Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
********
BẾ THỊ THẦM
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ PÁC
BÓ - TRƯỜNG HÀ - HÀ QUẢNG - CAO
BẰNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO TỒN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh Thái Học
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Hoàng Nguyễn Bình
Hà Nội - 2011
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày 09 Tháng 05 năm 2011
Người thực hiện
Bế Thị Thầm
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài
1. Mục đích nghiên cứu
2. Đối tượng nghiên cứu
NỘI DUNG
Chương 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI
GIAN NGHIÊN CỨU
1.1. Phương pháp nghiên cứu
1.2. Địa điểm
1.3. Thời gian nghiên cứu
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
lịch
4.4.2. Đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp phải được đào
tạo chuyên nghiệp
4.5. một số giải pháp phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn khu di
tích
4.5.1. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
4.5.2. Xúc tiến công tác quảng bá, tuyên truyền
4.5.3. Mở rộng liên kết với các điểm, các vùng và các hình
thức du lịch
4.5.4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
4.5.5. bảo vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ẢNH
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
cách mạng thì ta nghĩ ngay đến Pác Bó như một suy nghĩ đã đi sâu vào tiềm
thức con người Việt Nam.
Nhân dân ta vẫn có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ
kẻ trồng cây”. Vì vậy mà hoạt động hướng về tổ tiên, luôn được lưu giữ bao
đời. Người ta đến với Pác Bó để tìm về gốc tích cách mạng để hiểu thêm về
Bác - một con người vĩ đại. Tuy nhiên, do quá trình tôn tạo, tu sửa cùng với
cách thức tổ chức hoạt động, tổ chức du lịch chưa hợp lí mà làm mất đi ý
nghĩa, giá trị, vai trò giáo dục, tuyên truyền cách mạng của khu di tích. Chính
vì lí do trên nên tôi chọn đề tài “Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại
khu di tích lịch sử Pác Bó – Trường Hà – Hà Quảng - Cao Bằng và những
giải pháp bảo tồn”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm trả lại nguyên trạng cho khu di tích gốc để thấy được khung
cảnh Pác Bó thời xưa. Với các hiện vật, điểm di tích giống như nguyên gốc
nhất nhằm khơi lại giá trị vật thể, từ đó rút ra giá trị nhân văn.
- Nhằm tìm ra cách tổ chức hoạt động du lịch cội nguồn phù hợp để
khơi dậy giá trị truyền thống cách mạng, học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu hoạt động tham quan du lịch cội nguồn tại khu di tích lịch
sử Pác Bó, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn giá trị và các biện pháp phát
triển du lịch.
- Nghiên cứu các vật thể (Suối Lê Nin, núi Các Mác, hang Cốc Bó…)
và các giá trị phi vật thể để giữ gìn, bảo vệ và phát huy ý nghĩa vai trò tích
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Các khái niệm
2.1.1. Khái niệm du lịch
Thuật ngữ “du lịch” xuất hiện rất sớm và được dùng phổ biến trên toàn
thế giới, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp và với ý nghĩa là đi một vòng. Sau
nó được La Tinh hoá thành tornus rồi thành touriste (tiếng Pháp) tourism
(tiếng Anh). Học giả người Anh Robert Lanquar cho biết “Từ Touriste lần
đầu xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800”.
Trong tiếng việt thuật ngữ “du lịch” được dịch thông qua tiếng Hán:
“Du” có nghĩa là di chuyển, thay đổi vị trí không gian (ví dụ: du canh, du cư,
du học…) bên cạnh đó “du” còn có nghĩa là chơi, đi chơi (ví dụ: chu du, xuân
du, du khách…) còn “lịch” ở đây có nghĩa trải qua, kinh qua, có vốn hiểu biết
rộng (ví dụ: lịch duyệt, lịch lãm…)
Theo từ điển tiếng việt của viện ngôn ngữ 2006 – Nhà xuất bản Đà
Nẵng thì du lịch là đi chơi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở.
Như vậy “du lịch” tìm hiểu theo nghĩa khái quát nhất là họat động đi,
đi chơi để được trải nghiệm, tăng cường hiểu biết và làm phong phú thêm vốn
sống của bản thân.
Đến nay có nhiều định nghĩa về “du lịch”
Tại hội nghị liên hợp quốc về du lịch tại Roma – Italia (21/08 05/09/1963) các chuyên gia đưa ra định nghĩa “Du lịch là tổng hợp các mối
quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc lưu trú của cá
nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước
họ với mục đích hoà bình, nơi đến không phải nơi làm việc của họ”
SVTH:Bế Thị Thầm
lại góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống.
Du lịch về nguồn là một loại hình du lịch mang nhiều ý nghĩa xã hội,
nhân văn sâu sắc, hành trình đó không chỉ đáp ứng được nhu cầu vui chơi,
giải trí, tham quan, khám phá của du khách mà còn mang ý nghĩa tích cực
trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Du lịch về nguồn là một hành trình văn hoá hết sức thiết thực. Đối với
mỗi người “Về nguồn” là về với những gì bản sắc nhất, truyền thống nhất để
lắng đọng và cảm nhận “Khí phách cha ông, hồn thiêng sông núi”, đến với cái
đích “Chân - Thiện - Mỹ” trong cuộc sống hiện đại. Nó sẽ góp phần khơi dậy
mạnh mẽ niềm tự hào về truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng.
2.1.2. Khái niệm về di tích lịch sử
Chúng ta cùng nhau đi phân tích hai từ “Di tích”.
- Di: có nghĩa là còn sót lại, rơi lại, còn lại.
- Tích: một dấu tích nào đó hay một dấu vết.
Vậy di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên
mặt đất có ý nghĩa về văn hoá và lịch sử.
Di tích lịch sử là những bằng chứng, chứng tích mang tính vật chất có
liên quan đến sự hình thành, phát triển tồn tại của một cộng đồng, một tộc
người, một khu vực lãnh thổ hay một giá trị.
Di tích lịch sử của bất kì dân tộc nào trên thế giới cũng có khối lượng
rất lớn để nghiên cứu và khai thác các giá trị do các di tích lịch sử để lại cũng
- Di tích cấp tỉnh: là di tích có giá trị tiêu biểu cho địa phương. Do Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích.
- Di tích cấp quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Do Bộ
trưởng Bộ Văn hoá Thông tin quyết định xếp hạng di tích quốc gia.
- Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của
quốc gia. Do Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc
biệt quyết định việc đề nghị tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của liên
hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào danh mục di sản thế
giới.
Trong trường hợp di tích được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác
định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thì
người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào đó có quyền ra quyết
định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó.
2.1.3. Một số khái niệm khác
- Bảo tồn di tích: là những hoạt động bảo đảm sự tồn tại lâu đời, ổn
định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó.
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
- Bảo quản di tích: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những
tác nhân hủy hoại di tích mà không làm thay đổi những yếu tố vốn có nguyên
gốc của di tích.
- Tu bổ di tích: là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích.
Động cơ du lịch là nhân tố chủ quan khuyến khích mọi người hành
động. Động cơ du lịch chỉ nguyên nhân tâm lý khuyến khích người ta thực
hiện du lịch, đi du lịch nơi nào, thực hiện loại du lịch nào.
b) Các loại động cơ du lịch
Các nhà nghiên cứu du lịch Mỹ Mcintosh, Goeldner và Ritchie cho
rằng có năm động cơ khiến người ta đi du lịch.
- Động cơ về thể chất: thông qua các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi,
điều dưỡng, vui chơi, giải trí, tiêu khiển, vận động để khắc phục sự căng
thẳng, thư giãn sảng khoái về đầu óc, phục hồi sức khỏe.
- Động cơ về văn hóa: thông qua hoạt động du lịch như khám phá và
tìm hiểu phong tục tập quán, nghệ thuật văn hóa, di tích lịch sử, tôn giáo tín
ngưỡng… nhằm thỏa mãn sự ham hiểu biết kiến thức, các loại hình nghệ
thuật, món ăn…
- Động cơ giao tiếp: thông qua hoạt động du lịch để kết bạn, mở rộng
quan hệ, thăm bạn bè người thân và muốn có được những kinh nghiệm, cảm
giác mới lạ, thiết lập được mối quan hệ và củng cố theo hướng bền vững. Đối
với loại động cơ này du lịch là sự trốn tránh khỏi sự đơn điệu trong quan hệ
xã hội thường ngày hoặc vì lí do tinh thần và trách nhiệm xã hội.
- Động cơ về sự khẳng định vị trí, địa vị và kính trọng: thông qua các
hoạt động du lịch như khảo sát khoa học, giao lưu nghệ thuật tham dự hội
nghị…
- Động cơ kinh tế: thông qua hoạt động du lịch như khảo sát thị trường,
tìm kiếm cơ hội đầu tư, tìm kiếm bạn hàng, cơ hội làm ăn…
Trong những động cơ du lịch trên thì du khách đến với khu di tích chủ
yếu thuộc động cơ văn hóa nhằm mục đích hiểu sâu sắc thêm cuộc đời và sự
nghiệp cách mạng của Bác, thấy được những khó khăn về vật chất mà Bác
vẫn sống vì một lí tưởng cao đẹp.
SVTH:Bế Thị Thầm
khám phá và giao lưu xã hội.
2.3. Vấn đề bảo tồn các di tích lịch sử ở một số bảo tàng lớn ở Việt Nam
Ở Việt Nam một số bảo tàng lớn như Bảo tàng cách mạng Việt Nam,
Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng quân đội… Vậy những
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
bảo tàng lớn đó có những hoạt động gì để bảo tồn nét đẹp, nét văn hóa có ý
nghĩa giáo dục thế hệ trẻ. Chúng ta cùng đi tìm hiểu một số bảo tàng lớn sau.
2.3.1. Bảo tàng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt
xuất. Người đã dâng hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Theo nguyện vọng của toàn
thể nhân dân cả nước để tưởng nhớ vị lãnh tụ kính yêu của mình. Đảng và nhà
nước ta quyết định xây dựng công trình bảo tàng Hồ Chí Minh.
Công trình được khánh thành vào ngày 19/05/1990 nhân dịp kỷ niệm
100 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh tại số 19 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà
Nội. Công trình thể hiện lòng biết ơn với Bác và tỏ sự quyết tâm của nhân dân
Việt Nam tiếp tục kế thừa sự nghiệp cách mạng, đoàn kết, phấn đấu độc lập,
dân giàu, nước mạnh, hợp tác và hữu nghị với nhân dân thế giới.
Từ ngày khánh thành bảo tàng đã đón hàng triệu lượt khách trong và
ngoài nước đến tham quan và học tập. Với chức năng nhiệm vụ của một thiết
chế văn hóa, bảo tàng Hồ Chí Minh đã trở thành một trung tâm nghiên cứu,
- Chủ đề 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin và
khẳng định con đường cách mạng Việt Nam (1911 – 1920 ).
- Chủ đề 3: Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh bảo vệ và vận dụng sáng
tạo đường lối của VI Lê Nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa (1920 – 1924 ).
- Chủ đề 4: Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập chính Đảng của giai cấp
công nhân Việt Nam (1924 – 1930).
- Chủ đề 5: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo
cuộc giải phóng dân tộc và cách mạng tháng tám thắng lợi và sáng lập ra nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1930 – 1945 ).
- Chủ đề 6: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo
cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền cách mạng và kháng chiến chống thực
dân Pháp và can thiệp của Mỹ (1946 – 1954 ).
- Chủ đề 7: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và chống Mỹ xâm lược, giải phóng
miền nam thống nhất đất nước (1954 - 1969 ).
- Chủ đề 8: Mãi mãi đi theo con đường của chủ tịch Hồ Chí Minh.
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Những tranh ảnh, tài liệu, bút tích và hiện vật trên đai tiểu sử được gắn
bó chặt chẽ với giải pháp mỹ thuật đa dạng nhằm tăng sức hấp dẫn chú ý của
người xem. Theo vành đai lịch sử, du khách được xem tám tư liệu lịch sử giới
thiệu những hình ảnh sống động của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Kết thúc mỗi chủ đề là những biểu tượng mỹ thuật gợi suy nghĩ về ý
Bảo tàng cách mạng Việt Nam có trụ sở tại số 25 phố Tông Đản, Hoàn
Kiếm, Hà Nội. Ngôi nhà bảo tàng trước năm 1954 là Sở thương chính Đông
Dương do người pháp xây dựng năm 1917.
Đây là bảo tàng đầu tiên của nước ta chính thức mở cửa đón khách vào
ngày mùng 06/01/1959. Khi ra đời tổng kho của bảo tàng có trên một vạn
hiện vật, hình ảnh, tài liệu và văn bản. Giờ đây con số đã tăng lên tám vạn
gồm nhiều sưu tập và bộ sưu tập có giá trị cho việc nghiên cứu khoa học và
xã hội – nhân văn, cho việc tuyên truyền giáo dục truyền thống, bồi dưỡng
niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ trẻ.
Hệ thống trưng bày của bảo tàng sử dụng trên 2.500 hiện vật, hình ảnh,
tư liệu bày trong 29 phòng với diện tích trên 2.000m2 nội dung trưng bày gồm
ba phần:
- Phần thứ nhất: Thời kì đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt
Nam từ năm 1858 – 1945.
- Phần hai: Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ
độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc năm 1945 – 1975.
- Phần ba: Việt Nam trên con đường xây dựng dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ văn minh.
Các phần trưng bày trên đều được sử dụng các hiện vật phù hợp với
từng thời kì khó khăn, gian khổ trong sự nghiệp cách mạng giải phóng đất
nước thống nhất nước nhà.
Bảo tàng cách mạng đã trở thành một trung tâm sử liệu phong phú là
cảm hứng cho các nhà văn hoá sáng tạo.
Trong những năm tới Bảo tàng cách mạng Việt Nam tập trung nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động trưng bày cũng như hoạt động nghiệp vụ
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Chương 3. TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ
PÁC BÓ – CAO BẰNG
3.1. Lịch sử hình thành khu di tích
Ban quản lí di tích Hồ Chí Minh Cao Bằng được thành lập năm 1983
trực thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng. Năm 1990 Ủy ban nhân dân tỉnh
ra quyết định thành lập Ban quản lí khu di tích Pác Bó trực thuộc Ban quản lí
di tích Hồ Chí Minh tại tỉnh Cao Bằng. Cuối năm 1992, Ban quản lí di tích
Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở văn hoá thông tin Cao Bằng và chịu sự chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ của Bảo tàng Hồ
Chí Minh Trung ương .
Ban quản lí di tích Hồ Chí Minh có chức năng nghiên cứu, sưu tầm,
bảo quản, kiểm kê trưng bày và tuyên truyền giáo dục thông qua những tài
liệu hiện vật và các di tích lịch sử có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp hoạt
động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên phạm vi tỉnh Cao Bằng.
Nhiệm vụ của Ban quản lí di tích là sưu tầm kiểm kê, bảo quản tài liệu,
hiện vật và các di tích liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của
Bác để phục vụ cho công tác nghiên cứu và tuyên truyền đối với nhân dân
trong nước và quốc tế.
Tổ chức hướng dẫn khách trong nước và ngoài nước đến tham quan,
nghiên cứu, học tập tại khu di tích lịch sử Pác Bó và một số di tích khác trên
toàn tỉnh, kết hợp với các hình thức tuyên truyền giáo dục khác như: triển lãm
lưu động, tổ chức nói chuyện với chuyên đề chủ tịch Hồ Chí Minh, biên soạn
tài liệu tuyên truyền… nghiên cứu đề tài và thực hiện kế hoạch sưu tầm, bảo
quản, công tác trùng tu, tôn tạo và phát huy tác dụng của các di tích Hồ Chí
núi đá vôi phân nhánh mãnh liệt với đỉnh nhọn tai mèo, ghồ ghề, lởm chởm,
cao thấp, có nhiều hang hốc tự nhiên có phương kéo dài chung hướng Tây bắc
- Đông nam.
Xã có dãy núi Các Mác, hang Pác Bó có ý nghĩa lớn trong lịch sử. Suối
Lê Nin bắt nguồn từ hang Cốc Bó với chiều dài là 12km qua 6 thôn trên địa
bàn xã, cuối cùng suối đổ ra ngã ba Đôn Chương, có chiều rộng trung bình là
12m, độ sâu 2m.
Trong khu di tích có 2 suối là suối Lê Nin và suối Khuổi Nặm.
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Hệ động thực vật ở đây khá phong phú và đa dạng gồm hệ thực vật ở
cạn và hệ thực vật ở nước.
Ở đây cũng có một số loài động vật hoang dã nhưng ít khi nhìn thấy.
nguyên nhân là do trước đây cuộc sống dân cư còn nghèo nên họ săn bắt trái
phép đồng thời cũng do hoạt động du lịch của khách nên động vật di cư đến
nơi ở mới.
* Khí hậu:
Khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm đó là điều kiện tốt cho hoạt động
tham quan và du lịch, nghỉ dưỡng.
Ở nước ta các công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện khí hậu dễ chịu
nhất đối với người Việt Nam với nhiệt độ trung bình là 15 – 23oC.
Khí hậu ở đây mùa hè thường có nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 4 đến
tháng 9 hàng năm. Mùa đông thường từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt
Suối Lê Nin, trước đây đồng bào gọi là Suối Giàng hoặc Dòng Chừng.
Núi Các Mác kéo dài từ ngã ba Khuổi Nặm đến hang Cốc Bó gồm ba ngọn
núi, trước đây dân địa phương gọi là Phia Tào, Phia Nà Cọn, Phia Nà Táng.
Từ khi bác đến đây hoạt động tại Pác Bó đã đặt tên cho dãy núi này là núi Các
Mác và suối Lê Nin.
Trong thời kì hoạt động tại đây dù sống trong điều kiện gian khổ Bác
vẫn luôn tin vào sự thắng lợi của cách mạng với tinh thần lạc quan cách
mạng, trước cảnh núi rừng hùng vĩ, phong thuỷ hữu tình Bác đã làm làm thơ :
“ Non xa xa, Nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê Nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà ”
- Nơi Bác ngồi câu cá
Sau những giờ làm việc căng thẳng, thỉnh thoảng Bác lại ra ngồi câu cá
- Cột mốc 108
Ngày 28/01/1941 Bác cùng với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê
Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc, Đào Thế An vượt qua cột mốc
108 về Pác Bó.
SVTH:Bế Thị Thầm
Lớp: K33A - Sinh
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Theo sử liệu cột mốc 108 được xây dựng vào khoảng năm 1889 sau
hiệp ước Pháp – Thanh năm 1887, Là một trong 314 cột mốc dùng để phân