HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LỚP BỒI DƯỠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN
(Tổ chức tại Bộ Tài nguyên và Môi trường)
***
TIỂU LUẬN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
THÔNG TIN Y TẾ TUYẾN CƠ SỞ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THÔNG TIN Y TẾ CƠ SỞ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự nghiệp y tế của đất nước nói chung và trong công tác quản lý
y tế nói riêng, không thể thiếu thông tin, đặc biệt là thông tin y tế. Trong
thông tin y tế thì thông tin y tế tuyến cơ sở đóng vai trò rất quan trọng vì nó
bao gồm những dữ liệu ban đầu, cần thiết cho việc lập kế hoạch y tế, mục tiêu
là để đề xuất các giải pháp can thiệp, sửa đổi hay bổ sung các chính sách y tế
và lượng giá các giải pháp hay các chính sách đó.
Yêu cầu cơ bản của thông tin là phải chính xác, đáng tin cậy, kịp thời
và đầy đủ. Tuy nhiên, phải có chọn lọc để phù hợp với từng mục tiêu cụ thể.
Nếu đạt được các yêu cầu cơ bản thì thông tin mới phát huy được tác dụng
tích cực của nó, nhưng hiện nay ở nước ta, chất lượng các số liệu thu thập từ
tuyến cơ sở còn rất nhiều hạn chế như: các chỉ số thu thập còn quá nhiều,
phương pháp thu thập thông tin và tính toán số liệu còn chưa được chuẩn hoá,
các cán bộ y tế cơ sở chưa hiểu hết các ý nghĩa của các chỉ số, có sự thiếu hụt
lớn về thông tin, đặc biệt là thông tin về bệnh tật. Do đó, các yêu cầu đặt ra
cho các thông tin y tế cơ sở là chưa thể đạt được.
Cho đến cuối năm 1997, Bộ Y tế mới có tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết của 10
bệnh cao nhất của bệnh viện chứ không phải thu thập các chỉ số này tại cộng
chính xác, không kịp thời không những làm ảnh hưởng đến công tác chiến
lược nói chung mà còn có thể ảnh hưởng ngay đến công tác chăm sóc sức
khoẻ ban đầu hoặc phòng chống bệnh dịch ở địa phương.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Thông tin y tế thu thập trong lập kế hoạch y tế công cộng
1.1 Khái niệm về thông tin y tế:
Thông tin y tế là những tin tức mô tả về tình hình hoạt động của các
lĩnh vực khác nhau trong ngành và cả những lĩnh vực khác nhau ngoài ngành
y tế có liên quan tới y tế. Ví dụ như tỷ lệ mắc bệnh của một địa phương trong
một khoảng thời gian nào đó; số cán bộ y tế/1.000 dân của một địa phương
nào đó; tỷ lệ người nghèo của địa phương đó/thời gian năm…
Thông tin y tế đóng vai trò rất quan trọng trong cả ba khâu của chu
trình quản lý, từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh
giá. Tất cả các quá trình đó đều cần những thông tin tin cậy và phù hợp với
khả năng thu thập của từng tuyến. Tương tự như một bác sĩ lâm sàng giỏi
trước hết phải biết khai thác các triệu chứng, người quản lý giỏi là người biết
cách thu thập và sử dụng thông tin giỏi. Không có thông tin, quản lý là một
quá trình mò mẫm, rời rạc, vì vậy không có hiệu quả.
Để có những thông tin cần thiết cho quá trình quản lý, thông tin phải
đạt các yêu cầu:
- Thông tin phải đầy đủ và toàn diện, nhưng cũng phải có sự chọn lọc để
phù hợp với từng mục tiêu cụ thể.
- Thông tin phải chính xác, phản ánh đúng thực tế. Ví dụ tỷ lệ mắc bệnh
sốt rét ở huyện M là 2,5%/tổng số dân/năm, nếu báo cáo cao hơn hay
thấp hơn tỷ lệ đó sẽ sai với thực tế, dẫn đến lập kế hoạch sai.
- Thông tin phải cập nhật, phản ánh đúng thời điểm.
- Thông tin phải có tính đặc hiệu, giúp người lập kế hoạch không lẫn lộn
giữa vấn đề này với vấn đề khác.
- Thông tin về sự sử dụng.
- Thông tin về sự sử dụng đủ.
- Thông tin về sự sử dụng có hiệu quả.
1.2 Các phương pháp thu thập thông tin:
Có 3 phương pháp thu thập thông tin chính:
- Qua sổ sách, báo cáo sẵn có: Đòi hỏi phải có hệ thống báo cáo hoạt
động tốt từ dưới lên.
- Quan sát, nghe ngóng tại các cuộc họp hay đi thực tế: Phương pháp này
chỉ cho ta những thông tin khái quát, những thông tin dạng này thường
không chính xác.
- Qua các cuộc điều tra nghiên cứu: Thông tin thường chính xác, cập
nhật nhưng phải có nhân lực, kinh phí, thường cũng chỉ thu thập được
lượng thông tin nhất định. Hơn nữa không phải bao giờ cũng thực hiện
được.
Hiện nay ở nước ta, tại tuyến tỉnh, huyện, xã, những thông tin có được
chủ yếu là từ hệ thống báo cáo tuyến xã gửi lên, từ báo cáo hoạt động của
các bệnh viện, của đội vệ sinh phòng dịch - chống sốt rét, trạm sinh đẻ kế
hoạch hoặc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em/kế hoạch hoá gia đình. Một thực
tế là báo cáo từ xã gửi lên thường có độ tin cậy rất khác nhau, do người
làm báo cáo có trình độ và tinh thần trách nhiệm khác nhau, không dành
thời gian cho việc làm báo cáo và ít để ý đến con số báo cáo sai, có bị ước
lượng không.
Trong quá trình xây dựng và phát triển ngành y tế, thực hiện sự nghiệp
bảo vệ sức khoẻ người dân, chúng ta đã xây dựng và phát triển một mạng
lưới y tế cơ sở rộng khắp trong cả nước, trong đó có mạng lưới thông tin y
tế. Mạng lưới y tế cơ sở nước ta đã có những đóng góp to lớn trong việc
quản lý và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Đồng thời mạng lưới này cũng đã
cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho hoạt động y tế trên cả nước. Nó
1.3 Các chỉ số chính được thu thập tại xã:
Định nghĩa chỉ số: Là số đo giúp đo lường và so sánh những sự thay đổi có
thể được thể hiện theo chiều hướng (tăng hay giảm), mức độ (ít hay nhiều) và
phạm vi (rộng hay hẹp).
Các đặc tính của chỉ số:
Tính sử dụng: Được sử dụng thường xuyên trong lập kế hoạch, quản lý,
giám sát và lượng giá các hoạt động y tế.
Tính thực thi và đơn giản.
Tính nhạy: Chỉ số phải nhạy trước sự thay đổi của các yếu tố cần đo lường.
Tính đặc hiệu: Chỉ phản ánh các đối tượng mà chỉ số đó đo lường.
Tính khách quan: Phản ánh một cách khách quan các đối tượng cần đo.
Có 4 loại chỉ số: Chí số đầu vào, chỉ số hoạt động, chỉ số đầu ra và chỉ số
tác động. Hiện nay, Bộ Y tế quy định các trạm y tế phải thu thập 89 chỉ số,
trong đó có 19 chỉ số tối thiểu.
Các loại sổ sách do Bộ Y tế phát hành: 07 quyển sổ chính thức ban hành
của Bộ Y tế cho công tác thu thập thông tin là:
Sổ A1: Sổ khám bệnh
Sổ A2: Sổ tiêm chủng
Sổ A3: Sổ khám thai
Sổ A4: Sổ theo dõi sinh đẻ
Sổ A5: Sổ theo dõi các biện pháp KHHGĐ
Sổ A6: Sổ theo dõi nguyên nhân tử vong
Sổ A7: Sổ theo dõi các bệnh xã hội (sốt rét, lao, phong, mắt hột, mù loà,
tâm thần, nghiện hút, hoa liễu, bướu cổ).
Theo quy định của Bộ Y tế, các trạm y tế xã dùng các sổ này ghi chép toàn
bộ các hoạt động của trạm.
2. Hệ thống thu thập và quản lý thông tin khám chữa bệnh tại tuyến y
tế cơ sở
Trịnh - Quảng Bình, năm 1994 Nguyễn Văn Thuỳ đã đưa ra mô hình giám sát
thu thập thông tin như sau:
Cụm gia
đình
Y tế
tư
Trạm VSPD tỉnh
Bệnh viện tỉnh
Đội VSPD – SR
huyện
Bệnh viện huyện
Trạm y tế xã
Phòng khám khu
vực, hộ sinh khu vực
Hộ
sinh tư
Y tế
thôn
VSPD huyện
Trạm y tế xã
Sơ đồ 3: Hệ thống báo cáo theo Trần Ngọc Hữu
Nghiên cứu của Hoàng Đình Huề năm 1998 tóm tắt như sau:
Các bộ, ngành,
các nguồn khác
Các chương trình
y tế
Bộ Y tế
Vụ kế hoạch
Phòng TK - KH
Tổng cục
thống kê
Sở Y tế
Cục thống kê tỉnh
Trung tâm
y tế huyện
Phòng thống kê
Trạm y tế xã
YTDP
Phòng
KH - TH
Các bệnh viện
Các trạm
chuyên
Trung tâm y tế huyện
Đội VSPD
Phòng
KH - TH
Các bệnh viện
Trạm y tế xã
Sơ đồ 5: Hệ thống báo cáo y tế hiện nay ở nước ta
2.2 Những tồn tại của chất lượng thông tin y tế tuyến cơ sở
Theo nghiên cứu của đơn vị CSSKĐB - Bộ Y tế năm 1994 đến 1995 tại
Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Long An, Cần Thơ thì tỷ lệ người đau ốm tự
mua thuốc về chữa mà không qua khám bệnh rất phổ biến. Nơi tỷ lệ cao nhất
là Long An (47,7%), thấp nhất là Thừa Thiên - Huế (28,9%). Cũng theo đơn
vị CSSKĐB - Bộ Y tế, chỉ có 66% trạm y tế có đủ 7 sổ ghi chép theo quy
thông tin duy nhất. Nếu chỉ dựa vào hệ thống thống kê để nhìn nhận tình
hình sức khoẻ cộng đồng thì sẽ không đúng vì chỉ nhìn được chỏm của
tảng băng nổi. Đây chỉ là một phần rất nhỏ trong khi phần lớn tảng băng
lại nằm chìm dưỡi nước. Muốn biết được toàn bộ tảng băng có hai cách:
- Dựa vào các cuộc điều tra, nghiên cứu của từng vùng để ước đoán phần
chìm là bao nhiêu, như thế nào.
- Có giải pháp bổ sung cho hệ thống thống kê để thấy được phần lớn
hình thể của tảng băng, kể cả phần chìm (không nằm trong thống kê).
Với hoạt động của hệ thống thông tin như hiện nay, có những thông tin
vượt quá khả năng của y tế xã nên phải dựa vào điều tra định kỳ hoặc các
nghiên cứu chuyên biệt. Có thể nói, y tế xã như một cái túi chứa các hoạt
động y tế từ trên rót xuống. Với địa bàn rộng, nhân lực ít, lượng thông tin
yêu cầu phải nắm quá nhiều thì y tế xã không thể nắm hết được. Vì vậy, có
những thông tin cần phải dựa vào cộng đồng, dựa vào chân rết ở dưới để
bổ sung thêm như: thông tin về bệnh tật, sinh đẻ, tử vong… Mặt khác có
những thông tin mà y tế xã dễ dàng nắm được như các chỉ số đánh giá hoạt
động khám chữa bệnh tại trạm y tế xã thì cũng phải đưa vào thống kê và
báo cáo theo một mẫu thống nhất.
KẾT LUẬN
- Tầm quan trọng, vai trò của thông tin y tế tuyến cơ sở.
- Các hình thức và công cụ cơ bản để thu thập thông tin y tế tuyến cơ sở.
- Hạn chế trong quản lý nhà nước về các hoạt động thu thập thông tin y
tế tuyến cơ sở.
KIẾN NGHỊ
1. Trong các sổ sách phát hành về cơ sở cần phải làm rõ các định nghĩa,
các nội dung thu thập các số liệu để tránh trùng lặp các chỉ số. Cần có
1. Bộ Y tế:
Các biểu mẫu thống kê ở tuyến cơ sở
Bộ Y tế, Hà Nội, 1997, (1-16)
2. Bộ Y tế:
Đánh giá kết quả hệ thống thông tin quản lý y tế
Bộ Y tế, Hà Nội, 1998, (16-18)
3. Bộ Y tế:
Thông tư số 07/BYT – TT, 25/8/1997
4. Bộ Y tế:
Thông tư liên tịch số 02/TTLT – BYT – BTCCBCP hướng dẫn thi hành
nghị định số 01/1998/NĐ-CP (6-7)
5. Bộ Y tế:
Quản lý hoạt động lồng ghép trạm y tế cơ sở
NXBYH, Hà Nội, 1994, (156-188)
6. Bộ Y tế, chương trình NKHHCT trẻ em:
Tài liệu huấn luyện dành cho cán bộ tuyến xã.
NXBTH, Hà Nội, 1998 (4-45)
7. Bộ Y tế, Chương trình viêm phổi trẻ em:
Hướng dẫn giám sát hoạt động chương trình
Hà Nội, 1998 (69-72)
8. Bộ Y tế, Đơn vị chăm sóc sức khoẻ ban đầu:
Tóm tắt kết quả nghiên cứu tại Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Long An, Cần
Thơ, 1994 – 1995 (1-4)
9. Bộ Y tế, Đơn vị chăm sóc sức khoẻ ban đầu:
Tóm tắt 4 công trình nghiên cứu tiến hành tại đơn vị chăm sóc sức khoẻ
ban đầu 1995 – 1996, (5-9)
10.Bộ Y tế - SIDA (Thuỵ Điển):
Tiêu chuẩn kỹ thuật của y tế xã
Củng cố công tác dược tại trạm y tế xã một nhu cầu cấp bách.
Tạp chí Y học thực hành số 4/1994, (28-29)
20.Trần Văn Chí:
Nghiên cứu khả năng quản lý hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu hiện
nay ở tuyến xã.
Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội, 1997, (39-43)
21.Trương Việt Dũng:
Xây dựng chính sách y tế công cộng.
Thông tin y tế
Bài giảng cao học Y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội, 1999
22.Trương Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tâm, Gill Tipping – Malcalm
Segall:
Chất lượng các dịch vụ y tế công cộng và những quyết định của gia đình
về chăm sóc sức khoẻ ở 4 xã tại Quảng Ninh.
NXBYH, 1995, (12-19)
23.Nguyễn Anh Dũng, Trần Quang Bình:
Điều tra đánh giá chất lượng điều trị tiêu chảy tại các cơ sở y tế.
Tạp chí Y học dự phòng, tập VIII, số 2 (phụ bản), 1998, Tổng hội Y Dược
học Việt nam xuất bản (52)
24.Đại học Y khoa Hà Nội, Bộ môn Vệ sinh – Môi trường - Dịch tễ:
Chuẩn đoán cộng đồng – Xác định nhu cầu sức khoẻ bằng phương pháp
đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng.
Hà Nội, 1995, (42-48)
25.Nguyễn Hải:
Nâng cao chất lượng báo cáo thống kê
Tạp chí thông tin khoa học thống kê, NXBTK, Hà Nội, 1997, (15)
26.Nguyễn Văn Hợp:
Lượng giá chương trình ARI tại 16 xã thuộc 5 huyện tỉnh Quảng Ninh.
33.T.Lộc:
Phát biểu hệ thống thôn tin y tế ở Thái Lan (tài liệu dịch từ TRF, 1996)
Tạp chí thông tin Y Dược, NXBYH, 11+12/1997, (23-27)
34.Dương Huy Liệu, Trương Việt Dũng, Trần Văn Hiển và CS:
Theo dõi và giám sát các hoạt động của các trạm y tế cơ sở
Vụ kế hoạch, Bộ Y tế, Hà Nội, 1998, (7-15)
35.Nguyễn Duy Luật:
Những quan điểm cơ bản và mục tiêu chiến lược bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Việt Nam.
Bài giảng cao học Y tế cộng đồng, Đại học Y Hà Nội, 1999
36.Vũ Khắc Lương:
Thông tin và thu thập thông tin y tế
Bài giảng cao học Y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội, 1999
37.Thẩm Chí Mục và CS:
Về tình hình điều trị ỉa chảy tại nhà (Hà Nam Ninh)
Tạp chí VSPD, tập IV, số 2/1994. Tổng hội Y Dược học Việt Nam xuất
bản, (24-26)
38.Từ ngữ, Nguyễn Đình Quang:
Xây dựng mạng lưới cộng tác viên tự nguyện trong hoạt động giáo dục
dinh dưỡng ở cơ sở.
Tạp chí VSPD, tập IV, số 2/1994. Tổng hội Y Dược học Việt Nam xuất
bản, (79-84).
39.Đào Văn Phan, Nguyễn Văn Hùng:
Về thị trường thuốc tại tuyến xã.
Tạp chí Dược học số 11/1996, Bộ Y tế xuất bản, (7-8)
40.Đào Ngọc Phong:
Các phương pháp nghiên cứu trong Y học cộng đồng (tài liệu dịch)
Đề án đào tạo, Vụ khoa học đào tạo, Bộ Y tế 1993, (58-126)