1
MỤC LỤC
Lời mở đầu...............................................................................................................3
Chương 1. Lý thuyết về khủng hoảng tài chính......................................................4
1.1. Khái niệm về khủng hoảng tài chính:.....................................................................4
1.2. Các dạng khủng hoảng đặc thù:............................................................................4
Chương 2. Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á...................................................6
2.1. Nguyên nhân của cuộc khủng khoảng....................................................................6
2.1.1. Tóm tắt quá trình cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á:.....................................6
2.1.2. Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng:.............................................................7
2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân chủ quan...................................................................................7
2.1.2.2. Nhóm nguyên nhân khách quan:...........................................................................12
2.2. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á ở một số nước:.............13
2.2.1. Thái Lan- ngòi nổ của cuộc khủng hoảng:.......................................................13
2.2.2 Philippines- Nước kế tiếp tuyến lửa..................................................................15
2.2.3 Malaysia.............................................................................................................16
2.2.4. Indonesia...........................................................................................................16
2.2.5. Hồng Kông........................................................................................................17
2.2.6. Hàn Quốc-sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế lớn:..........................................17
2.7 Nhật Bản:..............................................................................................................18
2.3. Tác động của cuộc khủng hoảng:..........................................................................18
2.3.1. Tác động tiêu cực..............................................................................................18
2.3.2. Tác động tích cực:.............................................................................................20
Chương 3. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đến Việt Nam và
những bài học rút ra..............................................................................................22
3.1. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đến Việt Nam:....................22
3.1.1. Tác động tiêu cực:.............................................................................................22
Trong thập kỉ 90, châu Á là tâm điểm của mọi sự chú ý trên thế giới với tốc độ
phát triển thần kì trong suốt 5 năm liền nhưng rồi chững lại vào năm 1996 do sự
tăng trưởng chậm của xuất khẩu và sự suy giảm của thu nhập quốc dân. Những
những nghi ngờ về sức mạnh thực sự của những “con hổ” châu Á trở nên nghiêm
trọng vào năm 1997 khi Đông Á trải qua một cú sốc kinh tế lớn gọi là cuộc khủng
hoảng tài chính Đông Á, bắt nguồn từ Thái Lan, sau đó lan sang Hàn Quốc,
Malaysia, Indonesia, Philipine, Hong Kong và Singapore. Mặc dù được gọi là cơn
khủng hoảng "Đông Á", nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và với
những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ.
Trong sự lây lan kinh hoàng đó, Việt Nam đã gần như “miễn nhiễm”. Nhưng
điều kiện và đặc điểm kinh tế hiện đại của Việt Nam đã khác so với thập kỉ trước.
Đó là sự ra đời của thị trường chứng khoán và sự đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Chúng ta đang dần hòa nhập vào những sân chơi lớn của khu vực và thế
giới bằng việc tham gia vào các tổ chức mậu dịch tự do, mở cửa tài khoản vốn và
tiến hành tự do hóa tài chính. Trong khi đó, sự thua lỗ của các doanh nghiệp nhà
nước, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng, tính cạnh tranh kém của hàng hóa Việt
Nam, và những bất cập trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô vẫn đang là những
vấn đề nhức nhối. Vì vậy, nguy cơ nền kinh tế Việt Nam xảy ra một cuộc khủng
hoảng tương tự trong tương lai là hoàn toàn có thể. Do đó, việc tìm hiểu về cuộc
khủng hoảng tài chính Đông Á và những bài học rút ra cho Việt Nam sau cuộc
khủng hoảng là vô cùng cần thiết để tránh mắc phải những sai lầm đáng tiếc trong
công cuộc “ hóa rồng” của đất nước ta. Đó cũng chính là lý do cho đề tài “Một góc
nhìn về khủng hoảng tài chính Đông Á và những bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam”.
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
5
hàng chủ yếu của ngân hàng vào tình thế khó khăn do thiếu nguồn tài chính để hoạt
động, từ đó dẫn đến việc nền kinh tế bị giảm năng lực sản xuất.
Khủng hoảng tiền tệ: là hiện tượng nền kinh tế không đủ ngoại tệ để thanh
toán các nghĩa vụ nợ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu cả thực tế và giả tạo do đầu cơ,
buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá
nội tệ cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng.
Khủng hoảng kép: xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng
xảy ra đồng thời với nhau.
Khủng hoảng thị trường chứng khoán: xảy ra khi giá chứng khoán biến động
mạnh (“tuột dốc” hay “không thang” quá nhanh), vượt ngoài tầm kiểm soát và do
hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “bán đổ, bán tháo” hay thị trường bị
“đông cứng” vì không có giao dịch, tạo ra sự thâm hụt giữa tiền (chứng khoán) vào
so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹ chứng khoán).
Khủng hoảng cán cân thanh toán (cán cân vãng lai)– thành phần cấu thành
quan trọng nhất của tài khoản quốc gia: khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm
hụt quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân
vãng lai thường xảy ra khi cán cân thương mại (nhập khẩu trừ đi xuất khẩu) bị thâm
hụt hay tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn ngoại tệ vào gây nên thâm hụt nặng nề.
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
sụp đổ dây chuyền của rất nhiều các ngân hàng.
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
7
Tỷ giá hối đoái tăng mạnh sẽ làm nợ ở các doanh nghiệp tính bằng tiền nội địa
sẽ tăng vọt, cùng với việc các ngân hàng, công ty tài chính phá sản sẽ không còn
nguồn tín dụng cho các doanh nghiệp này hoạt động nữa. Các doanh nghiệp nào
hoạt động kém hiệu quá thì sẽ càng sớm bị đẩy đến tình trạng thua lỗ và phá sản.
Khi các doanh nghiệp bị phá sản, ngân hàng, các công ty tài chính khác lại không
thể đòi được nợ, dẫn đến sự phá sản tiếp theo của hàng loạt ngân hàng và công ty tài
chính.
Mặt khác, khi các nước bị khủng hoảng, tỷ giá hối đoái tăng cao làm tăng tính
cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu từ nước đó, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến
những nước áp dụng tỷ giá hối đoái cố định. Điều này làm cho cán cân thương mại
ở những nước đó càng trở nên thâm hụt, nguồn dự trữ ngoại tệ càng thiếu hụt, dẫn
đến khả năng thanh toán của một quốc gia bị đe dọa. Đây là áp lực buộc các nước
này phải phá giá đồng nội tệ để đẩy mạnh xuất khẩu, đảm bảo khả năng thanh toán
của quốc gia. Đây là tác động dây chuyền của việc phá giá nội tệ của một nước đến
các nước khác khi khủng hoảng xảy ra.
2.1.2. Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng:
Giờ đây, khi thế giới nhìn lại những gì đã xảy ra, chúng ta sẽ thấy khó hiểu ở hai
hiện tượng khác nhau: một châu Á hùng mạnh đạt được thành tựu kinh tế như một
huyền thoại và một châu Á yếu ớt khi đột ngột mắc phải “sự truyền nhiễm” của
“dịch khủng hoàng tài chính”. Vậy điều gì đã khiến các nước này trượt khỏi quỹ
Bảng 1.2: Tăng trưởng xuất khẩu ở Đông Á (%)
Vậy câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao trước khi khủng hoảng, chính phủ các
nước lại không lo lắng nhiều về tình trạng thâm hụt này? Lãnh đạo các nước đã đưa
ra lập luận kinh tế hết sức hợp lý rằng sự gia tăng phần lớn thâm hụt của nền kinh tế
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
9
châu Á chủ yếu phản ánh một sự đầu tư cao hơn chứ không phải do tiêu dùng thì
cuối cùng nó sẽ làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế và tăng khả năng hoàn trả
nợ vay. Vì lập luận này, để bù đắp sự thâm hụt tài khoản vãng lai, chính phủ đã tích
cực vay các khoản ngắn hạn của nước ngoài để bù đắp chi tiêu trong nước, tích lũy
tình trạng mất khả năng thanh toán của toàn bộ nền kinh tế, dẫn đến khủng hoảng.
Điều đáng tiếc là phần lớn các khoản vay để chi tiêu lại được đầu tư vào việc
phát triển bất động sản hơn là để cải thiện chất lượng và sức cạnh tranh của hàng
xuất khẩu. Thêm vảo đó, chính phủ các nước này nói chung đã xem tình trạng xuất
khẩu sụt giảm chỉ có tính chu kỳ, cơ bản là do cầu ở Nhật và Châu Âu yếu đi, đồng
đô la lên giá. Họ hy võng cả hai yếu tố này bằng cách nào đó sẽ thay đổi, nhưng hy
vọng đó đã tắt ngấm khi ngọn lửa khủng hoảng bùng lên.
- Sự đánh giá quá cao đồng bản tệ.Trước khủng hoảng, các nước châu Á
luôn giữ cho đồng bản tệ có một tỷ giá tương đối ổn định so với đồng đô la, điều
này đã dẫn đến sự mất giá hoàng loạt của các đồng tiền trong khu vực. Xét về mặt
lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton Woods, có ý nghĩa
tích cực trong việc ổn định hóa đòng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trong điều kiện đồng
nội tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ cấu kinh tế
trong ngắn hạn là rất thấp. Vì vậy, chế độ tỷ giá cố định đã gián tiếp chồng chất
thêm những món nợ ngắn hạn với nước ngoài ở các nước Đông Á.
- Các luồng vốn ngắn hạn đổ vào quá nhiều. Từ năm 1990 đến 1997, lượng
vốn tư nhân chảy vào các nước đang phát triển tăng 5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ
USD. Đông Á là nơi thu hút một lượng lớn dòng vốn này, chiếm tới 60% trong nửa
đầu thập niên 90 (theo NHTG 1998).
Suất sinh lời thấp ở các nước phát triển và sự thần kỳ trong tăng trưởng của
Đông Á là động lực thúc đẩy các dòng vốn di chuyển từ Mỹ, EU, Nhật Bản tới các
nền kinh tế Đông Á. Chênh lệch lãi suất giữa các nền kinh tế Đông Á và các trung
tâm tiền tệ thế giới luôn ở mức dương. Dòng vốn tư nhân càng được thúc đẩy vào
thập niên 90, khi Mỹ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng và sự nới lỏng chính sách
tài chính ở châu Âu. Lãi suất nước ngoài thấp hơn lãi suất nội địa, tỷ giá hối đoái
được cố định rõ ràng là một khuyến khích cho các tổ chức kinh doanh và tài chính
trong nước đi vay vốn nước ngoài. Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ
và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm
các công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân
hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và
nợ không tự bảo hiểm rủi ro. Tâm lý ỷ lại cũng xuất hiện đối với các nhà đầu tư
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
11
nước ngoài. Nhìn vào một nền kinh tế tăng trưởng như vũ bão, lượng vốn đầu tư ồ
ạt chảy vào thì không ai nghĩ đến khả năng không thể đảo nợ của các nước Đông Á
trong giai đoạn này. Từ đây đã xuất hiện sự bất cân xứng thông tin dẫn đến vấn đề
lựa chọn nghịch diễn ra.
12
Á chính là sự sụt giá nhanh chóng của đồng nội tệ, “sự bất cập về tiền tệ” đã làm
cho các khoản nợ ngắn hạn của ngân hàng tính bằng ngoại tệ tăng vọt. Mặt khác,
khi nội tệ trượt giá, các nhà đầu tư sẽ ồ ạt rút vốn khỏi các ngân hàng để chuyển
sang ngoại tệ, lúc này, do sự “bất cập về kì hạn”, ngân hàng sẽ mất khả năng thanh
toán trong ngắn hạn, dẫn đến sụp đổ.
Bên cạnh đó, sự lỏng lẻo trong việc giám sát hoạt động của các ngân hàng
cũng chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng. Để hạn chế sự cạnh tranh
không lành mạnh cũng như hoạt động yếu kém, một số nước đã hạn chế sự thành
lập của các ngân hàng, để đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả.
Chính vì tâm lý khi các ngân hảng có một lượng lợi nhuận ổn định, các ngân hàng
sẽ phát triển mạnh theo đà tăng trưởng kinh tế, họ lại nới lỏng việc điều tiết hoạt
động ngân hàng, dẫn đến việc các ngân hàng cho vay qua mức, cũng như giám sát
nguồn vốn đầu tư, dẫn đến việc hình thành các bong bóng bất động sản. Mặt khác,
khi nền kinh tế đang tăng trưởng rất lạc quan, không ai lại để ý đến sự minh bạch
trong các báo cáo kế toán đầy mập mờ của các ngân hàng. Vì vậy, khi bong bóng
bất động sản vỡ, mọi người mới giật mình trước những khoản nợ kê đọng đã trở
thành gánh nặng khổng lồ cho nền kinh tế.
2.1.2.2. Nhóm nguyên nhân khách quan:
- Sự đầu cơ và rút vốn hàng loạt. Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài
chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt
khỏi các nước châu Á. Khi phát hiện những dấu hiệu suy thoái của hệ thống ngân
hàng- tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường họat động đầu
cơ tiền tệ. Theo nguồn tin nước ngoài thì rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300
quỹ tín dụng tư nhân ở Mỹ, với tài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu
vực này trong 2 tháng 7-8/1997. Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ
tín dụng lớn như Tiger, Orbis, Pumar, Panther và Jaguar. Họ mua đồng Baht sau đó
Peso, Ringgit, Rupiah kể cả SGD ước tính 10-15 tỷ USD để đầu cơ. Đối với các
kém cạnh tranh. Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông
Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ.
2.2. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á ở một
số nước:
2.2.1. Thái Lan- ngòi nổ của cuộc khủng hoảng:
Trước cuộc khủng hoảng Thái Lan có một nền kinh tế dường như rất mạnh, với
tốc độ tăng trưởng ổn định, 7% đến 8% từ năm 1991-1996, lạm phát thấp, ngân
sách chính phủ luôn dư thừa, cán cân thanh toán có thể kiểm soát được, đầu tư tăng
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
14
vọt, tình trạng thất nghiệp hầu như không có. Lúc này, Thái Lan nổi lên như một
“con hổ” đang thỏa sức vẫy vùng ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, bản thân nó
đã tích tụ những mầm mống của căn bệnh làm triệt tiêu hoàn toàn sức đề kháng và
khi vừa trúng mũi tên đầu tiên, nó lập tức bị gục ngã.
Từ năm 1991-1996, đầu tư vào Thái Lan rất cao, hằng năm chiếm 40% GDP.
Bên cạnh đó, hệ số ICOR của nền kinh tế Thái Lan trong thời gian này trung bình là
5,22. Điều này cho thấy vốn đầu tư vào Thái Lan hiệu quả rất kém.
Các doanh nghiệp kinh doanh cũng trở nên kém hiệu quả. Một đặc điểm đặc biệt
ở Thái Lan là trong giai đoạn 1991-1996 đầu tư nước ngoài vào Thái Lan chiếm tỷ
trọng rất nhỏ so với đầu tư tài chính và sử dụng vốn vay ngắn hạn của nước ngoài.
Việc sử dụng gần 90% vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín dụng ngắn hạn
sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty vì phải trả lãi thường xuyên và bằng
ngoại tệ (với tín dụng ngắn hạn). Hậu quả là nếu quản lý kinh doanh không tốt thì
3/1997, các cá nhân và nhà đầu tư đã bắt đầu rút tiền ra khỏi ngân hàng và các công
ty tài chính. Tháng 4/1997, chính phủ phải ra lệnh đóng cửa 16 công ty tài chính,
nâng tổng số công ty bị đóng cửa lên 58/91 công ty cả nước. Để cố định tỷ giá hối
đoái trong điều kiện số lượng mua tăng vọt, chính phủ buộc phải bán ngoại tệ, làm
dự trữ ngoại tệ giảm mạnh.
Thấy trước được nguy cơ chính phủ có thể mất khả năng bán ngoại tệ để duy trì
tỷ giá hối đoái, ngày 2/7/1997, Thủ tướng Thái Lan đã tuyên bố thả nổi tỷ giá, kết
quả là tỷ giá tăng từ 25Baht/USD lên 53Baht/USD (tháng 1/1998). Chỉ số thị trường
chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm
1997. Trong 5 tháng đầu năm 1998, đã có 4000 doanh nghiệp bị phá sản, hàng loạt
các ngân hàng và tổ chức tài chính ngừng hoạt động mà tiêu biểu nhất là sự phá sản
của công ty tài chính lớn nhất Thái Lan-Finance One.
2.2.2 Philippines- Nước kế tiếp tuyến lửa
Khi đồng Baht ở Thái Lan mất giá, các tay đầu cơ tiền tệ đã nhanh chóng quay
sang tấn công các nước láng giềng. Malina đã cố gắng kháng cự sự tấn công vào
đồng Peso bằng cách chi ra hàng trăm triệu đô la để chống đỡ cho đồng Peso trước
khi phải chịu thua và thả nổi đồng peso vào ngày 11/7. Đồng peso cũng bắt đầu rớt
giá không phanh từ 26 peso ăn 1USD xuống còn 40 peso ăn 1 USD vào cuối đợt
khủng hoảng.
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
16
2.2.3 Malaysia
Năm 1997, tài khoản vãng lai ở quốc gia này thâm hụt bằng 6% GDP. Tháng
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
17
Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng
hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị. Giữa năm 1998, Suharto buộc phải
từ chức tổng thống.
2.2.5. Hồng Kông
Từ năm 1983, tỷ giá hối đoái giữa đồng đôla HK và đồng đô la Mỹ được cố định
ở mức 7,8 HKD bằng 1 USD. Đến năm 1997-1998, khi khủng hoảng tài chính Đông
Á xảy ra, các nhà đầu cơ lại tiếp tục tấn công vào đồng HKD. Tháng 10 năm 1997,
đô la HK bị tấn công đầu cơ. Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ đô la
vào thời điểm, nên Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ
đồng tiền của mình. Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ
ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%.
Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hồng Kông nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên
thành 23%. Do dự đoán được việc tăng lãi suất của chính quyền Hồng Kông, các
nhà đầu cơ đã tấn công trên cả 2 mặt trận vào tháng 8 năm 1998. Họ vửa vay tiền
KHD và sau đó bán HKD để mua vào USD, vừa bán khống cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán Hồng Kông. Lý do là khi chính quyền Hồng Kông tăng lãi suất để
bảo vệ tỷ giá, giá chứng khoán sẽ giảm. Do vậy dù không thu được lợi nhuận từ
việc tấn công tiền tệ thì vẫn thu lợi từ việc bán khống cổ phiếu. Điều mà các nhà
đầu cơ không lường trước được là chính quyền Hồng Kông trong nỗ lực chống lại
sự xuống giá, đã dùng tiền dự trữ là 120 tỷ đô Hồng Kông để mua vào các loại
chứng khoán. Đến năm 2001, chính quyền đã bán ra số cổ phiếu này và thu về
khoảng 30 tỷ đô la Hồng Kông. Kết quả cuối cùng là giá cổ phiếu không giảm, các
nhà đầu cơ thất bại trong việc tấn công tỷ giá cũng như bán khống cổ phiếu.
Vượt qua Hàn Quốc, cơn bão khủng hoảng tài chính tiền tệ tràn vào đất nước mặt
trời mọc - Nhật Bản. Một số công ty chứng khoán ở Nhật Bản bị phá sản, hàng ngàn
nguời lao động mất việc và buộc thủ tướng Hashimoto phải từ chức.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Nhật bản khởi đầu bằng việc sụt giá của đồng
yên từ tháng 5/1998 có lúc lên cao 146,5 yên/ USD vào cuối tháng 8/1998 ở mức
145,5 yên/1USD. Tốc độ tăng trưởng chậm một cách đáng nhớ trong năm 1997, từ
năm 5% xuống còn 1,6% và chìm đắm trong suy thoái 1998.
2.3. Tác động của cuộc khủng hoảng:
2.3.1. Tác động tiêu cực
Cơn bão khủng hoảng tài chính Đông Á đã đánh dấu sự kết thúc giai đoạn “phát
triển thần kỳ” của các nước châu Á. Sau khủng hoảng, nền kinh tế khu vực đã bước
vào giai đoạn mới, phát triển ôn hòa và dựa vào sức mình là chính. Sau đó, tăng
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
19
trưởng kinh tế ở đã quay trở lại, nhưng do hậu quả kéo dài của cuộc khủng hoảng,
các nền kinh tế châu Á không thể đạt được tốc độ như trước, những nước bị ảnh
hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng đã không thể “hóa rồng” như hy vọng mà chỉ
có thể là một con hổ vẫy vùng trong khu vực.
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước Đông Á (%).
Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho các nước châu Á ít nhất là 300 tỷ USD,
bằng khoảng 20% GDP của các nước bị khủng hoảng và thiệt hại chung toàn thế
giới khoảng 500 tỷ. Qua đây chúng ta thấy được nhưng tác động có tính chất toàn
8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD,
của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD.
Khủng hoảng kinh tế không những làm giảm mức sống của người lao động (do
lạm phát gia tăng) còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở
Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý chống phương Tây gia
tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền
trung ương của nước này suy yếu.
2.3.2. Tác động tích cực:
Khi nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, mọi người đều phải thừa nhận
rằng ngoài việc gây ra những tác động tiêu cực, nó cũng là điểm dừng để mở ra một
giai đoạn mới nhiều triển vọng hơn.
Thứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt phù hợp với tình hình
cung cầu trên thị trường sẽ giúp các chính phủ giảm thiểu được lượng ngoại tệ can
thiệp để neo giữ một tỷ giá cố định, giúp tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia và về lâu
dài. Với đồng bản tệ rẻ sẻ khuyến khích và tăng khả năng cạnh tranh xuất khẩu, từ
đó cải thiện những cân đối tài chính của đất nước.
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
21
Thứ hai, nhiều nước như Thái lan, Indonesia, Hàn Quốc, Philippin…sẽ nhận
được lượng tín dụng quốc tế chính thức với khối lượng lớn để phục vụ các mục tiêu
cải cách và phát triển kinh tế. Cuộc khủng hoảng giúp định hướng lại và cải thiện cơ
cấu đầu tư, lành mạnh hóa hơn nền tài chính quốc gia, tạo sức ép buộc các chủ đầu
thế giới. Do đó, cũng phải hứng chịu một phần tác động từ cơn bão tài chính năm
1997.
- Về xuất khẩu. Xuất khẩu là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh
tế Việt Nam phát triển. Trong 2 năm 1997-1998, nền kinh tế các nước trong khu
vực bị ảnh hưởng nặng nề sau đợt khủng hoảng, nên cầu ở các nước này giảm
mạnh, vì vậy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Năm 1997,
xuất khẩu của Việt Nam đạt 9,185 triệu USD, tốc độ tăng xuất khẩu là 26% thì đến
năm 1998, xuất khẩu bị chựng lại, chỉ đạt 9,306 triệu USD, đạt tốc độ là 1,9%. Bên
cạnh đó, do đồng nội tệ ở các nước bị giảm giá nên hàng hóa xuất khẩu của họ cũng
giảm linh hoạt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt cả về chất lượng,
cũng như giá cả. Vì vậy, để không bị hất khỏi thị trường khu vực, hàng xuất khẩu
Việt Nam cũng phải giảm giá theo.
Ngoài ra, với tình hình sản xuất khó khăn và chất lượng chưa cao, một đợt hàng
ngoại giá rẻ từ các nước khu vực đã làm tình hình sản xuất ở Việt Nam thêm đình
đốn.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP và lạm phát. Do là một thành viên trong khu
vực chịu khủng hoảng, nên Việt Nam cũng không tránh khỏi sự sụt giảm GDP.
Năm 1997, GDP của Việt Nam còn tăng 8,15%, đến năm 1998 GDP chỉ còn tăng
5,76%, đến năm 1999 chỉ còn tăng 4,77%. Trong thời gian tương ứng, tăng trưởng
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
23
công nghiệp xây dựng và dịch vụ cũng bị giảm (công nghiệp - xây dựng từ 12,62%
xuống 8,33% và 7,68%; dịch vụ từ 7,14% xuống 5,08% và 2,25%). Bên cạnh đó,
Việt Nam cũng bị lây nhiễm lạm phát ở các nước xảy ra khủng hoảng. Tốc độ tăng
cuộc khủng hoảng khu vực đến này, đã có một loạt các chủ trương chính sách và
chương trình mới theo hướng cải cách, cụ thể như Nghị quyết 4 của Trung Ương
Đảng tháng 12/1997, chính thức kêu gọi đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước, thái độ thận trọng hơn của nhà nước khi bảo lãnh vay nợ của các
doanh nghiệp, những cải tiến trong quy định về đầu tư nước ngoài trực tiếp.v.v.
Khả năng đầu tư tài chính từ các nước trong và ngoài khu vực giảm xuống có
nghĩa tốc độ tài trợ của nước ngoài vào Việt Nam sẽ được điều chỉnh cho phù hợp
hơn với tốc độ cải cách thực tế, như vậy giảm tình trạng đầu tư có tính rủi ro cao
hay quá mức cần thiết. Trong tương lai, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chú ý nhiều
hơn tới tính hợp lý của môi trường đầu tư tổng thể và khả năng thương mại của từng
khoản đầu tư cụ thể.
Việc tăng cường sự cạnh tranh giữa các nước trong khu vực để giành được vốn
đầu tư nước ngoài mà giờ đây trở nên khan hiếm hơn cuối cùng sẽ tác dụng thúc
đẩy Việt Nam tiến hành các biện pháp cải cách cụ thể hơn nhằm thu hút được một
phần đầu tư nước ngoài này và tránh bị tụt hậu quá nhiều so với các nước khác
trong khu vực.
3.2. Vì sao Việt Nam không chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc
khủng hoảng:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong những năm gần đây chủ yếu dựa
vào xuất khẩu và vốn nước ngoài (FDI và ODA), nay các nguồn này đang có chiều
hướng giảm sút. Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trong nước thấp, bởi vậy sẽ dễ gây ra
những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế.
Tiểu luận môn học:
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
25
Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ