Bài tập tình huống chương trình chuyên viên chính HVHC: Một số vấn đề về nợ đọng vốn trong xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước - Pdf 31

MỞ BÀI
Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng, có nhiều bài viết phản
ảnh về vấn đề nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), từ nguồn vốn
ngân sách Nhà nước (NSNN). Đó cũng là chủ đề được dư luận xã hội hết sức
quan tâm, trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang chỉ đạo thực hiện dân chủ
hóa, công khai hóa, minh bạch trong quản lý tài chính công nói riêng và quản
lý Nhà nước nói chung. Chính vì vậy khi nhiều địa phương để sẩy ra tình trạng
nợ đọng vốn XDCB là vấn đề gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân.
Từ đó tác động không tốt khả năng tới cân đối vĩ mô về nguồn lực tài chính,
đồng thời đặt ra yêu cầu Chính phủ phải có các giải pháp đủ mạnh để ngăn
chặn, giải quyết tình trạng trên trong năm 2005 và những năm tiếp theo.
Theo thống kê chưa đầy đủ của các Bộ, ngành và các địa phương thì số
nợ đọng vốn đầu tư XDCB từ năm 2003 trở về trước khoảng 11.500 tỷ đồng,
bằng khoảng 25% tổng số vốn đầu tư của nguồn ngân sách Nhà nước năm
2003. Trong đó các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có số nợ khoảng
7.500 tỷ đồng.
Nợ đọng vốn đầy tư XDCB có tác động xấu về mặt tài chính – tiền tệ, xã
hội …. Phần nào kìm hãm sự phát triển bền vững của nền kinh tế và đặc biệt
đối với nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến nợ đọng vốn đầu tư XDCB, song chỉ xin nêu 2 nhóm nguyên nhân chủ
yếu sau.
Trước hết là nhóm nguyên nhân khách quan: Khả năng cân đối với đầu tư
XDCB từ NSNN hàng năm cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã
hội còn rất hạn hẹp, chỉ đáp ứng được từ 40 – 50% nhu cầu. Trong khi đó số
lượng các dự án đầu tư cho các đơn vị trình duyệt ngày càng tăng, trên thực tế


số lượng dự án được duyệt đã không phù hợp với khả năng cân đối ngân sách
hàng năm của Nhà nước, từ đó các chủ đầu tư đã vay mượn vốn và chiếm dụng
vốn của nhà thầu để thi công, dẫn đến khối lượng nợ đầu tư XDCB ngày càng
tăng.

(XDCB tập trung) là: 16 0 tỷ đồng.
Trên cơ sở đó Bộ Tài chính giao dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm
2004 tại Quyết định số 191/2003/QĐ - BTC ngày 17 – 11 – 2003 với số thu, chi
như Quyết định số 242/2003/QĐ - TTg cho tỉnh K, trong đó số vốn XĐCB tập
trung là 160 tỷ đồng.
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính Phủ và Bộ tài chính. UBNN
tỉnh K giao sở tài chính, phối hợp sở Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn, cùng các Sở,
ban, ngành, các cấp ngân sách lập dự toán ngân sách năm 2004. Căn cứ số ngân
sách được giao, căn cứ Nghị định số 73/2003/NĐ- CP ngày 23-6-2003 (NĐ 73) ban
ngành quy chế xem xét quyết định dự toán ngân sách địa phương, Luật ngân sách,
Nghị định số 60/2003/NĐ- CP (NĐ60) ngày 6-6-2003 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật ngân sách Nhà nước; Căn cứ Thông tư số 59/2003/TT/BTC ngày
23-6-203- 2003 (TT59) hướng dẫn thực hiện nghị định số 60/2003/NĐ - CP ngày
06- 06 – 2003 (NĐ60), Sở tài chính tỉnh K, cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh lập
dự tóan ngân sách năm 2004 tại báo cáo số 107/BC – UB ngày 20 – 11- 2003 về
tình hình thực hiện nhiệm vụ thu chi ngân sách năm 2003 và dự kiến phân bổ
nhiệm vụ thu, chi ngân sách năm 2004. Trong đó xác định nhiệm vụ chi ngân sách
trên địa bàn là 837,647 tỷ đồng được phân ra theo các lĩnh vực chi, trong đó lĩnh
vực chi XDCB tập trung là 130 tỷ đồng, từ nguồn vốn XDCB tập trung của trung
3


ương phân bổ 160 tỷ đồng sau khi đã trừ các nguồn để lại ở cấp huyện (thu cấp đất
theo giá quy định) là 30 tỷ đồng. Báo cáo sẽ được trình Hội đồng nhân dân
(HĐND) tỉnh khóa VIII kỳ họp thứ 13 ngày 04 – 12 – 2003.
Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn trên nhất là quyết định số 242/2003/QĐ TTg ngày 17 – 11 – 2003. UBND tỉnh K giao Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, lập báo
cáo số 108/BC/UB ngày 20 – 11- 2003 về “ước tính tình hình thực hiện kế hoạch
XDCB năm 2003 và dự kiến kế hoạch XDCB năm 2004” trình HĐND tỉnh khóa
VIII, tại kỳ họp thứ 13 ngày 14 – 12 – 2003. Trong đó phần phân bổ dự kiến cụ thể
cho ngồn vốn XDCB tập trung cho tỉnh quản lý là 160 tỷ đồng cho 155 công trình

tạo lập các hành lang pháp lý để cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế tự do , bình đẳng trong một sân chơi và Nhà nước là chủ thể quản lý điều chỉnh
“ sân chơi” đó. Các quan hệ kinh tế thị trường rất đa dạng, phong phú, năng động
và phức tạp do đó cần phải định hướng cho chúng phát triển theo định hướng xã
hội nhất định. Điều đó càng nảy sinh ra nhu cầu điều chỉnh để loại bỏ những yếu tố
ngẫu nhiên, tuỳ tiện, ngăn ngừa rối loạn, khủng hoảng, thiết lập trật tự ổn định. Một
trong những phương tiện điều chỉnh hữu hiệu đó là luật pháp. Bằng sự điều chỉnh
pháp luật mà tạo ra môi trường thuận lợi tin cậy và chính thức cho sự tồn tại và
phát triển của các quan hệ kinh tế.
Trong những năm qua, để đáp ứng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa và đáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hạn chế nợ đọng trong đầu tư xây
dựng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ

5


mới phát sinh, nhất là trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng để đạt được mục
đích.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, sản xuất kinh doanh phù hợp
với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời
kỳ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân
dân.
- Sử dụng các nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước đạt hiệu quả cao
nhất đồng thời huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn.
- Đảm bảo xây dựng theo quy hoạch được duyệt, đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững, bảo vệ môi trường , tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây
dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với
chi phí hợp lý, thực hiện bảo hành công trình.

văn bản quy phạm pháp luật. Sự đa dạng này còn tăng thêm bởi một điều là trong
điều chỉnh pháp luật người ta áp dụng các giải pháp khác nhau cho cùng các vấn đề
như nhau. Trong trường hợp này thì quy chế pháp lý của các cơ quan nhà nước và
các cơ quan chính quyền địa phương được quy định khi thành lập chúng. Điều này
tạo khả năng ít nhiều mô tả đầy đủ hơn các vấn đề tương ứng. Trong trường hợp
khác, khi cần thiết người ta bổ sung những thay đổi vào quy chế pháp lý của các
cơ quan đang tồn tại. Điều này thường được thực hiện bởi lẽ trong thực tế hoạt
động chức năng của các cơ quan nhà nước thường phát hiện thấy không đủ các
7


chức năng quản lý hoặc các quyền hạn, mà cũng có thể không đủ cả tiềm năng đội
ngũ nhân viên. Trong trường hợp thứ ba lại có sự quy định trật tự hiện hành một
vấn đề nhất định và giao phó nó cho cơ quan tương ứng.
Nói chung, cơ cấu điều chỉnh pháp luật đối với quản lý nhà nước được hình
thành dưới ảnh hưởng của hai yếu tố dường như gặp nhau. Theo hướng này các
hình thức (các văn bản pháp luật) điều chỉnh pháp luật đã hình thành một cách
khách quan, được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, còn theo hướng khác đó là đặc điểm của bản thân các yếu tố, các quá trình và các quan hệ quản lý nhà
nước, vốn chi phí nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quản lý nhà nước.
Vì vậy, cơ cấu điều chỉnh pháp luật đối với quản lý nhà nước cần phải làm
sao cho để mỗi một trong số các yếu tố của quản lý nhà nước đều có một hình thức
pháp luật tương ứng với bản chất và công dụng của nó và đảm bảo thực hiện nó có
hiệu quả
2. Phân tích xử lý tình huống :
1. Theo Điều 34 Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21 – 06- 1994 (sửa
đổi) và quy chế nội quy các kỳ họp của nhiệm kỳ 1999 – 2004 ngày 10 – 02 –
2000, tài liệu phục vụ cho kỳ họp phải được gửi tới đại biểu HĐND trước 5 ngày.
Theo tiết a khoản 2 Điều 25 Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội
thông qua ngày 16 – 12- 2002. Hội đồng nhân dân quyết định phân bổ dự toán ngân
sách cấp tỉnh mình (cấp tỉnh).

trong quy hoạch tổng thể. Tuy nhiên, có một số công trình chuyển tiếp (8 công
trình) chưa đủ thủ tục về đầu tư XDCB theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư

9


và xây dựng (NĐ 52), có 4 công trình khởi công mới (Các công trình cần thiết)
chưa phù hợp với quy hoạch được duyệt, quyết định đầu tư sau thời điểm 31 – 11 –
2003.
Tổng số vốn cho 12 công trình này xấp xỉ 30 tỷ đồng.
Theo Luật Ngân sách, Nghị định 73, Thông tư 59, Quyết định 242 và Quyết
định 191 thì Sở Kế hoạch bố trí vốn là 160 tỷ đồng cho 155 công trình. Trong khi
đó theo Sở Tài chính nguồn vốn thuộc thẩm quyền cấp tỉnh phân bổ chỉ có 130 tỷ
đồng cho nguồn vốn XDCB trong năm ngân sách 2004. Như vậy Sở kế hoạch và
Đầu tư bố trí vượt nguồn vốn XDCB là 30 tỷ đồng. Như vậy, Sở Kế hoạch và đầu
tư tỉnh K cơ quan tham mưu trực tiếp cho UBND tỉnh K đã xây dựng dự tóan về
XDCB năm 2004 là trái với luật ngân sách, Nghị quyết số 14 của HĐND tỉnh về
phân cấp nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách.
4. Việc xảy ra trong quá trình Ban Kinh tế – Ngân sách thẩm tra các báo cáo
của UBND tỉnh K là không có sự thống nhất về nguồn vốn và vốn cho các công
trình XDCB năm 2004 (lệch nhau khoảng 30tỷ đồng) qua báo cáo thấy rằng do
những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Khoản ngân sách cho XDCB tập trung của Trung ương cho tỉnh A còn quá
hạn hẹp so với nhu cầu cấp thiết về đầu tư XDCB tại tỉnh K.
+ Do đặc điểm riêng biệt của XDCB là công việc phải hoàn thành theo từng
giai đoạn kỹ thuật, theo tiến độ và mùa vụ (hòan thành trước mùa mưa, bão), nhưng
vốn bố trí cho một số công trình chưa kịp ở những năm trước (nợ vốn công trình)
nên trong năm 2004 phải ghi số vốn vào để trả nợ.
- Nguyên nhân chủ quan:

11


“Xây dựng dự tóan chi cho đầu tư XDCB tập trung phải quán triệt những yêu
cầu của Luật Ngân sách và các văn bản hướng dẫn: Đảm bảo đầu tư có trọng tâm,
trọng điểm, chống dàn trải gây lãng phí thất thoát…”
“… Các công trình đưa vào dự tóan chi ngân sách năm 2004 phải có đủ thủ
tục đầu tư XDCB và được duyệt trước tháng 9 -2003; bố trí căn cứ khả năng ngân
sách theo số kiểm tra dự toán chi đầu tư XDCB, không bố trí tràn lan vượt quá khả
năng của ngân sách Nhà nước….”.
Như vậy một số công trình mà Sở kế hoạch và Đầu tư đã bố trí, không đáp
ứng yêu cầu về quản lý thủ tục đầu tư XDCB như nghị định số 52/1999 Ngày 08 –
7 -1999; số 12/2000/NĐ - CP ngày 30 – 01 – 2003 của Chính phủ về quy chế quản
lý đầu tư và xây dựng.
Hơn nữa, cũng không đúng với thông tư hướng dẫn của Thông tư 61: Các
công trình đưa vào dự tóan phải đảm bảo nguồn vốn và khả năng ngân sách cấp
mình. Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh cho rằng Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có
xu hướng (theo chủ quan) nới lỏng quản lý đầu tư và xây dựng, không đảm bảo kỷ
cương trong XDCB và các văn bản quy phạm pháp luật nói trên.
+ Ở một số công trình đã khởi công (công trình chuyển tiếp) một số nhà thầu
do sức ép lớn về nhu cầu việc làm, đảm bảo thu nhập cho cán bộ, công nhân viên;
khấu hao máy móc, thiết bị … nên các nhà thầu chấp nhận ứng vốn trước, hơn nữa
họ không hiểu thông tin về khả năng vốn của chủ đầu tư. Trong số này khoảng 18
công trình với số vốn gần 38 tỷ đồng, thực chất là những công trình đã hòan thành
nhưng chưa có nguồn vốn từ những năm trước, đến năm 2004 mới ghi được vào để
thanh toán cho nhà thầu.
5. Từ những nguyên nhân trên, nếu chấp nhận theo phương án tại Báo cáo số
108 của Sở Kế hoạch và Đầu tư, trình trước HĐND tỉnh thông qua thì:
12


sử dụng, dẫn đến lãng phí vốn đầu tư, gây ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển kinh
tế – xã hội của tỉnh K.
- Là nguyên ngân cơ bản dẫn đến nợ đọng XDCB, nếu thực hiện theo
phương án tại Báo cáo số 108 của Sở Kế hoạch và Đầu tư và như vậy, trong những
năm ngân sách tiếp theo, Chính phủ không cấp ngân sách để trả nợ XDCB, thì sẽ
ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của một số nhà thầu (các công trình
khởi công và chuyển tiếp nhiều công trình nhà thầu ứng trước vốn) có vốn XDCB
phải đi vay, từ đó làm tăng dư nợ tín dụng, dư nợ quỹ hỗ trợ phát triển, có thể dẫn
đến một số nhà thầu rơi vào tình trạng phá sản, người lao động mất việc làm, ngòai
ra còn là nguyên nhân quan trọng làm cho giá cả nhiều loại sản phẩm hàng hóa tăng
cao. Một số nhà thầu không đủ vốn, nếu muốn vay phải có công trình, hơn nữa còn
đảm bảo khấu hao máy móc, thiết bị, thu nhập và việc làm của công nhân nên tìm
mọi cách để có được công trình (kể cả việc bỏ thầu thấp để trúng thầu) không cần
biết khả năng vốn của chủ đầu tư đến đâu, nếu không có vốn thì đi vay, từ đó rơi
vào vòng luẩn quẩn và nợ đọng XDCB từ nguồn NSNN ngày càng lớn, tạo ra sức
ép về lao động và việc làm rất lớn, ảnh hưởng xấu về mặt xã hội, tạo ra một nền
kinh tế phát triển không lành mạnh về tài chính, trong khi tỉnh K là tỉnh đất chật,
người đông đang cần có những công trình hòan thành để góp phần tạo công ăn việc
làm cho người dân.
3. Phương án giải quyết tình huống
a/ Xây dựng phương án:
Do kỳ họp HĐND tỉnh đã được ấn định vào ngày 04 – 12- 2003, thời gian là
rất gấp, theo Luật tổ chức HĐND, tại Điều 31 và nội quy của các kỳ họp đã nêu ở
phần trên.
Do vậy có thể giải quyết tình huống trên theo các phương án sau:
14


- Phương án 1:
+ Giữ ngyên các phương án tại Báo cáo số 107 và 108 của UBND tỉnh K.

Chính phủ, Bộ Tài chính số nguồn vốn XDCB vượt lên.
- Về nguyên tắc tỉnh K không chấp hành luật, nghị định, quyết định, thông tư
hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, cơ quan chuyên môn cấp trên, nhất là số vốn đã
được Quốc hội phê chuẩn, Chính phủ giao, Bộ Tài chính phân bố tỉnh K là 160 tỷ
đồng, trong đó XDCB tập trung do cấp tỉnh quản lý là 130 tỷ đồng về XDCB
- Tạo ra một tiền lệ không tốt trong công tác phân bổ nguồn vốn XDCB tập
trung cho những năm sau (Sở kế hoạch và Đầu tư cứ phân thiếu vốn thì tìm nguồn
sau, cứ cho khởi công sau đó chạy vốn, xin vốn sau vì là công trình thuộc vốn ngân
sách nên bắt buộc ngân sách phải no trả nợ).
Điều này rất nguy hiểm, vì chính những điều đó mà việc nợ đọng trong tỉnh
K đang còn rất lớn (Theo báo cáo vào khoảng 25 tỷ đồng tính đến gần hết năm
2003) và nằm trong số 7.500 tỷ đồng nợ đọng XDCB từ nguồn NSNN trên tòan
quốc. Mà vấn đề nợ đọng XDCB có tác động không tốt như đã phân tích ở trên.
- Tuy phương án đã giải quyết được vốn bù đắp ( đi vay hoặc huy động)
nhưng ngân sách tỉnh K phải no trả nợ khi đến hạn, Nhà nước không cấp vốn để trả
nợ XDCB cho những năm tiếp theo, do vậy xẽ gây ra sự bị động về phân bổ vốn
XDCB và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh K, nhất là tỉnh K là tỉnh
nghèo, vừa được tái lập, có nhiều công trình nằm trong kế hoạch XDCB trong
những năm tới. Nếu những năm tới nguồn vốn XDCB còn hạn hẹp thì nguồn vốn
cho những công trình sau này sẽ rất eo hẹp và khó khăn.
16


- Phương án 2.
+ Giữa nguyên báo cáo về dự tóan năm 2004 do Sở Tài chính tham mưu cho
UBND tỉnh về phân bổ nguồn vốn XDCB tập trung cấp tỉnh năm 2004.
+ Yêu cầu UBND tỉnh K chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư trong thời gian
nhanh nhất rà soát lại danh mục công trình XDCB năm 2004: 155 công trình,
những công trình nào không đúng, không đáp ứng theo yêu cầu của Luật ngân sách,
nghị định, thông tư hướng dẫn không phù hợp với quy hoạch được duyệt đã nói ở

Gây ảnh hưởng tới lợi ích của một số nhà thầu do công trình phải rút bỏ
hoặc cắt bớt vốn đầu tư.
b. Lựa chọn phương án:
Tỉnh K là tỉnh được Trung ương quan tâm chú ý đầu tư, và sẽ được đưa
vào vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc. Vì vậy để tạo uy tín của tỉnh K
đối với Trung ương, hy sinh lợi ích riêng, trước mắt để tạo đà phát triển lâu
dài, chính vì vậy xét thấy để phương án phù hợp với mục tiêu trên chỉ có
phương án 2 là đáp ứng được yêu cầu đó. Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh
lập báo cáo thẩm tra theo phương án 2 trình trước HĐND tỉnh khóa XIII, kỳ
họp thứ 13 xem xét quyết định dự tóan năm 2004 của tỉnh K, trong đó có lĩnh
vực về phân bổ nguồn vốn và vốn đầu tư XDCB năm 2004 là 130 đồng.
c. Kế hoạch thực hiện phương án 2
Tại khoản 3 Điều 45 Luật ngân sách quy định:

18


“Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh quyết định dự tóan ngân sách địa phương,
phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau trước 10 tháng 12 năm trước …”.
Tại Điều 48 Luật Ngân sách quy định:
“Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, HĐND về dự toán ngân sách và
phân bổ ngân sách, chính phủ quyết định các giải pháp tổ chức, điều hành ngân
sách Nhà nước và ngân sách Trung ương, UBND quyết định các giải pháp tổ
chức, điều hành ngân sách địa phương và ngân sách cấp mình”.
Căn cứ theo luật định, HĐND tỉnh ra quyết định, quyết định dự tóan ngân
sách tỉnh K và phân bổ ngân sách cấp tỉnh, giao UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện
điều hành. UBND tỉnh chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, phân bổ số vốn đầu tư
XDCB đã được HĐND tỉnh quyết định tới từng dự án công trình theo đúng luật
chế độ quy định.
Sở Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào số vốn đã được HĐND tỉnh phê duyệt

- Nhanh chóng triển khai đưa Luật xây dựng vào cuộc sống hòan thiện cơ
chế, chính sách về quản lý đầu tư và xây dựng, quy chế đấu thầu, hợp đồng kinh tế
giữa chủ đầu tư và nhà thầu, nâng cao năng lực cơ quan tư vấn, giám sát để nhằm
mục đích năng cường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB và hiệu quả kinh tế – xã
hội của công trình đầu tư.

20


- Nằm trong tình hình chung, có yếu tố lịch sử của tình trạng nợ đọng XDCB
từ nguồn vốn NSNN nên tỉnh K không tránh khỏi có tình trạng nợ đọng XDCB, vì
vậy đề nghị Chính phủ rà soát lại một số công trình nợ đọng để có biện pháp xử lý
dứt điểm nếu là nguyên nhân khách quan đề nghị Chính phủ hỗ trợ vốn để thanh
toán hoặc bằng cách chính phủ cho phép Tỉnh K được thực hiện “Đổi đất gán cho
các nhà thầu thông qua hình thức đấu giá sử dụng đất; nhà thầu thống nhất và cam
kết về mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch của tỉnh”. Những giải pháp này
sẽ góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính tiền tệ của tỉnh trong vấn đề nợ đọng
xây dựng cơ bản đảm bảo vốn xây dựng cơ bản năm sau sẽ giành đúng mục đích,
đúng trọng tâm, trọng điểm cho các công trình cần thiết đạt hiệu quả kinh tế – xã
hội.

21


KẾT LUẬN
Đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển, Đảng và Nhà nước
đề cao công cuộc cải cách nền kinh tế, cải cách hành chính từ trung ương đến địa
phương, ở các cấp, các ngành, trong đó bước đầu cải cách phương thức phân bố
ngân sách Nhà nước hàng năm. Bởi vốn ngân sách là vấn đề “nhạy cảm”. Trong
quan niệm cũ đó là “chiếc bánh ngân sách”. Địa phương nào, cơ quan nào cũng

phương. Đảm bảo trong lĩnh vực hoạt động quản lý Nhà nước đúng luật và hiệu
quả.

23


MỤC LỤC

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status