BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN CẢNH TRÍ
ĐỀ TÀI :
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ
CHỦNG NẤM SỢI THƯỘC HAI CHI
TRICHODERMA VÀ FUSARIUM TỪ RỪNG NGẬP
MẶN CẦN GIỜ - TP . HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
TP.HỒ CHÍ MINH ,THÁNG 8 - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Thanh Thủy, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở giáo dục Đào tạo Bình Dương, ban Giám đốc cùng toàn thể giáo viên
Trung tâm GDTX – KT- HN Phú Giáo – Bình Dương đã động viên, giúp đỡ trong quá trình học.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy, quý cô trong khoa Sinh học, các học viên cao học K17 và K18,
đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Biền Văn Minh chủ nhiệm khoa SP-KTNL Đại học Sư phạm Huế đã
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong đại gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tp. HCM, tháng 8 năm 2010
Nguyễn Cảnh Trí
Nấm sợi
HST
Hệ sinh thái
VK
Vi khuẩn
KS
Kháng sinh
TV
Thực vật
ĐV
Động vật
PHẦN I : MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái đặc biệt chỉ có ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới, có nhiều tác
dụng trong bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Nhờ những đặc trưng riêng như tầng tán dày, hệ thống rễ chằng chịt... rừng ngập mặn được đánh giá là
một “bức tường xanh” vững chắc chống gió bão, sóng thần, xói lở, làm sạch môi trường ven biển, hạn
chế xâm nhập mặn, bảo vệ nước ngầm. Ngoài ra, RNM còn tích lũy carbon, hấp thụ và làm giảm khí
+ Phân lập các chủng NS từ RNM Cần Giờ.
+ Nghiên cứu đặc điểm phân loại để chọn ra các chủng thuộc hai chi Trichoderma và Fusarium.
+ Nhận định về sự phân bố của hai chi Trichoderma và Fusarium ở RNM Cần Giờ .
+ Khảo sát một số đặc điểm sinh học của các chủng NS phân lập được của hai chi Trichoderma
và Fusarium.
+ Khảo sát ảnh hưởng của độ mặn lên sự ST, khả năng sinh enzim ngoại bào và khả năng đối
kháng của một số chủng có đặc điểm sinh học nổi bật.
+ Lựa chọn địa điểm và thời gian nghiên cứu
PHẦN II : NỘI DUNG
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
1.1.
Tổng quan về rừng ngập mặn Cần Giờ
1.1.1 Vị trí địa lí
Khu dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ được hình thành ở hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn nằm
ở cửa ngõ Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh tọa độ: 10°22’ – 10°40’ độ vĩ Bắc và 106°46’ – 107°01’
kinh độ Đông, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70km.
Vị trí địa lí khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ:
-
Phía Tây giáp tỉnh Tiền Giang và Long An
-
Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai
-
83,4mm/tháng).
Lượng mưa :
Độ ẩm ở Cần Giờ rất cao nhưng lượng mưa lại thấp so với các vùng trong thành phố Hồ Chí
Minh, lượng mưa trung bình hàng năm ở Cần Giờ từ 1300mm – 1400mm. Lượng mưa phân bố không
đều từ phía Nam lên phía Bắc và từ phía Đông sang phía Tây.
Gió
Cần Giờ chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính
- Gió Nam- Tây Nam, xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10 trùng với mùa mưa, sức gió mạnh nhất
thường vào tháng 7 và tháng 8.
- Gió mùa Bắc – Đông Bắc , xuất hiện tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trùng với mùa khô, sức gió
mạnh nhất vào thành 2 và tháng 3[3].
Chế độ thủy văn
RNM Cần Giờ nằm trong vùng chế độ bán nhật triều không đều ( hai lần nước lớn và hai lần nước
ròng trong ngày ). Biên độ triều khoảng 2m khi triều trung bình và 4m khi triều cường. Theo quan sát,
hai đỉnh triều thường bằng nhau nhưng hai chân triều lệch nhau.
Biên độ triều cực đại trong RNM từ 4,0 – 4,2m vào loại cao nhất quan sát thấy tại Việt Nam. Biên
độ triều có xu hướng giảm dần từ phía Nam tiếp giáp với biển Đông. Thời gian có biên độ triều lớn
nhất thường từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, với biên độ từ 3,6 - 4,0 m ở vùng phía Nam và 2,8 – 3,3m
ở vùng phía Bắc Cần Giờ.
Đỉnh triều cao nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 10 và tháng 11, thấp nhất vào tháng 4
và tháng 5. Cần Giờ chịu chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày xuất hiện hai lần nước lớn và hai
lần nước ròng. Theo âm lịch thì hàng tháng có hai kỳ triều cường và hai kỳ triều kém. Biên độ trong
thời kỳ triều cường từ 3 – 4m, trong thời kỳ triều kém từ 1,5 – 2m. Theo âm lịch vào các ngày 29, 30,1,
2, 3 và các ngày 14, 15, 16, 17, 18 mỗi ngày có hai con nước lớn ngập toàn bộ RNM Cần Giờ khi triều
cường và có 2 ngày thủy triều thấp nhất trong tháng là ngày 8 và ngày 25 âm lịch [3].
Độ mặn
Qua các số liệu đo độ mặn từ năm 1997 đến năm 2000, cho thấy độ mặn lớn nhất khi triều cường
và nhỏ nhất khi triều kém. Diễn biến độ mặn phụ thuộc vào sự kết hợp giữa thủy triều ở biển Đông và
%. Đất đang hình thành chưa ổn định, nhảo toàn phẩu diện, giàu mùn, đất mặn nhiều, vùng này Đước
phát triển tốt.
+ Vùng đất mặn phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn nông, nhiều hữu cơ, ngập mặn theo con nước có
diện tích 4.780 ha, phân bố chủ yếu theo thềm lòng chảo, đầm lầy ngập mặn, có độ cao khoảng 1m. Đất
sét và thịt chiếm 94 – 95%, tầng mặt đất chặt và cứng.
+ Vùng đất phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn sâu, nhiều cát, ngập mặn theo con nước phân bố ở các
giồng cát của xã Long Hòa, cát chiếm ưu thế từ 65 -80%
+ Đất than bùn, phèn tiềm tàng có diện tích 210 ha phân bố ở An Nghĩa, tiểu khu 5, tiểu khu 9, cù
lao Phú Lợi, bên bờ vịnh Gành Rái, Thiềng Liềng, Ngã Bảy. Than bùn chất lượng kém, đất chua vừa,
độ mặn cao [3].
1.1.4 Động vật và thực vật
Về thực vật :
Việc nghiên cứu thực vật trong RNM Cần Giờ đã được Viên Ngọc Nam và cộng sự thực hiện năm
1990 và bổ sung năm 1997 đã thống kê được 159 loài thuộc 79 họ trong đó :
Loài cây thực sự ngập mặn : 36 loài thuộc 15 họ
Loài cây chịu mặn : 33 loài thuộc 19 họ
Loài cây trên đất cao : 90 loài 42 họ
Những loại cây trồng ở đây là Đước ( Rhizophora apiculata), Trang ( Kendelia candel), Dà vôi (
Ceriops tagal), Dà quánh ( Ceriops decandra), Gõ biển ( Intsia bijuga), Tra ( Thespesia polulnea), Vẹt
đen ( Bruguiera sexangula)…Trong đó có 3 loài trồng nhiều nhất là Đước, Dà vôi và Cóc trắng
Các quần xã tự nhiên đại diện
Quần xã Bần chua, Mấn
Quần xã Mấn, Chà là, Gõ biển
Quần xã Ráng, Chà là, Tam mộc Nam, Lức
Quần xã Cóc kèn, Ô rô
Quần xã Đước, Dà, Mấm…[3].
Về động vật và thủy sinh vật
RNM Cần Giờ với hệ thống sông rạch chằng chịt, các bãi bồi, ao đầm nhận nước ngọt từ sông Sài
Gòn, sông Đồng Nai giàu chất dinh dưỡng tạo điều kiện cho các loài thủy sinh vật có nguồn gốc biển,
ta đã xác định được loài vi khuẩn Cyanobacteria có khả năng khử mặn nước biển với độ mặn 250g/l,
trong điều kiện phòng thí nghiệm. Các vi khuẩn cyanobacterium, Phormidium tunue là những hứa hẹn
cho việc khử muối (Balasubramanian và Kathiresan, 1999) [44].
Nấm
Khu hệ nấm trong RNM rất đa dạng, phong phú, phân bố trong mọi cơ chất của RNM, phần lớn
là vi nấm. Cùng với vi khuẩn chúng góp phần phân hủy nhanh các hợp chất ở lớp đất mặt như tinh bột,
xenlulose, pectin, gelatin, casein, kitin có trong xác ĐV, Thực vật. Một số hợp chất phức tạp hơn như
cacboxin methyl xenlulôzơ, các chất lighnoxenlulose ở các mức độ khác nhau được khoáng hóa thành
xenlulose, amylase, proteinase, kitinase nhờ hệ enzym ngoại bào.
Mai Thị Hằng đã nghiên cứu về tính đa dạng và vai trò của nhóm NS phân lập từ RNM ở hai tỉnh
Nam Định và Thái Bình gồm các chi : Penicillum, Paelomyces, Oomyces, Mucor, Cunninghamela,
Aspergillus, Cuvularia, Trichoderma, Acremonia, Cladosporium, Sepedonium, Ampelomyces,
Pullularia,
Geotrichum,
Monilia,
Fusarium,
Glyocladium,
Chalara,
Alternaria,
Eurotium,
đến 0,9 tỷ đồng[3].
Cung cấp nguồn thủy hải sản
Số liệu thống kê về thủy sản tại Cần Giờ từ năm 1978 đết hết năn 1998 cho thấy trung bình hàng
năm thu hoạch được 15 000 tấn , với 75 % thuộc về hộ gia đình còn 25% thuộc về các xí nghiệp, nông
trường và các đơn vị tập thể khác. Cơ cấu sản phẩm 42% cá, 24 % tôm, 9% cua, ghẹ, 25% hai mãnh vỏ
( ngao, sò, hàu…). Tại Cần Giờ, nguồn lợi thủy sản chủ yếu được đánh bắt nội địa. Theo số liệu thống
kê của cơ quan quản lý thủy sản huyện Cần Giờ năm 2004, giá trị sản phẩm hàng năm từ nguồn lợi
thủy sản lên đến 75 tỷ đồng [3].
Điều hòa khí hậu, tạo ra oxy
RNM là một hệ sinh thái đặc biệt và hiếm có mà VN là một trong những quốc gia may mắn được
thiên nhiên ban tặng. RNM chỉ có ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới và có nhiều tác dụng trong bảo vệ
MT, đặc biệt là trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nhờ những đặc trưng riêng
như tầng tán dày, hệ thống rễ chằng chịt... RNM được đánh giá là một “bức tường xanh” vững chắc
chống gió bão, sóng thần, xói lở, làm sạch MT ven biển, hạn chế xâm nhập mặn, bảo vệ nước ngầm,
tích lũy carbon, hấp thụ, làm giảm khí CO2 sinh khí O2, ngưng tụ bụi, làm giảm tác hại của bụi, làm
giảm tiếng ồn,…
RNM Cần Giờ có vị trí đặc biệt của thành phố Hồ Chí Minh, do đó có tác dụng phòng hộ, tham
gia bảo vệ MT cho thành phố với ý nghĩa thực sự quan trọng. Với diện tích hơn 30 000 ha, RNM Cần
Giờ có ý nhĩa là “lá phổi “, là “quả thận “của thành phố này. Giá trị cao nhất của RNM Cần Giờ là bảo
tồn sinh quyển cho toàn thành phố và các vùng kế cận, cụ thể là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt
Nam ( như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu) [61].
1.2 Tổng quan về nấm sợi
Đa số NS có hình sợi, NS có vách ngăn (đa bào) hay không có ngăn vách (đơn bào). NS thường
là một ống hình trụ dài có kích thước lớn nhỏ khác nhau tùy loài. Đường kính của sợi nấm thường từ 35µm, có khi đến 10µm, thậm chí đến 1mm. Chiều dài của sợi nấm có thể tới vài chục cm. Các sợi nấm
phát triển chiều dài theo kiểu tăng trưởng ở ngọn. Các sợi nấm có thể phân nhánh và các nhánh có thể
lại phân nhánh liên tiếp tạo thành hệ sợi nấm (mycelium) khí sinh xù xì như bông. Trên môi trường đặc
và trên một số cơ chất trong tự nhiên, bào tử nấm, tế bào nấm hoặc một đoạn sợi nấm có thể phát triển
thành một hệ sợi nấm có hình dạng nhất định gọi là khuẩn lạc nấm [58].
Đa số NS nơi đây đều có khả năng chịu mặn cao. Chúng sinh trưởng ở nồng độ muối từ 2 % - 20 %,
thậm chí một số NS còn có thể sinh trưởng ở nồng độ muối đến 30%. Đây là một đặc điểm đặc trưng
cho sinh vật của hệ sinh thái RNM [47],[48].
1.3 Đặc điểm Trichoderma
1.3.1 Vị trí phân loại Trichoderma
Trichoderma là một trong những nhóm vi nấm gây nhiều khó khăn cho công tác phân loại do
còn nhiều đặc điểm chưa được biết đầy đủ. Persoon ex Gay ( 1801 ) phân loại Trichoderma như sau [
50].
Giới
Fungi
Ngành
Ascomycota
Lớp
Euascomycetes
Bộ
Hypocreales
Họ
Hypocreaceae
Giống
Trichoderma là nhóm NS được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trong lĩnh vực enzym. Các
chủng Trichoderma có khả năng tổng hợp các enzym ngoại bào như: amylase, protease, cellulase,
chitinase,… Trong nhóm enzym ngoại bào từ Trichoderma thì enzym cellulase được nghiên cứu và sử
dụng nhiều hơn. Enzym cellulase được sinh ra từ các chủng Trichoderma reesei và Trichoderma
harzianum có hoạt tính mạnh hơn cả.
Cellulase: là enzym ngoại bào có khả năng cắt đứt liên kết 1- 4 β-glucosid của phân tử cellulose
để tạo thành các đơn phân glucose. Cellulose là thành phần chủ yếu trong xác TV nên enzym này có
vai trò quan trọng trong việc phân giải những hợp chất hữu cơ tồn đọng trong MT. Cũng nhờ khả năng
phân giải cellulose mà enzym này được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực như sản xuất thức ăn gia
súc, công nghiệp thực phẩm. Những NS có khả năng phân giải cellulose là các nấm thuộc chi
Aspergillus ( A. niger, A. flavus, A. oryzae….), Trichoderma (T. reesei, T. harzianum…).
Amylase: là enzym thủy phân tinh bột và những chất có cấu trúc tương tự thành đường. Vì tinh
bột cũng là một trong những sản phẩm chủ yếu của TV nên vai trò của amylase cũng giữ một vị trí hết
sức quan trọng trong trong việc phân giải các sản phẩm với thành phần chủ yếu là tinh bột và góp phần
trong việc làm sạch MT. Những nấm sợi có khả năng phân giải mạnh tinh bột là A. candidus, A.
awamori…. Cũng như cellulase, dựa vào đặc tính phân giải mạnh tinh bột mà amylase được ứng dụng
nhiều trong lĩnh vực sản xuất rượu, bia, bánh mì,..[10].
Protease: là các enzym thủy phân liên kết peptid trong các polypeptid tạo thành các polypeptid
chuỗi ngắn, các dipeptid hay các axit amin. Trong tự nhiên, enzym này có tác dụng khoáng hóa, phân
giải các hợp chất hữu cơ có bản chất protein trong xác động thực vật và SV nói chung thành các hợp
chất đơn giản và cuối cùng thành các phân tử vô cơ. Con người đã ứng dụng enzym này trong các lĩnh
vực của đời sống như công nghiệp thịt, da, tơ tằm…. nhằm tận dụng khả năng phân giải protein của
chúng cũng như tận dụng những sản phẩm từ quá trình phân giải đó. Những NS có khả năng sinh
protease mạnh là nhóm mốc vàng (A. oryzae, A. flavus, A. fumigatus…) và nhóm mốc đen (A. niger, A.
.awamori, A. .usamii…)
Pectinase: là enzym xúc tác quá trình phân giải pectin thành các hợp chất đơn giản như
galacturonic, galactose, metanol…..được ứng dụng trong sản xuất nước quả, rượu vang, hoặc trong sản
xuất cà phê hòa tan, chế biến đay gai,... Những NS có khả năng sinh pectinase cao được chú ý là
thương mại hóa trong việc sản xuất các cellulase và các enzym khác phân hủy các polysaccharide
phức tạp. Nhờ vậy chúng thường được sử dụng trong thực phẩm và ngành dệt cho các mục đích
tương tự.
Chất kiểm soát sinh học
Hiện nay loài nấm này đã được sử dụng một cách hợp pháp cũng như không được đăng ký
trong việc kiểm soát bệnh trên thực vật. Các chế phẩm nấm Trichoderma được sản xuất và sử dụng
như là chất kiểm soát sinh học một cách có hiệu quả. Hình thức sử dụng dưới dạng chế phẩm riêng
biệt hoặc được phối trộn vào phân hữu cơ để bón cho cây trồng vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây
vừa tăng khả năng kháng bệnh của cây[45],[52].
Kích thích sự tăng trưởng của cây trồng
Những lợi ích mà chi NS này mang lại đã được biết đến từ nhiều năm qua bao gồm việc kích
thích sự tăng trưởng và phát triển của thực vật do việc kích thích sự hình thành nhiều hơn và phát
triển mạnh hơn của bộ rễ so với thông thường. Những cơ chế giải thích cho các hiện tượng này chỉ
mới được hiểu rõ ràng hơn trong thời gian gần đây. Hiện nay, một giống nấm Trichoderma đã được
phát hiện là chúng có khả năng gia tăng số lượng rễ mọc sâu (sâu hơn 1 m dưới mặt đất). Những rễ
sâu này giúp các loài cây như Bắp hay cây Cảnh có khả năng chịu được hạn hán. Một khả năng có
lẽ đáng chú ý nhất là những cây bắp có sự hiện diện của nấm Trichoderma dòng T22 ở rễ có nhu
cầu về đạm thấp hơn đến 40% so với những cây không có sự hiện diện của loài nấm này ở rễ [52].
Nguồn gen để sử dụng trong chuyển gen
Nhiều VSV kiểm soát sinh học đều có chứa một số lượng lớn gen mã hoá các sản phẩm có
hoạt tính cần thiết sử dụng trong kiểm soát sinh học. Nhiều gen có nguồn gốc từ Trichoderma đã
được tạo dòng và có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong chuyển gen để tạo ra cây có khả năng kháng
được nhiều bệnh. Chưa có gen nào được thương mại hóa, tuy nhiên có một số gen hiện đang được
nghiên cứu và phát triển [61].
Khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Các kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long,
Công ty thuốc sát trùng Việt Nam, Viện Sinh học Nhiệt đới đã cho thấy hiệu quả rất rõ ràng của
nấm Trichoderma trên một số cây trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Các
Lớp:
Hyphomycetes
Bộ:
Hyphales (Moniliales)
Họ:
Hypocreaceae
Chi:
Fusarium
1955: Bilai đề nghị một hệ thống gồm 26 loài tập hợp trong 9 nhóm loài. 1977: Bilai bổ sung
vào chi này thêm 5 loài nữa.
1971: Booth bổ sung thêm các đặc điểm của bộ máy mang bào tử trần của nhiều loài và căn cứ
vào đặc điểm này cùng với các đặc điểm hình thái và nuôi cấy khác, đã đề nghị 12 nhóm loài với 44
loài và được chấp nhận hoặc mô tả mới của chi Fusarium.
Theo một quan điểm phân loại khác về chi Fusarium, Snyder và Hansen (1940), sau đó
Toussoun và Nelson (1968), Messiaen và Cassini (1968), ngoài các đặc điểm khác, dùng đặc điểm của
vách ngăn gốc bào tử trần lớn là một trong các đặc điểm cơ bản, đã tập hợp các loài của Wollenweber
và Reinking (1935) vào 9 loài và một số thứ.
Về chi Fusarium ở 3 nước Đông Dương, Bugnicourt (1939) đã phát hiện và mô tả 29 loài và thứ
ký sinh trên 112 loài cây Hạt kín và 3 loài côn trùng. Các loài và thứ này đã được kiểm tra lại và đựợc
xác định là thuộc 11 loài và thứ còn giá trị, 18 nhóm phân loại khác đã trở thành các tên đồng nghĩa
(Bùi Xuân Đồng 1986). Sau Burnicourt, một số loài và thứ khác thuộc chi Fusarium đã được phát hiện
và mô tả. [9]
chế miễn dịch và là nhân tố làm giảm đáng kể năng suất.[31],[49]
Zearalenone là độc tố do nấm Fusarium roseum sinh ra, được phân lập năm 1961, còn được gọi
là ZON, Zea, hay ZEN. Sau đó, người ta cũng tìm thấy trên bắp và lúa mì bị mốc có 4 loại Fusarium
khác cũng sinh ra độc tố này (Fusarium moniliforme, F. tricinctum, F. oxysporum và F.
sporotrichioides). Loại độc tố này gây tổn thất lớn cho chăn nuôi lợn , gây động dục giả là ảnh hưởng
chủ yếu được thấy ở cơ quan sinh sản của vật nuôi. Triệu chứng đối với gia súc cái là phù nề và sưng
tấy âm đạo, sưng tuyến vú, ảnh hưởng tới khả năng sinh sản hay thậm chí là vô sinh. Đối với gia súc
đực thì đáng chú ý nhất là chất lượng tinh trùng giảm.[31]
Fumonisins là độc tố được tạo ra từ nấm Fusarium verticillioides (syn., moniliforme) và
Fusarium proliferatum. Về mặt bản chất được coi là một chất chịu nhiệt và vẫn chưa tìm thấy một biện
pháp nào để làm giảm độc tố của nó. Theo Scott, 1993 thì độc tố Fumonisins này liên quan tới bệnh
ung thư thực quản của con người sống ở phía Bắc Châu Phi và nó cũng có thể gây ra bệnh ung thư gan
ở chuột nhắt và bệnh phù nề phổi. Theo Placinta và cộng sự năm 1999 thì việc nhiễm độc tố của ngô và
thức ăn gia súc khác ở các Châu: Châu Âu, Châu Phi, Châu Á, Bắc Mỹ đã được thông báo trong những
năm gần đây, nó đã gây lên hậu quả lớn nhất trong số các chủng Fumonisins là chủng FB1.[31]
Bảng 1: Loài của Fusarium và độc tố do chúng sinh ra
Loài của Fusarium
Độc tố
F. culmorum; F.graminearum; F.sporotrichioides
Deoxynivalenol
F. sporotrichioides; F.poae
T-2 toxin
1.5. Tình hình nghiên cứu Trichoderma và Fusarium từ rừng ngập mặn
* Tình hình nghiên cứu nấm sợi
Ở Mỹ , năm 1983 phòng thí nhiệm của quân đội Mỹ ở Natik và Trường Đại học Rutgers sử
dụng Trichoderma viride và chọn lọc được biến chủng QM9414 có khả năng sinh cellulase cao ( theo
Rehm,1893 ) [38].
Năm 1998, Yu đã nuôi cấy Trichoderma reesei Rut 30 trong MT chứa 5% bột cellulase và 1%
cám mì, thu được hoạt lực CMCase là 232,4 IU/g [33].
Năm 2003, khoa Sinh Lý Thực vật Trường Đại học California tuyển chọn chủng nấm
Trichoderma harzianum có khả năng phân giải DDT, endosulfan, pentachloronitrobenzen và
pentachorophenol. Nấm này phân giải endosulfan trong nhiều điều kiện dinh dưỡng khác nhau trong
suốt quá trình sống của nó
Năm 2004, Trần Thanh Phong khảo sát khả năng sinh tổng hợp enzim cellulase từ Trichoderma
reesei và Aspergillus niger trên MT lên men bán rắn.
Năm 2007, Trương Phước Thiên Hoàng Trường Đại học KHTN Thành Phố Hồ Chí Minh, khảo
sát hoạt tính một số hệ enzim thủy phân amylase, cellulase, pectinase thu từ 3 chủng Trichoderma
phân lập từ miền Đông Nam Bộ.
* Tình hình nghiên cứu NS từ rừng ngập mặn
Cho đến nay, trên thế giới và Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, phân lập và phân
loại NS trong hệ sinh thái RNM. Trước đây người ta cho rằng điều kiện môi trường RNM quá khắc
nghiệt không thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của NS .
Năm 1997, theo Tadayoshi và cộng sự tìm thấy các chủng nấm sợi ở RNM Thái Lan và Nhật
Bản thuộc chi Trihoderma có nhiều ở thân cây [45].
Ở Việt Nam, cho đến năm 2000 Mai Thị Hằng và cộng sự mới thông bào về nấm sợi RNM.
Năm 2002, tác giả này tiếp tục nghiên cứu sự đa dạng, khả năng diệt côn trùng và phân giải
cacbuahydro của nấm sợi từ RNM ở tỉnh Nam Định và Thái Bình. Riêng ở RNM Cần Giờ chỉ một số ít
tác giả nghiên cứu.[18]
Năm 2000, Phan Thanh Phương, khảo sát khả năng sinh kháng sinh của các chủng nấm sợi phân
lập từ RNM Cần Giờ TP Hồ Chí Minh.
Các hợp chất khác: Yeast extract (Mỹ), CMC (Nhật), Maelt extract (Đức), pepton (Anh), kitin,
casein, Tween-80 ( Trung Quốc), dầu DO , Agar ( Việt Nam).
-
Chất kháng sinh Chloramphenycol (Ấn Độ)
2.1.3. Thiết bị, dụng cụ:
-
Nồi hấp áp lực Huxlex (Đài Loan)
-
Tủ sấy Memmert (Đức)
-
Kính hiển vi quang học, máy chụp hình kĩ thuật số Olympus 5.1 (Nhật Bản)
-
Máy đo pH Pometer KL-009 (II) (Trung Quốc)
-
Máy li tâm Rotina ( Đức)
-
1,5g
MgSO4.7H2O
:
0,5g
KCl
:
0,5g
FeSO4.7H2O
:
0,01g (vêt)
Glucoza
:
20 g
Agar
Nước biển
:
1000ml
PH = 5,5-6,0. khử trùng 1atm/30 phút.
- MT3 : MT Potato glucose agar ( PGA) - định loại nấm sợi [5], [ 12].
Nước chiết khoai tây :
200ml
Glucoza
:
20 g
Agar
:
20 g
Nước biển
:
1000ml
:
1000 ml
PH = 5,5-6,0. khử trùng 1atm/30 phút
- MT5 : MT thử hoạt tính cellulase[2], [5].
NaNO3
:
3,5 g
K2HPO4
:
1,5g