Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
GDMN là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi
người, là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách con
người.
Kinh nghiệm giáo dục của nước ta, nhân loại và nhiều thành tựu hiện
nay nghiên cứu về trẻ em đã khẳng định rằng, trẻ em ở lứa tuổi mầm non ( 0 6 tuổi) có sự tăng trưởng rất lớn lao về cơ thể, về trí tuệ và tình cảm. Chẳng thế
mà, A. X. Macarenco - nhà giáo dục xô viết vĩ đại những năm 30 - 40 của thế
kỉ XX đã từng khẳng định rằng: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ
được hình thành từ lúc trước tuổi lên năm. Những điều dạy cho trẻ trong thời
kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục đào tạo con
người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa thì
đã được vun trồng trong năm năm đầu tiên. Hoặc công trình nghiên cứu gần
đây của viện nghiên cứu trẻ em trước tuổi học được PTS Phạm Mai Chi khẳng
định: ... Sự phát triển về trí tuệ nó thường xảy ra trong bốn năm đầu cũng
giống như mười ba năm tiếp theo. Người ta ước tính khoảng 50% sự phát triển
trí tuệ của con người là đạt được ở giai đoạn bào thai đến bốn tuổi, từ 4 - 8 tuổi
đạt được 30% và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm
dần sau tuổi mười tám . Từ những khẳng định trên, chúng ta thấy GDMN cần
phải thực hiện việc chăm sóc - giáo dục trẻ ngay từ những năm tháng đầu đời,
giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mĩ và lao động. Chăm
sóc - giáo dục trẻ em từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc hết sức
cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và
bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người chủ tương lai của đất nước.
Bước sang thế kỉ XXI, đòi hỏi những con người lao động mới cần có trí
tuệ, năng động, sáng tạo, tích cực. TTC là một phẩm chất không thể thiếu của
mỗi con người trong xã hội ấy. Việc hình thành và phát triển TTC của trẻ là
đã trau rồi trong qúa trình học trên ghế nhà trường và trong quá trình đi thực
tập tôi hi vọng mình có thể đóng góp một công sức nhỏ bé của mình vào việc
chăm sóc và giáo dục để phát huy TTC cho trẻ khi LQVMTXQ.
Chính từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám
phá môi trường xung quanh theo hướng phát huy tính tích cực.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5
tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
Đỗ Thị Huệ
2
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng phương pháp thí nghiệm
hướng dẫn trẻ 4-5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng
dẫn trẻ khám phá MTXQ ở một số trường mầm non.
- Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4-5
tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
Thực nghiệm sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi
khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC và bước đầu đánh giá kết quả
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp thí
nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC
1.1. Cơ sở lí luận.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Chương 2: Sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám
phá MTXQ theo hướng phát huy TTC
2.1. Các nguyên tắc khi sử dụng phương pháp thí nghiệm.
2.2. Quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám
phá MTXQ theo hướng phát huy TTC
2.2.1. Quy trình thiết kế hoạt động sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng
dẫn trẻ 4-5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
2.2.2. Một số bài trong chương trình CTLQVMTXQ sử dụng phương pháp thí
nghiệm dạy học theo hướng phát huy TTC của trẻ.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị sư phạm.
Đỗ Thị Huệ
4
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
Nội dung
Chương 1: cơ sở lí luận và thực tiễn
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.
Cần phải thực hiện mục đích GDMN là: Giáo dục trẻ khoẻ mạnh, nhanh
nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà, cân đối. Đặc biệt thực hiện tốt ba nhiệm vụ
giáo dục thể chất đã đề ra: sức khỏe, giáo dưỡng, giáo dục.
1.1.1.2. Một số đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị
đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình. Trẻ em từ 4 - 5 tuổi quá trình ức
chế dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích đánh giá, hình thành kĩ năng,
kĩ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh.
Hệ vận động: Bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp.
- Hệ xương: Trẻ chưa hoàn toàn cốt hoá, thành phần hoá học xương của
trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có
nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy.
- Hệ cơ: Cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ
mảnh thành phần nước trong tương đối nhiều, nên sức mạnh của cơ bắp còn
yếu, cơ nhanh mệt mỏi. Do vậy, trẻ em ở lứa tuổi này không thích nghi với sự
căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp
trong thời gian luyện tập.
Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp
còn mềm yếu, dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối yếu.
Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện,
từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp.
Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch
Dựa vào đặc điểm sinh lí của trẻ MGN mà người lớn cần có nội dung và
phương pháp chăm sóc cho trẻ ăn, ngủ, học và vui chơi hợp lí, khoa học giúp
cho cơ thể trẻ được phát triển khoẻ mạnh. Đây chính là điều kiện tốt nhất để
giúp trẻ có năng lực tham gia vào quá trình học tập, khám phá MTXQ.
1.1.1.3. Một số đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
ở tuổi mẫu giáo nhỡ, hoạt động vui chơi đạt tới dạng chính thức và
đang phát triển tới mức hoàn thiện. Trong hoạt động vui chơi trẻ có thể lựa
chọn nội dung và chủ đề chơi, lựa chọn bạn cùng chơi và tự do tham gia vào
trò chơi mà mình thích. Trẻ biết thiết lập các mối quan hệ giữa các vai chơi và
hình thành các nhóm chơi diễn ra cùng một lúc. Nhu cầu chơi trong nhóm bạn
phát triển mạnh. Từ đó hình thành xã hội trẻ em .
Về mặt đời sống tình cảm của trẻ có nhiều bước chuyển biến. Trẻ có
nhu cầu rất lớn, nhu cầu được người khác yêu thương như: Khi được mọi
người yêu thương trẻ rất phấn khởi và ngược lại trẻ rất buồn khi người khác
Đỗ Thị Huệ
7
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
thờ ơ, lạnh nhạt. Trẻ biết đồng cảm và dễ xúc cảm với những người thân trong
gia đình, với bạn bè và những người xung quanh..
Ví dụ: Khi người thân đau ốm, trẻ không chỉ buồn mà mong muốn làm
công việc gì đó để giúp đỡ người thân trong gia đình như lấy nước, lấy khăn
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
của trẻ đồng thời giúp trẻ học cách chơi và hoạt động cùng nhau, xây dựng và
mô phỏng kĩ năng giao tiếp xã hội. Nó còn giúp trẻ hoàn thành chức năng kí
hiệu tưởng tượng. Chẳng hạn, dùng giấy thay tiền, dùng giấy làm thức ăn
trong trò chơi bán hàng.
Trẻ tư duy vào những hình ảnh: Trẻ tư duy vào những hình ảnh có trong
đầu giúp trẻ phát triển trí tuệ.
Ví dụ: Trong trò chơi chim bay, cò bay. Khi hỏi: Nhà có bay không?.
Trẻ có thể không trả lời. Vì chim có cánh còn nhà không có cánh. Trẻ 4 - 5
tuổi: có thể hình dung ra các sự vật cụ thể rõ ràng.
Khái niệm về thời gian: Trẻ cũng phát triển hơn. Trẻ có thể hiểu được
đêm, ngày, đêm qua, ngày tới, ngày hôm qua, ngày mai
Khái niệm về giới tính: Trẻ cũng biết phân biệt mình là con trai hay con
gái. Nhưng trẻ chưa thực sự hiểu về giới tính.
Trẻ bắt đầu thích vẽ hình người và thay vì chỉ vạch vẽ các đường nét
bằng những nét loằng ngoằng, trẻ có thể vẽ ( đầu, thân, chân), nhưng chưa cân
xứng tỉ lệ.
Ngôn ngữ phát triển mạnh: Trẻ biết nói bàn tay có hai bàn tay và có 10
ngón tay Trẻ biết đặt ra các câu hỏi cái gì, tại sao, như thế nào..?.
1.1.1.5 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
MGN là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư duy trực quan hình
tượng. Trẻ em có nhu cầu phát triển các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật,
hiện tượng để giải bài toán nhận thức ngày càng đa dạng và phức tạp. Trẻ
MGN cũng đã có khả năng suy luận mặc dù những kết luận của trẻ còn rất
ngây thơ, ngộ nghĩnh. Trẻ chưa có khả năng tư duy trừu tượng trẻ thường dựa
1.1.2. Một số vấn đề về phương pháp thí nghiệm
1.1.2.1. Khái niệm phương pháp thí nghiệm
Có rất nhiều khái niệm về phương pháp thí nghiệm
- Một là: Phương pháp thí nghiệm là sự tự mày mò tìm kiếm, thí nghiệm
trong thức tiễn để đi đến kết luận về điều dự đoán trước hoặc trả lời những
thắc mắc trong suy nghĩ. [9]
- Hai là: Phương pháp thí nghiệm là việc tổ chức cho trẻ hành động tác
động vào đối tượng làm thay đổi đối tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất
nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại một hiện tượng nào đó trong tự nhiên. [13]
- Ba là: Phương pháp thí nghiệm được coi như một loại hình quan sát
diễn ra trong điều kiện nhất định. Thí nghiệm đòi hỏi sự tác động tích cực lên
đối tượng ( sự vật, hiện tuợng), làm thay đổi cho nó phù hợp với mục đích đặt
ra.[12]
Đỗ Thị Huệ
10
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
1.1.2.2 Phân loại phương pháp thí nghiệm
Có nhiều cách phân loại. Sau đây là cách phân loại của Trần Văn Biểu
(trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh - khoa Hoá).
Thí nghiệm trong hệ thống các phương tiện dạy: các phương tiện dạy
học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường gồm 3 loại:
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
hệ để ghép chúng vào sự thật, mà phải từ những sự thật đó, phát hiện ra mối
liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm.
- Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học các môn tự nhiên. Nó giúp
học sinh chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại khi làm
thí nghiệm học sinh sẽ làm quen với các đối tượng và trực tiếp nắm bắt các
đặc điểm, tính chất, của chúng. Nếu không có thí nghiệm thì:
+ Giáo viên sẽ tốn nhiều thời gian để giảng giải nhưng vẫn không rõ và
hết ý vì không phải mọi thứ đều có thể diễn đạt được trọn vẹn bằng lời. Lời
nói rất trừu tượng còn các thí nghiệm thì cụ thể.
+ Học sinh tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và vững chắc. Các em sẽ
khó hiểu bài vì không có những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về các chất, các
hiện tượng.
+ Học sinh sẽ chóng quên khi không hiểu bài, không có ấn tượng sâu
sắc bằng các hình ảnh cụ thể
- Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tế. Nhiều thí nghiệm rất
gần gũi với đời sống, với các quy trình công nghệ. Chính vì vậy thí nghiệm
giúp học sinh vận dụng các điều đã học vào thực tế cuộc sống.
- Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng thực hành ( các thao
tác và cách thức tiến hành thí nghiệm), hình thành những đức tính cần thiết
của người lao động mới: cẩn thận, khoa học, kỷ luật.
-Thí nghiệm giúp học sinh phát triển tư duy, hình thành thế giới quan
duy vật biện chứng khi tự tay làm thí nghiệm hoặc được tận mắt nhìn thấy
những hiện tượng xảy ra, học sinh sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng
thêm tin tưởng vào chính bản thân mình.
- Làm thí nghiệm rất dễ gây hứng thú học tập. Học sinh không thể yêu
thích bộ môn và không thể say mê khoa học với những bài giảng lí thuyết khô
Khi sử dụng phương pháp thí nghiệm có các mức độ sau:
Mức độ 1: Giáo viên tiến hành thí nghiệm trước. Sau đó, giáo viên
hướng dẫn cách làm, trẻ quan sát và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 2: Giáo viên vừa tiến hành thí nghiệm, vừa nêu cách làm, trẻ
quan sát và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 3: Giáo viên hướng dẫn trẻ cách tiến hành thí nghiệm; trẻ làm
thí nghiệm, quan sát và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 4: Giáo viên không hướng dẫn cách tiến hành thí nghiệm; yêu
cầu trẻ tự làm thí nghiệm và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 1 và mức độ 2, giáo viên là người chủ động và học sinh là
người thụ động nắm bắt tri thức. Mức độ 3, giáo viên là người hướng dẫn, điều
Đỗ Thị Huệ
13
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
khiển, học sinh là người chủ động chiếm lĩnh tri thức. Mức độ 4, học sinh tích
cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới.
Quy trình thực hiện:
- Bước 1: Giáo viên xác định rõ đề tài, mục đích, yêu cầu thí nghiệm,
chỉ dẫn nội dung và các giai đoạn thí nghiệm với các công cụ, thiết bị cần thiết
lưu ý học sinh đảm bảo tính an toàn, bảo vệ các dụng cụ và tiết kiệm hoá chất
và các nguyên vật liệu khác
1.1.3. Một số vấn đề về chương trình CTLQVMTXQ
1.1.3.1. Mục tiêu của CTCTLQVMTXQ
Chương trình gồm 3 mục tiêu chính sau đây:
Về kiến thức
- Cung cấp những biểu tượng mới, đồng thời củng cố và làm chính xác
hoá những biểu tượng cũ. Biểu tượng đã có là cơ sở của những biểu tượng mới
và vậy trước khi cung cấp những biểu tượng mới cần phải củng cố những biểu
tượng cũ. Lấy đó làm căn cứ để cung cấp những biểu tượng mới. Hơn thế nữa,
trẻ em từ lọt lòng đến sáu tuổi, khả năng ghi nhớ chưa bền vững nên trẻ nhanh
quên nên phải củng cố và làm chính xác hoá những biểu tượng cũ.
- Mở rộng những hiểu biết cho trẻ về tự nhiên, xã hội, con người và thế
giới đồ vật. Thế giới xung quanh rất đa dạng và phong phú, muôn hình muôn
vẻ. Việc cung cấp những biểu tượng mới, làm chính xác những biểu tượng cũ
thì mở rộng sự hiểu biết cho trẻ cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của thầy, cô giáo cũng như những người lớn nói chung. Muốn mở rộng hiểu
biết cho trẻ, cần tổ chức cho trẻ hoạt động nhận biết những sự vật và hiện
tượng mới lạ, đồng thời khám phá những mối quan hệ đơn giản giữa chúng.
- Cần giúp trẻ tích luỹ vốn kiến thức một cách hệ thống, tổng hợp và
khái quát. Trong khi tổ chức CTLQVMTXQ cần giúp trẻ gọi tên chính xác sự
vật, hiện tượng; nhận biết những dấu hiệu bề ngoài cơ bản có ý nghĩa trong
việc xác định đối tượng và mối quan hệ giữa đối tượng - đối tượng, mối liên
quan đối tượng - con người
Về kĩ năng
-Phát triển các thao tác tư duy, các quá trình tâm lí. Khi tổ chức chương
trình CTLQVMTXQ giáo viên cần cho trẻ biết so sánh sự giống và khác nhau
giữa các sự vật, hiện tượng; biết phân nhóm, phân loại sự vật hiện tượng
nhằm dạy trẻ tiến hành các thao tác tư duy, rèn luyện khả năng phân tích, tổng
hợp, so sánh và khái quát hoá sự vật hiện tượng xung quanh. Trong quá trình
Đỗ Thị Huệ
khi trình bày. Tập cho trẻ câu đủ thành phần, đủ ý, đúng ngữ pháp và những
câu có xúc cảm.
- Phát triển các kĩ năng tích hợp khác nhau như: vận động, âm nhạc, tạo
hình
Giáo dục
- Dạy trẻ biết yêu quý, gần gũi, có thiện cảm, mong muốn được bảo vệ
môi trường tự nhiên và xã hội. Tuỳ từng nội dung và từng lứa tuổi của trẻ nên
đặt ra các nhiệm vụ giáo dục đạo đức thật cụ thể. Những vấn đề quan trọng
Đỗ Thị Huệ
16
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
nhất là giáo dục cho trẻ cái tâm tốt với môi trường sống: trẻ không tham lam,
không ích kỉ, biết sống nhân hậu với con người, động vật và cỏ cây hoa lá,
sống hoà đồng, gần gũi và gắn bó với môi trường xung quanh.
- Hình thành và rèn luyện thói quen và kĩ năng cần thiết, hành vi văn
hoá, văn minh như: các thói quen vệ sinh, lễ phép trong giao tiếp, kĩ năng lao
động tự phục vụ, chăm sóc cây cối và kĩ năng học tập.
Ngoài ra, còn giáo dục dinh dưỡng, giáo dục sức khoẻ giúp hình
thành ở trẻ một số khả năng tự phục vụ bản thân.
1.1.3.2. Mục tiêu của CTCTLQVMTXQ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ
Chương trình gồm 3 mục tiêu chính sau đây:
quanh. Có thói quen vệ sinh tốt và hành vi văn văn hoá, văn minh trong giao
tiếp, sinh hoạt ở nơi công cộng và khi cùng người lớn tham gia giao thông.
Biết hợp tác, chia sẻ với bạn bè trong vui chơi và học tập.
1.1.3.3. Nội dung CTLQVMTXQ ở độ tuổi MGN 4 - 5 tuổi
STT
Chủ đề
Đề tài
- Ngày hội đến trường.
1
Trường mầm non
- Lớp học của bé.
- Tết trung thu.
-Tôi là ai?
2
Bản thân
- Cơ thể tôi.
- Tôi cần gì để lớn và khoẻ mạnh ( lồng
ghép: chăm sóc vệ sinh, nề nếp thói quen).
- Gia đình tôi ( các thành viên, công việc
3
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
- Sản xuất ( nông dân, công nhân, đầu bếp).
- Một số vật nuôi trong gia đình.
5
Thế giới động vật - Một số con vật sống trong rừng.
- Cá.
- Cây xanh.
- Tết nguyên đán - mùa xuân ( lồng ghép
6
Thế giới thực vật
thức ăn trong ngày tết).
- Một số loại rau.
- Một số loại quả ( lồng ghép thức ăn có giá
trị dinh dưỡng của các loại rau quả).
Ngày hội của bà,
7
mẹ, của cô và các
bạn gái (8/3).
Giao thông
8
phổ thông có hiệu quả. Các nội dung CTLQVMTXQ, việc tổ chức các
hình thức làm quen phải giải quyết tốt nhất các nhiệm vụ đề ra. Trên thực tế,
các nhiệm vụ giáo dưỡng như cung cấp kiến thức và rèn luyện năng lực trí tuệ
thường được chú trọng hơn các nhiệm vụ giáo dục. Điều đó dẫn đến kết quả là
năng lực ứng xử của trẻ chưa được giáo dục một cách đầy đủ. Vì vậy, khi
hướng dẫn trẻ các hoạt động LQVMTXQ đòi hỏi giáo viên mầm non phải xác
định đầy đủ cả nhiệm vụ giáo dưỡng và giáo dục, làm sao để giáo dục trẻ một
cách thiết thực và hiệu quả nhất, tránh hình thức giáo điều.
Ví dụ: Làm quen với phương tiện giao thông cần giáo dục trẻ có hành vi
văn hoá khi được đi trên các phương tiện giao thông thay bằng giáo dục - trẻ
biết bảo quản, sử dụng các phương tiện giao thông đó, làm quen với bác nông
dân không chỉ giáo dục trẻ biết kính trọng bác nông dân mà còn phải giáo dục
trẻ quý trọng sản phẩm do bác nông dân làm ra.
1.1.4.2 Đảm bảo tính giáo dục
Trước hết nội dung CTLQVMTXQ phải có tác dụng giáo dục, đó là
phải đảm bảo yêu cầu thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non hình thành
những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam ( QĐ 55 quy định mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trẻ - trường mẫu
giáo, Bộ Giáo dục năm 1990). Không áp đặt, gò bó trẻ, nên yêu thương trẻ và
tôn trọng nhân cách của trẻ, lấy quan hệ tình cảm ( mẹ - con, chị - em, cô cháu), để tổ chức hướng dẫn, lôi cuốn trẻ hoà nhập vào MTXQ.
Nội dung kiến thức lựa chọn để dạy trẻ theo một trình tự, từ đơn giản
đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ gần đến xa, từ tổng thể đến chi tiết Cần chú
ý phát triển đối tượng, phát triển nội dung kiến thức cho trẻ quan sát nhận biết
phù hợp với trình độ phát triển nhận thức của lứa tuổi, vì đối tượng của trẻ rất
phong phú đa dạng. Không nên hình thành trong đầu óc trẻ những biểu tượng
về xung quanh một cách khô cứng, bất động. Cần cho trẻ quan sát, tri giác đối
tượng trong các thời điểm, hoàn cảnh và hình thức khác nhau. Chẳng hạn, cho
Đỗ Thị Huệ
khái quát.
tính vừa sức được thể hiện trong việc lựa chọn đối tượng nhận thức cụ thể, gần
gũi, quen thuộc đối với trẻ và ngày càng mở rộng đối tượng nhận thức về số
lượng, mức độ quen thuộc cũng như phải nâng cao dần yêu cầu của việc tìm
hiểu đối tượng ngày càng chi tiết hơn để đi đến tri thức khái quát.
Tính vừa sức đòi hỏi việc cung cấp tri thức cho trẻ phải nằm giữa
ngưỡng trên và ngưỡng dưới của thông tin của tri thức ( ngưỡng dưới là giới
hạn mà tất cả đã rõ ràng đối với trẻ về sự vật và hiện tượng. Đây là cơ sở mà từ
Đỗ Thị Huệ
21
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
đó trẻ tiếp nhận được thông tin tri thức mới, ngưỡng trên là giới hạn mà quá
trình nhận thức là khó khăn đối với trẻ vì tri thức phức tạp đối với trẻ ở lứa tuổi
đó). Để xác định ngưỡng thông tin của tri thức, cần phải dựa vào đặc điểm lứa
tuổi, kinh nghiệm xã hội của từng cá nhân, mức độ phát triển hứng thú nhận
thức ở trẻ, tạo nên những hoàn cảnh hướng tới thông tin.
1.1.4.4. Đảm bảo tính phát triển
Phát triển về đối tượng cho trẻ làm quen: Các sự vật, hiện tượng ở xung
quanh chúng ta đều không tồn tại ở một trạng thái cố định mà nó luôn luôn
nằm trong sự thay đổi, phát triển không ngừng. Vì vậy, cần cho trẻ làm quen
với các sự vật, hiện tượng trong các trạng thái khác nhau và cho trẻ cảm nhận
cho nên trong quá trình CTLQVMTXQ cần phải tăng cường các yếu tố trực
quan, nhằm giúp trẻ nhận thức thế giới khách quan một cách hiệu quả, toàn
diện và chính xác. Các đồ dùng trực quan sử dụng cho trẻ làm quen phải đảm
bảo yêu cầu sư phạm, thẩm mĩ. Đồ dụng trực quan là tranh, ảnh, mô hình thì
các đối tượng phản ánh trên đó phải giống như thực tế. Tránh sử dụng những
tranh ảnh dùng cho kể chuyện cổ tích để cho trẻ nhận biết về các sự vật, hiện
tượng xung quanh.
1.1.4.6. Đảm bảo tính khoa học, hệ thống
- Đảm bảo tính khoa học: Những kiến thức về MTXQ cần cung cấp cho
trẻ là những kiến thức sơ đẳng về sinh vật học, lịch sử, địa lí, vật lí Vì vậy,
việc tổ chức CTLQVMTXQ ở trường mầm non phải đảm bảo tính khoa học.
Cụ thể:
+ Kiến thức cung cấp cho trẻ phải đơn giản, chính xác, có hệ thống và
không được tuỳ tiện. Những kiến thức cung cấp cho trẻ lứa tuổi mầm non là
kiến thức tiền khoa học và kiến thức đời sống.
+ Hệ thống kiến thức cung cấp cho trẻ phải liên tục trong cả ba độ tuổi
và phải phù hợp với trình độ nhận thức của từng độ tuổi.
Ví dụ: ở tất cả các độ tuổi mầm non đều cho trẻ làm quen với động vật
nhưng ở mỗi độ tuổi khối lượng kiến thức không giống nhau; lứa tuổi càng lớn
thì phạm vi các đối tượng làm quen càng rộng, kiến thức càng sâu sắc và khái
quát hơn.
Việc phức tạp dần các nội dung cho trẻ làm quen cần phải tính đến sự
hình thành những mối liên hệ và sự phụ thuộc giữa các đối tượng của thực tiễn
chứ không phải bằng con đường mở rộng một cách đơn giản các sự kiện cần
lĩnh hội.
Đỗ Thị Huệ
23
của trẻ. Trong cuộc sống, trẻ thường xuyên tiếp xúc với sự vật, hiện tượng gì,
với những người nào, với sự kiện gì, cần giúp cho trẻ có biểu tượng đúng về
chúng. Điều này giúp trẻ không những độc lập, tự tin hơn trong cuộc sống, có
thể giảm bớt nguy hiểm cho trẻ, mà còn hình thành thái độ tích cực đối với
MTXQ.
Đỗ Thị Huệ
24
Lớp K32MN
Khoá luận tốt nghiệp
ĐHSP Hà Nội 2
Tính thực tiễn còn được thể hiện ở việc lựa chọn những nội dung làm
quen với MTXQ cho trẻ phải dựa trên đặc điểm điều kiện môi trường tự nhiên
và hiện thực cuộc sống xã hội diễn ra ở địa phương. Cần chú ý các yếu tố của
môi trường tự nhiên như: thời tiết, khí hậu, các loại động thực vật phổ biến ở
địa phương và các sự kiện xã hội có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của trẻ ( các
ngày lễ lớn của dân tộc, các lễ hội ở địa phương, phong tục tập quán). Cần ưu
tiên cho trẻ tiếp cận với các đối tượng đặc trưng, phổ biến ở địa phương. Điều
này sẽ tạo được hứng thú của trẻ đối với đối tượng và giáo viên dễ dàng chuẩn
bị nhận thức cho trẻ.
Tri thức về MTXQ là vô tận và không thể tích luỹ đủ mọi tri thức cần
thiết cho cuộc sống. Do vậy, cách tốt nhất giúp trẻ tích luỹ đủ mọi tri thức về
MTXQ là hình thành ở chúng những kĩ năng nhận thức và thái độ tích cực
trong việc tìm hiểu MTXQ để chúng tự khám phá sự vật, hiện tượng và cuộc