Tìm hiểu tư tưởng và quan điểm hồ chí minh về chăm sóc giáo dục trẻ mầm non - Pdf 31

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2
Khoa Giáo dục tiểu học
---------------***---------------

Bùi Hương Giang

tìm hiểu tư tưởng và quan điểm
hồ chí minh về chăm sóc
giáo dục trẻ mầm non

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Giáo dục học

Người hướng dẫn khoa học
Th.s Nguyễn Thị Xuân Lan

Hà Nội - 2009

1


Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới giảng viên chính,
Ths.Nguyễn Thị Xuân Lan, người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các giáo viên trường Mầm
non Bán công Hoa Sen - Thành phố Vĩnh Yên đã giúp đỡ và tạo những điều
kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành khoá luận.
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, nên không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến


Phần 2. Nội dung

5

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản của tư tưởng và quan điểm Hồ Chí 5
Minh về chăm sóc và giáo dục trẻ
1.

Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về 5
chăm sóc - giáo dục trẻ em nói chung, trẻ em mầm non nói
riêng

2.

Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc - giáo 9
dục trẻ em nói chung, trẻ mầm non nói riêng

2.1. Tư tưởng, quan điểm của Người về quyền trẻ em

10

2.2. Tư tưởng, quan điểm của Người về trách nhiệm của trẻ em

13

2.3. Tư tưởng, quan điểm của Người về trách nhiệm của nhà 15
trường, gia đình, xã hội, của nhân dân, của Đảng, Nhà
nước đối với trẻ
2.4. Sự quan tâm, tình yêu thương của Hồ Chí Minh với trẻ em

nước
2.1. Kháng chiến chống thực dân pháp (1946 1954)

30

2.2. Thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ 31
nghĩa xã hội ở miền Bắc
3. Từ năm 1975 đến nay

33

4. Giải pháp

43

Phần 3. Kết luận và kiến nghị

46

1. Kết luận

46

2. Kiến nghị

46
49

Tài liệu tham khảo


đầy đủ và cũng cảm nhận được sự thiệt thòi khi các em không được sống trong

6


tình yêu thương, không được đến lớp, không được học hành, vui chơi. Vậy, tôi
và các giáo viên mầm non phải làm gì để các em được hưởng sự chăm sóc và
giáo dục tốt nhất, đầy đủ nhất. Đây là một vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi mỗi
người giáo viên phải tìm tòi, học hỏi mọi lúc, mọi nơi, mà tư tưởng và quan
điểm của Hồ Chí Minh về chăm sóc giáo dục trẻ là một tài liệu quý giá.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tư tưởng của Hồ Chí Minh trên nhiều
lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, giáo dục,
- Phan Ngọc Liên (chủ biên), Hồ Chí Minh về chăm sóc và giáo dục trẻ,
NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 1/1996.
- Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục, NXB Giáo dục, 8/2007.
- Hồ Chí Minh về vấn đề Giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội 1990.

Đặc biệt, trong tác phẩm Hồ Chí Minh về chăm sóc và giáo dục trẻ
Phan Ngọc Liên (chủ biên) đã đề cập đến tư tưởng của Hồ Chí Minh về chăm
sóc - giáo dục trẻ thể hiện qua quá trình hình thành, phát triển. Tác giả cũng
đã trình bày nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc chăm sóc, giáo dục
trẻ và liên hệ với việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở Việt Nam dưới ánh sáng tư
tưởng của Người. Còn trong Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục là những bài
thơ, sự kiện, nói về Hồ Chí Minh với trẻ em cả nước. Kế thừa những công
trình nghiên cứu ở trên, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về tư tưởng của Bác với việc
chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu về tư tưởng và quan điểm của Hồ Chí Minh đối với việc chăm
sóc - giáo dục trẻ mầm non.

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản của tư tưởng và quan điểm Hồ Chí Minh về
chăm sóc và giáo dục trẻ

8


1. Quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc - giáo
dục trẻ em nói chung, trẻ em mầm non nói riêng
2. Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc - giáo dục trẻ em nói
chung, trẻ mầm non nói riêng
3. Giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc và giáo dục trẻ
Chương 2: Sự chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non dưới ánh sáng tư tưởng Hồ
Chí Minh
1. Thời kì trước cách mạng thánh Tám 1945
2. Thời kì chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước
3. Từ năm 1975 đến nay
4.Giải pháp
Phần 3. Kết luận và kiến nghị

9


PHầN 2 . Nội dung

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản của tư tưởng và quan điểm
Hồ Chí Minh về chăm sóc - giáo dục trẻ

1. Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc giáo dục trẻ em nói chung, trẻ mầm non nói riêng
Tư tưởng, quan điểm Hồ Chí Minh về chăm sóc - giáo dục trẻ em nói
chung, trẻ mầm non nói riêng được hình thành và phát triển gắn liền với quá

giục giã Anh nhanh chóng tìm ra con đường cứu nước, trong đó có giải phóng
trẻ em khỏi cảnh đói rét, thất học,
Trên đường vào Nam, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân ở Phan Thiết
(Bình Thuận). Tại đây, Người đã dạy học ở trường Dục Thanh. Trong thời gian
từ nửa sau tháng 9/1910 đến tháng 2/1911, cùng với việc dạy chữ, tổ chức vui
chơi cho trẻ, Người còn tìm mọi cách làm thức tỉnh tinh thần đấu tranh, lòng
yêu nước ở các em. Có thể xem đây là một hành động biểu hiện việc chăm sóc
và giáo dục trẻ em của Hồ Chí Minh.
Ngày 5/6/1911, tàu Đô Đốc Latouchotreville rời cảng Nhà Rồng mang
theo phụ bếp Văn Ba (tên khác của Nguyễn Tất Thành) ra đi tìm đường cứu
nước, Người sang Pháp với mong muốn Xem họ làm như thế nào rồi trở về
giúp đồng bào chúng ta [2; tr174]. Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến cuộc
sống nghèo khổ của nhân dân lao động các nước, các cuộc đấu tranh đòi
quyền sống, quyền bình đẳng, bị đàn áp dã man và Người cũng trực tiếp
tham gia vào cuộc đấu tranh, biểu tình của nhân dân một số nước, Người thấy
rằng: Nhân dân các nước, thuộc địa hay chính Quốc đều giống nhau và giống
người Việt Nam. Đó là đều mong muốn được sống trong một đất nước hoà
bình, độc lập, bình đẳng và họ đang đấu tranh cho ước muốn, nguyện vọng đó.
Từ tình yêu thương đồng bào, Nguyễn Tất Thành đã mở rộng tình yêu thương,

11


cảm thông với những người cùng cảnh ngộ ở các nước Tư bản Đế quốc, trong
đó có trẻ em.
Tiếp cận với Chủ Nghĩa Mác Lênin, Người đã tìm thấy trong đó chân
lý con đường giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nguyễn ái Quốc (tên
mới của Nguyễn Tất Thành) nhận thức rằng: Chỉ có giải phóng dân tộc hoàn
toàn khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc, trẻ em mới được giải
phóng, mới thực sự được chăm sóc và giáo dục, được hưởng mọi quyền sống,

thông giáo dục theo công nông hoá [13; tr925] tức nhấn mạnh đến việc đảm
bảo quyền học tập của con em nhân dân lao động.
Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam,
Người mới có cơ hội thực hiện tư tưởng của Người về chăm sóc giáo dục trẻ
được Người ấp ủ từ bấy lâu, đem những gì được chứng kiến, trải nghiệm để
mang lại cho trẻ một nền giáo dục tốt nhất. Đã có nhiều câu chuyện về việc
Bác tắm rửa, chữa bệnh, dạy học, cho trẻ được đồng bào Pắc Bó ghi lại.
Trong 10 chính sách của Việt Minh được Nguyễn ái Quốc diễn nôm
có phần chính sách đối với thiếu nhi:
Trẻ em, bố mẹ khỏi lo
Dạy, nuôi chính phủ giúp cho đủ đầy. [10; tr29]
Chính sách này thể hiện quyền của trẻ em, trách nhiệm của nhà nước,
xã hội đối với trẻ em. Đây là bước phát triển mới của tư tưởng Hồ Chí Minh về
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đồng thời, Bác còn nhấn mạnh đến trách nhiệm
của các em đối với công cuộc cứu nước khi tổ quốc còn nằm dưới ách thống
trị của thực dân, đế quốc. Trong bài Kêu gọi thiếu nhi (21/9/1941) và trẻ
chăn trâu (21/11/1942), Hồ Chí Minh nhắc nhở:
Người lớn cứu nước đã đành
Trẻ em cũng góp phần mình một tay.
Bao giờ đuổi hết Nhật, Tây,
Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng. [14; tr157]
Và Người kêu gọi các cháu tham gia đấu tranh:
Nhi đồng cứu nước hội ta

13


ấy là lực lượng ấy là cứu tinh
ấy là bộ phận Việt Minh [14; tr421]
...

Đồng thời, nó cũng nói lên quyền và trách nhiệm của trẻ trong quá trình học
tập, lao động, sáng tạo,
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc và giáo dục trẻ rộng lớn, nhưng nó
tập chung vào các nội dung chính
2.1. Tư tưởng, quan điểm của Người về quyền của trẻ em
Ba mươi năm bôn ba ở nước ngoài (1911 1941) là 30 năm bác đi tìm
đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Tiếp cận với nền giáo dục ở các nước tư
bản, thuộc địa, Bác thấy được tầm quan trọng của giáo dục đối với con người,
đặc biệt là đối với trẻ em. Khi về nước Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng,
hướng tới mục đích giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bởi: Độc
lập làm gì khi người dân phải sống trong áp bức, không được học hành. Vì
vậy, Người chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành [15; tr100]. Đây chính là mục tiêu,
lí tưởng đấu tranh cách mạng của Bác đối với dân tộc, trong đó có trẻ em.
Trẻ em trong xã hội phải có quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc và
quyền tự do, quyền ăn ở, học hành, vui chơi, đó là những quyền thiêng liêng
mà trẻ em phải được hưởng, bất cứ sự áp bức, bóc lột nào, bất cứ tội ác nào
gây ra cho trẻ đều phải bị lên án. Điều này thể hiện ở việc Nguyễn ái Quốc tố
cáo tội ác của bọn thực dân đối với trẻ em Việt Nam và trẻ các nước khác.
Trong Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người kịch liệt lên án
chính sách ngu dân của thực dân Pháp - thể hiện rõ nhất ở việc hạn chế mở
trường học cho trẻ em. Đồng thời với việc hạn chế mở trường học, gây khó
khăn để người An Nam, trong đó có trẻ em không được đi học là việc chúng
mở các đại lý bán rượu, bắt dân ta phải mua, phải dùng: lúc ấy cứ 1000 làng
thì có 1500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện, nhưng cũng trong số 1000 làng
đó lại chỉ có vẻn vẹn 10 trường học Hàng năm người ta đã tọng từ 23 đến 24

15


16


Làm sao một nước Pháp tiếng là đi khai hoá nền văn minh lại có
những việc làm, hành vi vi phạm mọi quyền làm người trắng trợn đến vậy.
Trong bài viết với nhan đề Giáo dục quốc dân của Nguyễn ái Quốc đăng
trên báo LeParia, số 29, Người đã so sánh cái dã man Bonsơvích với nền
văn minh Pháp.
C. Cái dã man Bonsơvích:
Thiết lập một hệ thống các trường mẫu giáo và vỡ lòng, nhà giữ trẻ,
vườn trẻ, nhà nuôi trẻ, nhằm mục đích cải thiện việc giáo dục của xã hội,
giải phóng người phụ nữ.
Nền văn minh Pháp:
Nước Pháp đã đưa lại cho 40000000 người Pháp hải ngoại 8007
trường học. Trong xứ Goadơlup 10000 trẻ em không có trường học. Tại
Angeri thuộc Pháp từ suốt 94 năm nay, trong số 5000000 chỉ có 35000 học
sinh là được hưởng một nền giáo dục nhỏ giọt, còn 695000 trẻ em bản xứ thì
phải chịu dốt nát [12; tr313].
Từ sự so sánh này, Người nêu rõ: Giáo dục Xô Viết là nền giáo dục
chân chính, phục vụ nhân dân; còn giáo dục Pháp là công cụ thống trị của bọn
Tư bản Đế quốc.
Đau lòng thay khi các em không được hưởng những quyền cơ bản của
con người: Không được ăn no, mặc ấm, không được học hành, vui chơi, mà
các em phải đi ở đợ, làm trò mua vui cho bọn thực dân. Người muốn làm cái
gì đó cho các em. Trong yêu sách 8 điểm, chương trình Việt Minh Người
đã thể hiện sự quan tâm của mình đến quyền học tập của trẻ em về nhiều mặt:
Xây dựng một nền giáo dục dân chủ, đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học, với các nguyên tắc: Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã
hội, nêu cao ý thức học không ngừng: Học, học nữa, học mãi; tránh lối học
nhồi sọ, học vẹt, tất cả đều đảm bảo quyền học tập của trẻ, giúp trẻ phát

nghe thầy, yêu bạn và Người cũng nói Non sông Việt Nam có trở nên tươi
đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai

18


với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công
học tập của các em [15; tr33]. Trong Thư gửi thiếu nhi nhân dịp tết trung
thu (18/9/1956) Bác viết:
Nhân dịp tết trung thu
Thân ái chúc các cháu
Vui vẻ mạnh khoẻ
Đoàn kết chặt chẽ
Thi đua học hành
Tiến bộ mau lẹ. [18; tr11]
Bác mong các cháu siêng năng học hành để góp phần xây dựng, kiến
thiết nước nhà. Và:
Bác mong các cháu cho ngoan,
Mai sau gìn giữ giang san Lạc Hồng.
Sao cho nổi tiếng Tiên Rồng
Sao cho tỏ mặt nhi đồng Việt Nam [15; tr214]
để sau này là những tiểu chủ ông của nước nhà.
Qua những bức thư, lời chúc nhân dịp tết trung thu, ngày 1/6, Bác
muốn khơi dậy ở trẻ lòng căm thù giặc, niềm tự hào dân tộc, tình yêu đối với
quê hương đất nước, con người Việt Nam anh hùng.
Trong bài Con cáo và tổ ong Bác viết:
Ong kia yêu giống, yêu nòi
Đồng tâm, hợp lực đuổi loài Cáo đi.
Bây giờ ta thử so bì,
Ong còn đoàn kết, huống chi là người!

phong tục của các dân tộc trên đất nước Việt Nam Như vậy tuy tuổi còn nhỏ
nhưng trách nhiệm đặt lên vai các em không nhỏ.
Nhận thức rõ trách nhiệm của mình các em sẽ nâng cao ý thức tự lực,
phát huy khả năng sáng tạo, vận dụng tốt tri thức vào thực tiễn cuộc sống.
2.3. Tư tưởng, quan điểm của Người về trách nhiệm của nhà trường, gia
đình, xã hội, của nhân dân, của Đảng, Nhà nước đối với trẻ

20


Từ khi mới xuất hiện, trải qua quá trình tiến hoá từ vượn đến người
nguyên thuỷ, rồi đến người hiện đại con người đã ý thức được trách nhiệm
của mình đối với việc chăm sóc giáo dục trẻ. Vì xã hội muốn tồn tại và phát
triển phải có thế hệ kế tiếp. Theo dòng chảy của lịch sử, các thế hệ trẻ nối tiếp
nhau, sáng tạo và kế thừa những di sản quý báu mà tiến lên. Nếu như loài vật
tồn tại dựa vào bản năng thì con người phát triển và tồn tại dựa trên cơ sở kế
thừa, sáng tạo. Một đứa trẻ không thể trở thành một người lao động giỏi nếu
nó không được giáo dục, không biết học hỏi, tiếp nhận những thành tựu truyền
thống của cha ông. Nói về ý nghĩa to lớn của việc giáo dục, kế thừa của các
thế hệ, nhà Tâm lý học người Pháp A.Pêrông giả định Nếu có một tai hoạ
giáng xuống hành tinh chúng ta, mà kết cục chỉ còn sống những đứa trẻ bé
bỏng, còn thế hệ trưởng thành bị tiêu diệt hết, thì mặc dù giống người không
bị tận diệt song lịch sử nhân loại sẽ bị gián đoạn. Kho tàng văn hoá vẫn tiếp
tục tồn tại nhưng chẳng có ai khai phá nó cho những thế hệ mới, các máy móc
sẽ không còn hoạt động. Sách vở chẳng còn được đọc đến. Các tác phẩm mất
đi ý nghĩa thẩm mĩ cần thiết của mình. Lịch sử văn hoá nhân loại phải làm lại
từ đầu [9; tr27].
Khi cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nhà nước mới có điều
kịên để vực dậy nền giáo dục bị gián đoạn sau hàng chục năm bị thực dân
Pháp đô hộ. Chính vì thế, tuy có cố gắng nhưng phương pháp dạy học của ta

[2;tr140].
Ngày 8/9/1955, trong bài viết Kỉ niệm 10 năm bình dân học vụ kí tên
CB, đăng báo Nhân dân số 554, Người khẳng định Dốt thì dại, dại thì hèn.
Vì không chịu dại, không chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là việc cấp
bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới Bình dân học vụ
không những dạy đọc, dạy viết mà còn phải chú trọng dạy đạo đức công dân
[2; tr93].
Nhưng tại sao Bác lại muốn giáo dục đạo đức cho trẻ trước?
Trong các mặt: Đức, trí, thể, mĩ; mặt đức được Bác đề cập đến đầu tiên.
Người từng nói Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không

22


có tài thì làm việc gì cũng khó. Cái đức là bản chất của con người, người
không có tâm hồn trong sáng, dễ bị mọi người xa lánh. Theo Khổng Tử một nhà giáo dục lớn của Trung Hoa thời cổ: Bản tính con người là thiện, lúc
mới sinh ra mọi người đều như nhau, song qua giáo dục và tự rèn luyện sẽ dẫn
tới những thân phận khác nhau. Bài thơ Dạ bán (Nửa đêm) trích trong tập
thơ Nhật kí trong tù của Nguyễn ái Quốc là một Tuyên ngôn về giáo dục
con người:
Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên. [14; tr383]
Hồ Chí Minh đã khẳng định một quan niệm khoa học về bản chất con
người và tác dụng của giáo dục đối với con người: Con người sinh ra chưa có
nhân cách (hiền dữ phải đâu là tính sẵn), nhân cách được hình thành dưới tác
động của nhiều yếu tố, trong đó vai trò của giáo dục là đặc biệt quan trọng
(phần nhiều). Do đó cần phải giáo dục nhưng không phải để cho Giáo dục tự
nhiên mà cần có sự hướng dẫn với nội dung, phương pháp đúng. Mà trẻ mầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status