giáo dục thẩm mỹ lại có
thể mang đến một hiệu quả to lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách
của trẻ. Về phương diện này, văn học đặc biệt là văn học cho trẻ em lứa tuổi
mầm non có khả năng chiếm ưu thế.
Trước hết, văn học đem đến cho trẻ những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng;
gợi mở trong các em những xúc cảm thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ. Các tác

Những hôm nào trăng khuyết
Trông giống con thuyền trôi
Em đi trăng theo bước
Như muốn cùng đi chơi
(Nhược Thuỷ Trăng sáng)
Hay :
Trăng ơitừ đâu đến
Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà.
Trăng ơitừ đâu đến
Hay biển xanh diệu kỳ
Trăng tròn như mắt cá
Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơitừ đâu đến
Hay từ một sân chơi
Trăng bay như quả bóng
Bạn nào đá lên trời
(Trần Đăng Khoa - Trăng ơi từ đâu đến)
Những hình ảnh miêu tả trong thơ thường rất sinh động, trong trẻo, giúp
các em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn yêu thiên
nhiên, yêu cuộc sống. Bài thơ Trăng sáng của Nhược Thuỷ và Trăng ơitừ
đâu đến của Trần Đăng Khoa với lối so sánh độc đáo và những ảnh đẹp, ngộ
nghĩnh không chỉ kích thích trí tưởng tượng của trẻ thơ mà còn góp phần khơi
gợi trong các em tình yêu trăng, yêu thiên nhiên và tự hào về quê hương đất
nước mình:

Đỗ Thị Mi

13

Có ao muống với cá cờ
Có đầm ngào ngạt hương sen
ếch con đọc nhạc dế mèn ngâm thơ
Và điều quan trọng nhất là bài thơ đã gợi ở trẻ niềm tự hào, tình cảm
yêu mến đối với ngôi nhà của mình, nơi đã sinh ra và lớn lên để sau này:
Dù đi xa thật là xa
Chẳng đâu vui được như nhà của em
( Đoàn Thị Lam Luyến)
Trong các tác phẩm văn xuôi, trẻ em càng thích thú khi được gặp những
yếu tố thần kỳ của truyện cổ tích, lối nhân hoá và sự tưởng tượng phong phú
của thần thoại. Những hình tượng văn chương tốt đẹp đầy lòng nhân ái sẽ giúp
các em tự rút ra các khái niệm về thẩm mỹ, tự phân biệt cái đẹp - cái xấu; cái
đáng yêu - cái không đáng yêu và không chỉ cung cấp cho các em những
hình ảnh tươi sáng, đẹp đẽ, văn học cho trẻ lứa tuổi mầm non còn giúp trẻ phát

Đỗ Thị Mi

14

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

huy trí tưởng tượng phong phú, bay bổng để tự tạo ra cái đẹp hoặc tìm đến và
thưởng ngoạn cái đẹp.
Với các giá trị thẩm mỹ độc đáo văn học làm thoả mãn những nhu cầu
thẩm mỹ, phát triển năng lực và thị hiếu thẩm mỹ của con người. Với trẻ mầm

được nhập vai, sống cùng các nhân vật trong tác phẩm. Nếu biết cách tổ chức
tốt ta có thể kích thích sự say mê sáng tạo của trẻ. Thêm vào đó hoạt động tạo
hình (vẽ tranh, xé dán, nặn theo các hình tượng và nhân vật trong tác phẩm

Đỗ Thị Mi

15

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

văn học). Trẻ có cơ hội phát huy trí tưởng tượng phong phú bay bổng của
mình. Trẻ nghe truyện, ấn tượng về một chi tiết nào đó trẻ cũng có thể tự vẽ
tranh theo trí tưởng tượng của mình. Ví dụ: khi nghe chuyện Tấm cám trẻ có
thể vẽ những bức tranh bụt hiện lên trong vầng hào quang chói sáng; cô Tấm
đang ngồi khóc; cô Tấm đang vớt tép; con gà đang bới đất.Xem những bức
tranh trẻ tự vẽ (theo tác phẩm văn học) mới thấy trí tưởng tượng của trẻ thật vô
bờ bến, và khả năng khơi gợi những cảm xúc thẩm mỹ trong văn học đối với
trẻ thật lớn lao. Vì vậy, trong những giờ vẽ tranh tự do hoặc theo chủ đề cô
nên gợi ý trẻ để trẻ nhớ lại những câu chuyện đã được nghe. Điều này không
chỉ giúp trẻ nhớ lại truyện mà còn phát huy trí tưởng tượng phong phú, bồi
dưỡng những rung động thẩm mỹ cũng như khả năng sáng tạo nghệ thuật của
trẻ thơ.
Khả năng sáng tạo tuyệt vời của trẻ cộng với những ảnh hưởng lớn lao
của tác phẩm văn học đã dẫn đến hiện tượng có một số trẻ biết làm thơ khi
chưa biết chữ (chưa vào lớp 1): Hoàng Dạ Thi và Ngô Thị Bích Hiền

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Hay như bài thơ: Ông mặt trời
Ông mặt trời óng ánh
Toả nắng hai mẹ con
Bóng con và bóng mẹ
Dắt nhau đi trên đường
Em nhíu mắt nhìn ông
Ông nhíu mắt nhìn em
Ông ở trên trời nhé
Cháu ở dưới này thôi
Hai ông cháu cùng cười
Mẹ cười đi bên cạnh
Ông mặt trời óng ánh

Đỗ Thị Mi

17

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Chương 2: văn học dành cho trẻ em và chức
năng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non

những loại vũ khí sắc bén của nhân dân trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế
độ phong kiến đang lung lay tận gốc.

Đỗ Thị Mi

18

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khi nói đến các thể loại tự sự dân gian, có người còn dùng các danh từ
như: truyền thuyết, dã sử Truyền thuyết vốn có nghĩa là những điều được
truyền lại từ đời trước qua cửa miệng các thế hệ. Danh từ truyền thuyết bao
hàm ý cho rằng vì truyền miệng cho nên không chính xác. Nhưng khi mà các
điều truyền thuyết được sắp xếp, liên hệ theo một mạch lạc nào đó thì có thể
hình thành một truyện có đầu có đuôi. Đó thường là truyện cổ tích lịch sử.
Nhưng bản thân những điều truyền thuyết thì chưa phải là tác phẩm văn học,
nhất là vì đại đa số các điều truyền thuyết thường lưu hành trong dân gian một
cách tản mạn, vụn vặt. Nhà sử học rất quý những điều truyền thuyết vì chúng
phản ánh những sự kiện lịch sử ở những khía cạnh mà sử gia phong kiến ngày
xưa không thể thấy rõ và ghi chép hết được. Nhưng nhà sử học lại phải luôn
luôn dè chừng sự khúc xạ của việc phản ánh ấy qua trí tưởng tượng quá phong
phú của nhân dân. Ngoài những điều còn đang rời rạc, nhà sử học còn chú ý
cả đến thần thoại, truyện cổ tích lịch sử mà họ cũng gọi dưới cái tên là truyền
thuyết vẫn với hàm ý cho rằng đó là những tài liệu mà khoa sử học cần tham
khảo nhưng không thể tin theo một cách dễ dàng. Danh từ dã sử có ý nghĩa


Trường ĐHSP Hà Nội 2

trường hợp của vè ngày nay. Vè không phải bao giờ cũng là thơ, hơn nữa vè ít
khi muốn là thơ. Nhưng vè bao giờ cũng bao gồm những lời nói có vần vè có
nhịp điệu có khuôn khổ nhất định. Sau một quá trình lưu hành lâu dài trong
dân gian hình thức ngôn ngữ của một bài vè có thay đổi. Những thay đổi đó
chỉ rất nhỏ hơn những phần được xác định vững trắc. Do đó trong vè có vấn đề
ngôn ngữ văn học, ít nhất thì cũng cần nói rằng trong vè chúng ta phải và có
thể nghiên cứu ngôn ngữ văn học nhiều hơn là trong các thể loại tự sự văn
xuôi. Đã là văn xuôi truyền miệng thì làm sao lại có được một hình thức ngôn
ngữ xác định? Chỉ từ người kể chuyện này sang người kể chuyện khác, hình
thức ấy đã thay đổi rồi. Tất nhiên, trong tác phẩm tự sự bằng văn xuôi truyền
miệng cũng có những khẩu ngữ hoặc những lời nói có nhịp có vần. Những lời
nói đúc kết ấy thường có ngôn ngữ vững trắc. Dù sao trong các thể loại tự sự
bằng văn xuôi truyền miệng, vấn đề ngôn ngữ văn học cũng lui xuống hàng
thứ yếu so với các vấn đề về hình tượng văn học, kết cấu tác phẩm, chức năng
giáo dục của văn học.
1.1. Thần thoại
a. Khái niệm
Thần thoại là truyện kể về sự tích các thần. Truyện do người xưa tưởng
tượng ra nhằm giải thích nguồn gốc, ý nghĩa của một số sự vật, hiện tượng tự
nhiên và xã hội có quan hệ gần gũi với con người (như sông, núi, mặt trăng,
mặt trời, mưa lũ đồ dùng sinh hoạt, đồ dùng lao động). Đối với tập thể thị
tộc, bộ lạc, thần thoại mang ý nghĩa của một tín ngưỡng, của một pho sử gốc,
kể chuyện thần thoại tức là kể lịch sử tổ tiên là cuộc trình diễn có nghi lễ.
b. Đề tài và giá trị xã hội của thần thoại
* Thần thoại khởi nguyên
Thần thoại khởi nguyên là những thần thoại nói về việc sinh ra vũ trụ và
cảnh quan địa lý, sinh ra muôn vật và sinh ra loài người (Thần trụ trời; Thần

nhiều dân tộc khác trên thế giới còn kể ra cả việc tìm ra lửa, sáng lập ra nghề
mộc, nghề rèn Thần lúc này là những sáng tạo ra anh hùng, sáng tạo ra nền
văn hóa vật chất sau buổi khai thiên lập địa. Đời sống định cư của nhân dân
bắt đầu. Một xã hội đã tồn tại trên cơ sở phát triển sản xuất. Có thể coi từ đây
đã xuất hiện trên đất nước ta một nền văn hóa khá cao, một nền văn minh
nông nghiệp rực rỡ (Lịch sử Việt Nam tập 1), trong quá trình lao động sáng
tạo ra văn hóa vật chất, nhân dân đã để lại cho đời sau một kho thần thoại
những sáng tạo tinh thần đẹp đẽ ca ngợi khả năng kỳ diệu của con người trong
buổi đầu chinh phục thiên nhiên.
* Thần thoại chiến trận
Thần thoại chiến trận phản ánh giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh xã hội
trên hai bình diện: đấu tranh giai cấp và đấu tranh chống ngoại xâm.
Khi đối diện với kẻ thù bên ngoài, các bộ lạc phát triển thành cộng
đồng dân tộc. Biên giới hình thành, việc giữ nước trở thành vấn đề sống còn
của một dân tộc đang phát triển. Nhân vật chính của thần thoại lúc này là
những anh hùng dũng sỹ trên chiến trận (Truyện Ông Gióng; chàng Trăng;
Gươm Ông Tú và những thần tích ghi lại những chiến công của các tướng tá
vua Hùng chống giặc phương Bắc). Tiêu biểu cho nhóm này là thần thoại Ông
Gióng, một hình tượng thể hiện sự vươn mình mạnh mẽ của một nhà nước mới
hình thành trước nhu cầu chống ngoại tộc. Gióng biểu tượng cho sức mạnh
một đất nước, một giống nòi với tư cách một dân tộc.
Thần thoại trong cuộc đấu tranh xã hội là bài ca ca ngợi những anh
hùng trận mạc đầy quả cảm, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cuộc sống thanh bình
cho nhân dân. Thần thoại chiến trận như một bước chuyển tiếp tới truyền
thuyết và cổ tích bởi đã mang trong mình nhiều mối quan hệ xã hội.
Khi sáng tạo thần thoại, người nguyên thủy chưa có ý thức làm nghệ
thuật. Họ chỉ thể hiện nhu cầu giải thích các hiện tượng thiên nhiên và mơ ước
muốn chế ngự các sức mạnh tự nhiên. Thần thoại diễn tả nhu cầu và mơ ước

Đỗ Thị Mi

a. Khái niệm
Truyện cổ tích là truyện kể về sinh hoạt gia đình và những mối quan hệ
xã hội thời cổ.
Khác với thần thoại hướng vào thế giới tự nhiên, cổ tích là truyện về con
người. Cùng đề tài xã hội, nhưng thần thoại thiên về các sự kiện và nhân vật
lịch sử với chủ đề chính là chống ngoại xâm, còn cổ tích đề cập đến vấn đề đời
sống tình cảm và sinh hoạt vật chất hàng ngày của nhân dân, phản ánh những
tập tục, tín ngưỡng, lý giải những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội đã phân
chia giai cấp.
Truyện cổ tích là kho tàng kinh nghiệm sống của nhân dân, vừa để kể
chuyện đời, vừa có chức năng răn dạy. Vì vậy, truyện thường được kể trong
sinh hoạt gia đình và kể cho trẻ nhỏ.
b. Đề tài và giá trị xã hội của truyện cổ tích
Hệ thống truyện cổ tích được chia làm ba phần
* Truyện cổ tích loài vật
Truyện cổ tích loài vật là vốn hiểu biết và kinh nghiệm của người thời
cổ về thế giới loài vật được đúc kết thành truyện. Truyện cổ tích loài vật có

Đỗ Thị Mi

22

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nguồn gốc từ xa xưa, khi con người còn quan niệm về thế giới loài vật cũng

Sanh), người em út (cây khế) Phe ác là những kẻ giàu hơn, nắm quyền
hành: mụ gì ghẻ (Tấm Cám), Lý Thông (Thạch Sanh), Phú Ông (cây tre trăm
đốt) Sự chiến thắng của cái thiện là mơ ước đổi đời của tầng lớp dân nghèo.
Bởi vậy, cuộc chiến ở đây diễn ra gay gắt, quyết liệt, không khoan nhượng và
bao giờ cũng kết thúc tốt đẹp. Đó là cái hậu của mọi truyện cổ tích.

Đỗ Thị Mi

23

K32MN - GDTH


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Với cách giải quyết của truyện, khát vọng cao quý của nhân dân chỉ
được thực hiện nhờ những sức mạnh thần kỳ. Tuy vậy, truyện cổ tích thần kỳ
đã mang lại ước mơ về một xã hộ lý tưởng: công bằng, ấm no, hạnh phúc mà
con người mãi mãi vươn tới.
* Truyện cổ tích sinh hoạt
Truyện cổ tích sinh hoạt ra đời khi xã hội phong kiến bước sang giai
đoạn suy tàn. Truyện cổ tích sinh hoạt chủ yếu phản ánh những sinh hoạt xã
hội với tinh thần phê phán. Do nhận thức sâu sắc hơn về con người và những
mối quan hệ xã hội, mà truyện giàu tính hiện thực và ít chất lãng mạn hơn.
Con người không quá hy vọng vào các nhân tố thần kỳ như thần, phật để giải
quyết mâu thuẫn nữa. Nhân dân phê phán tầng lớp thống trị phong kiến và
những thói xấu xã hội bằng trí tuệ sắc sảo của mình (cán cân thủy ngân; Nghĩa
cũ tình nay; chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng; cùng hệ thống truyện trạng).


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

lời ca khẩn nguyện, cầu phúc, cầu yên. Hiện nay ở người Việt ta còn ghi được
những bài ca khẩn nguyện tồn tại dưới dạng đồng dao:
- Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy bát cơm đầy
- Lạy ông nắng lên
Cho trẻ nó chơi
Cho già bắt rận
Cho tôi đi cày
Bên cạnh những bài ca khẩn nguyện là những bài hát cầu chúc vào dịp
đầu xuân. Điển hình là hội Xéc bùa của người Việt, Mường. Trong hệ thống
dân ca nghi lễ của người Việt nổi lên những bài ca được hát trong lễ hội mùa
xuân như hát Xoan ở Phú Thọ, hát Dậm ở Hà Nam, hát Dô ở Hà Tâyngười
ta vẫn gọi đó là những bài hát tế thần. Nét đặc sắc của loại dân ca này đã định
hình thành những hình thức lĩnh xướng đặc biệt, có hệ thống lời ca phong phú.
Ca dao dân ca gắn với các hoạt động lao động sản xuất từ thô sơ đến
phức tạp. Những bài ca này tạo cho con người một niềm tin vào khả năng của
bản thân mình, tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong quá
trình lao động. Đặc điểm quan trọng của dân ca lao động là sự kết hợp gắn bó
giữa nhịp điệu lao động và xúc cảm của con người trong lao động.
Như vậy cả trong dân ca nghi lễ, phong tục cũng như dân ca lao động,
yếu tố trữ tình luôn luôn xen vào, giãn nở dần và có khi lấn át các chức năng
ban đầu của các loại dân ca ấy. Điều đó nói lên sức mạnh của những gì thuộc
về nhân bản, thuộc về tâm tư và khát vọng đích thực của con người. Điều này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status