Ứng phó của nông dân với quá trình đô thị hóa ở xã Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THẢO

ỨNG PHÓ CỦA NÔNG DÂN VỚI QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA Ở XÃ LAM HẠ, THÀNH PHỐ PHỦ LÝ,
TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Dân tộc học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THẢO

ỨNG PHÓ CỦA NÔNG DÂN VỚI QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA Ở XÃ LAM HẠ, THÀNH PHỐ PHỦ LÝ,
TỈNH HÀ NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học
Mã số: 60.31.03.10

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Văn Sửu


Đặc biệt, Luận văn của tôi không thể thực hiện được nếu không có sự giúp
đỡ quý báu của chính quyền và nhân dân xã Lam Hạ, nơi tôi chọn làm địa bàn
nghiên cứu và cũng chính là mảnh đất nơi tôi sinh ra và lớn lên. Tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến các chú, các bác làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Lam Hạ và những
người dân đã giúp tôi thu thập tài liệu điền dã dân tộc học để thực hiện luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn này khó tránh khỏi sai sót,
mong được các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè góp ý !.
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
Nguyễn Thị Thảo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................4
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................5
3. Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................6
6. Cấu trúc của Luận văn.............................................................................................7
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT ..........................8
1.1. Tổng quan tài liệu .................................................................................................8
1.2. Cơ sở lý thuyết ...................................................................................................16
1.2.1. Một số khái niệm then chốt .............................................................................16
1.2.2. Khung sinh kế bền vững ..................................................................................21
Chƣơng 2: XÃ LAM HẠ TRƢỚC QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA .......................24
2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.......................................................................24
2.1.1. Vị trí địa lý.......................................................................................................24
2.1.2. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................25
2.2. Lịch sử hình thành và sự thay đổi địa giới hành chính ......................................27
2.2.1. Lịch sử hình thành ...........................................................................................27

PHỤ LỤC ẢNH .....................................................................................................100

2


DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
Bảng 3.1: Bảng số liệu diện tích đất tự nhiên và dân số thành phố Phủ Lý trước và
sau khi mở rộng ......................................................................................................... 40
Bảng 3.2: Tình hình biến động sử dụng đất từ năm 2001 đến năm 2012 ................. 43
Bảng 3.3: Thống kê một số dự án thu hồi trên địa bàn xã Lam Hạ ......................... 44
Bảng 3.4: Cơ cấu, diện tích một số loại đất chính quy hoạch đến năm 2020 xã Lam
Hạ thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam ........................................................................... 49

BIỂU
Biểu đồ 2.1: Biều đồ cơ cấu đất trồng lúa của xã Lam Hạ so với các xã khác của
thành phố Phủ Lý ......................................................................................................26
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ biến động diện tích sử dụng một số loại đất từ năm 2001 đến
năm 2012 ...................................................................................................................43
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất quy hoạch xã Lam Hạ đến năm 2020 ......50

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đô thị hóa đã và đang là một xu hướng tất yếu của sự phát triển của toàn cầu và
khu vực. Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa đã diễn ra từ lâu, nhưng được thúc đẩy mạnh
mẽ kể từ khi đất nước thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế trong
khi tiếp tục xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa1

vậy tất yếu đặt ra một vấn đề quan trọng là làm thế nào để đảm bảo điều kiện sống
và sinh kế cho nông dân sau khi không còn hay còn rất ít đất nông nghiệp.
Xã Lam Hạ là một địa phương có nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ
yếu, đã và đang đứng trước quá trình đô thị hóa. Trong bối cảnh đó, người nông dân
ở đây phải đối mặt với một vấn đề quan trọng nhất là đất nông nghiệp của các hộ
gia đình đang ngày càng bị thu hẹp, thậm chí là không còn đất nông nghiệp để sản
xuất nông nghiệp. Thực tế này đặt những người nông dân ở một trạng thái vừa phấn
khởi, hy vọng với những vận hội mới, song cũng vừa hoang mang, dò tìm cách tạo
ra một cách mưu sinh mới có thể thay thế cho cách mưu sinh cũ, đồng thời thích
ứng được với không gian sống mới. Xuất phát từ lý do đó, tôi quyết định lựa chọn
đề tài nghiên cứu: “Ứng phó của nông dân với quá trình đô thị hóa ở xã Lam Hạ,
thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn: “Ứng phó của nông dân với quá trình đô thị hóa ở xã Lam Hạ,
thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam” tìm hiểu, phân tích và lý giải việc người dân ở đây
tiếp cận, sử dụng sử dụng các loại vốn trong Khung sinh kế bền vững (nhất là vốn
tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người) để ứng phó với các thách thức và tận dụng các
cơ hội do đô thị hóa mang lại để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Những nhóm câu hỏi quan trọng đặt ra trong Luận văn là:
1. Người nông dân xã Lam Hạ vốn có cuộc sống và hoạt động sinh kế truyền
thống như thế nào trước khi quá trình đô thị hóa diễn ra?.
2. Quá trình đô thị hóa ở Lam Hạ đã và đang diễn ra ra sao? Những khó
khăn, thách thức gì đã và đang đặt ra cho người nông dân?.
3. Khi các biểu hiện cụ thể của đô thị hóa diễn ra, xâm nhập vào cộng đồng
của họ, thì họ ứng phó như thế nào? Hành vi ứng phó cụ thể với các biểu hiện cụ thể
của đô thị hóa là gì? Người nông dân đã ứng phó với các biểu hiện cụ thể ấy như thế

5



6


6. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Bố cục của Luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tài liệu và cơ sở lý thuyết
Chương 2: Xã Lam Hạ trước quá trình đô thị hóa
Chương 3: Tác động của quá trình đô thị hóa ở xã Lam Hạ
Chương 4: Các cách thích ứng phó và thích nghi của nông dân xã Lam Hạ

7


Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tổng quan tài liệu
Khi đô thị hóa ngày càng trở thành một xu hướng phát triển quan trọng như
hiện nay thì nó cũng trở thành một trong những chủ đề được nhiều nhà khoa học
thuộc các ngành học khác nhau (từ kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, cho đến
nhân học...) quan tâm nghiên cứu. Tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào ứng phó
của nông dân đối với vấn đề sinh kế dưới tác động của đô thị hóa là nhóm các
nghiên cứu nhân học áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững. Trọng tâm chính
của tiếp cận lý thuyết này là nó đặt con người ở vị trí trung tâm của các phân tích và
lý giải về phát triển. Qua phân tích 5 nguồn vốn và việc sử dụng 5 nguồn vốn này
(vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên) sẽ giúp cho
các nhà nghiên cứu thấy được mức độ giàu có về các nguồn vốn, hay sự thiếu hụt
của các nguồn vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến các chiến lược sinh kế và sự thích
nghi cũng như khả năng ứng phó với những tác động hoặc rủi ro, v.v. [48, tr.17].
Tiếp cận sinh kế bền vững mà cụ thể là khung sinh kế bền vững đã trở thành một
cách phân tích và lý giải của khá nhiều công trình nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Văn

Nguyễn Duy Thắng đã phân tích việc sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế
của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa qua nghiên cứu: “Sử
dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác
động của đô thị hóa” (2007). Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của quá
trình đô thị hóa đối với sử dụng đất nông nghiệp, việc làm, và quan hệ cộng đồng ở
ven đô Hà Nội. Đặc biệt, nghiên cứu đã phân tích những tác động của đô thị hóa
đến sinh kế của nông dân ven đô và việc người dân ở đây sử dụng vốn xã hội trong
chiến lược sinh kế như thế nào để tránh nguy cơ rủi ro bị rơi vào nghèo khổ. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, có sự phân hóa trong cách ứng phó của người nông dân
nhằm đảm bảo an ninh sinh kế. Một bộ phận người nông dân có “chiến lược dựa
vào đất”, tức là họ tiếp tục làm nông nghiệp, trong khi một bộ phận khác thì lại cố
tìm một nghề phi nông nghiệp qua “chiến lược không dựa vào đất” để đảm bảo
cuộc sống của mình. Với chiến lược sinh kế dựa vào đất, các hộ nông dân, đặc biệt
là các hộ gia đình có đất liền kề đã tự nguyện dồn đổi những mảnh đất nhỏ lẻ, manh
mún để tạo ra một mảnh đất lớn hơn và cùng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hoặc

9


chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi để tăng năng suất. Với chiến lược
sinh kế không dựa vào đất, người dân quan tâm đến việc cho con cái học hành hoặc
tận dụng các mối quan hệ từ chính quyền địa phương cũng như từ bạn bè, họ hàng
làng xóm để tìm hiểu thông tin việc làm phi nông nghiệp. Nghiên cứu kết luận rằng,
việc sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế đã giúp cho người dân giảm được
chi phí đầu vào cho sản xuất và các chi phí giao dịch trong tìm kiếm việc làm hay
thị trường, đồng thời chia sẻ các nguồn thông tin đáng tin cậy về thị trường để tránh
nguy cơ rủi ro [53, tr.47].
Trong khi đó, các nghiên cứu: “Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã
hội và vốn xã hội cho phát triển” (2008) của Ngô Đức Thịnh và “Về vốn xã hội và
mạng lưới xã hội” (2008) của Hoàng Bá Thịnh lại đóng một vai trò quan trọng

một thời gian dài nhằm đòi lại quyền lợi kinh tế cho mình.
Thực tế cho thấy quyền đất đai có một vị trí quan trọng trong việc lựa chọn
sinh kế thay thế của người nông dân dưới tác động của quá trình đô thị hóa. Nhưng
qua nghiên cứu về quyền sở hữu đất đai dưới góc độ giới :“Sinh kế và tiếp cận
nguồn lực đất đai của phụ nữ tại hai xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ”
tác giả Nguyễn Thị Vân Anh lại cho thấy vai trò của phụ nữ mờ nhạt hơn so với
nam giới khi quyết định về thừa kế đất đai (kể cả với thừa kế đất nông nghiệp).
Trong khi phụ nữ là người sản xuất, chịu trách nhiệm chính trong việc đồng áng,
được giao phó toàn bộ trách nhiệm lo toan hầu hết các vấn đề liên quan tới ruộng
đồng thì quyền của họ đối với đất còn chưa được đảm bảo, tiềm ẩn rủi ro.
Nghiên cứu về sự chuyển đổi sinh kế của nông dân dưới góc độ tâm lý cũng
thu hút được sự quan tâm của các tác giả Phan Thị Mai Hương, Lê Hữu Xanh,
Nguyễn Hồi Loan. Trong một nỗ lực nhằm đi tìm tính năng động của người dân
trong chuyển đổi sinh kế, hay là cách mà người nông dân sử dụng để ứng phó với
việc đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần, tác giả Phan Thị Mai Hương nghiên
cứu: “Chiến lược sống qua những dự định nghề nghiệp của cư dân ven đô Hà Nội
trong quá trình đô thị hóa”. Từ giả thuyết cho rằng, tính năng động của người nông
dân ở ven đô được kích thích bởi những chính sách quy hoạch đô thị sẽ là cái đà để
họ phát triển nội lực, kết quả nghiên cứu lại cho thấy, sự nhộn nhịp trong biến động
việc làm do quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp chưa đủ mạnh để kích thích nội
lực của nhiều người [27, tr.14]. Đặc biệt, nghiên cứu cũng đã đi đến chỗ khẳng định

11


rằng, nhân tố đặc điểm nhân khẩu không ảnh hưởng gì đến những dự định nghề
nghiệp của người dân ven đô và cũng không phải tốc độ đô thị hóa có tác động
quyết định chiến lược sống của cá nhân trong việc định hướng cho hành động nghề
nghiệp tương lai, mà ở đây nó thuộc về yếu tố nội lực. Từ đó, tác giả Phan Thị Mai
Hương nhận định đặc tính tâm lý – văn hóa có ảnh hưởng đến những dự định nghề

định, tác giả khẳng định đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam có ảnh
hưởng tiêu cực đến quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, và đặc điểm tâm lý của
dân tộc Việt Nam là yếu tố “cốt lõi” tạo nên sự thuận lợi hoặc cản trở trong quá
trình hội nhập [39, tr.14].
Nghiên cứu sinh kế của người nông dân dưới góc độ kinh tế học trong: “Thu
nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi” (2007), tác giả Lê Du Phong
đã khảo cứu kỹ lưỡng tác động của đô thị hóa đến vấn đề công ăn việc làm của
người dân thông qua những con số thống kê về diện tích thu hồi đất nông nghiệp và
việc làm sau thu hồi. Nghiên cứu cho biết, trung bình mỗi hộ ở những nơi thu hồi
đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp
bị thu hồi làm cho 13 lao động mất việc làm trong nông nghiệp. Thông thường, khi
bị thu hồi đất, người nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp. Vậy, câu hỏi làm gì sau
khi bị thu hồi đất và sử dụng tiền đền bù ra sao được cho là một vấn đề nan giải.
Nếu số tiền được đền bù từ thu hồi đất không được người nông dân sử dụng đúng
mục đích sẽ làm tăng tình trạng thất nghiệp và phát sinh các vấn đề xã hội. Nghiên
cứu cũng cho biết, không ít người sau một thời gian được nhận vào làm việc tại các
nhà máy, khu công nghiệp, do không đáp ứng được yêu cầu công việc nên phải thôi
việc và lại rơi vào tình trạng không có việc làm [43, tr.48-49]. Đấy là chưa kể những
bất ổn tồn tại trong việc đền bù, giải tỏa, khiến cho người dân phản ứng và gây ra
khiếu kiện kéo dài, số người được đào tạo nghề, được giải quyết việc làm tại các
khu công nghiệp là rất ít…Nghiên cứu đặt ra vấn đề việc làm gay gắt đối với người
nông dân khi họ bị mất đi đất nông nghiệp.
Nghiên cứu dưới góc độ xã hội học về kinh tế nông thôn, đặc biệt là những
vấn đề có tính lý luận về đặc điểm của người nông dân khi tiếp xúc với nền kinh tế
thị trường phải kể đến nghiên cứu: “Xã hội học nông thôn” của tác giả Bùi Quang
Dũng. Ngoài đem đến cho người đọc những kiến thức căn bản về nông thôn như:
dân số nông thôn, phân tầng xã hội, kinh tế nông nghiệp, làng xã, gia đình..., tác giả

13


14


Nghiên cứu: “Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình
đô thị hóa” (2005) của Nguyễn Hữu Minh và đồng nghiệp phân tích một cách kỹ
lưỡng quá trình biến đổi từ cơ cấu nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức sống, đến nhà
ở, cơ sở hạ tầng; từ đời sống vật chất đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân
ven đô Hà Nội. Trong “Đô thị hóa và tác động của nó đến những biến đổi làng xã
ngoại thành Hà Nội (qua trường hợp làng Phú Đô)” (2009) của Kim Kyung, tác giả
chỉ ra những nhân tố đô thị hóa tác động đến làng Phú Đô, Hà Nội cũng như sự biến
đổi của làng Phú Đô dưới tác động của đô thị hóa từ diện tích đất đai và quản lý sử
dụng đất đến cảnh quan tự nhiên, dân số, kinh tế, nghề nghiệp, mối quan hệ xã hội,
văn hóa – lối sống...Trong khi đó nghiên cứu: “Từ làng đến phố: Đô thị hóa và quá
trình chuyển đổi lối sống ở một làng ven đô Hà Nội” (2010) của Bùi Thị Kim
Phương lại là một công trình nghiên cứu dày dặn về các vấn đề cốt lõi của đô thị và
đô thị hóa. Đó là sự thay đổi trong không gian cư trú và kiến trúc, cơ cấu kinh tế và
quan hệ xã hội, đặc biệt là sự thay đổi trong văn hóa và lối sống qua các mối quan
hệ gia đình, hôn nhân, tang lễ, các hình thức thờ cúng, dòng họ, tín ngưỡng. Đối với
nghiên cứu: “Đô thị hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội vùng ven đô Hà Nội hiện
nay (Nghiên cứu trường hợp Mễ Trì huyện Từ Liêm Hà Nội” (2011), tác giả Bùi
Văn Tuân lại khảo sát một cách khá kỹ lưỡng cơ sở lý luận và thực tiễn của những
tác động của đô thị hóa tới cấu trúc kinh tế - xã hội khu vực ven đô. Đồng thời,
nghiên cứu cũng đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân của những tác động tích cực,
tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân Mễ Trì.
Cũng xem xét sự biến đổi của làng xã dưới tác động của đô thị hóa nhưng bằng
cách tiếp cận không gian, nghiên cứu: “Đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự biến đổi
không gian: Nghiên cứu trường hợp làng Đồng Kỵ (Từ Sơn – Bắc Ninh)” (2010)
của Chu Thu Hường lại phân tích sự chuyển đổi và mở rộng của các không gian
truyền thống của làng Đồng Kỵ qua không gian cư trú, không gian hành chính,
không gian canh tác, không gian thiêng, không gian chứa đựng các chức năng giao

tự la tinh “urbanus” có nghĩa là thuộc tính của đô thị. Theo Mạc Đường: “đô thị hóa
là một quá trình kinh tế và xã hội để biến một vùng dân cư không có cuộc sống đô thị
thành một vùng dân cư có thuộc tính của xã hội đô thị”. Đô thị hóa còn là một quá
trình biến đổi văn hóa và ứng xử. Văn hóa và cách ứng xử đô thị dần dần bao trùm
lên và làm tan biến dần văn hóa và ứng xử truyền thống nông thôn [21, tr.115].
Với một nền kinh tế chủ yếu là từ nông nghiệp như Việt Nam đô thị chủ yếu
được đi lên từ nông thôn có sự tác động của Nhà nước. Do đó, có nhiều khái niệm

16


về đô thị hóa lấy xuất phát điểm từ nông nghiệp, nông thôn hay ít nhiều liên quan
đến khái niệm này. Một số khái niệm thuộc nhóm này phải kể đến như: Đô thị hóa
là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân
cư. Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật; là quá trình phát
triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thức
nhà cửa, phong cách sinh hoạt...). Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh
vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, và kết cấu hạ
tầng…tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị, góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn.
Nhìn chung, đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch
vụ…do vậy, đô thị hóa gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội [42, tr.15].
Có hai hình thức đô thị hóa là đô thị hóa theo chiều rộng và đô thị hóa theo
chiều sâu. Ở Việt Nam đô thị hóa chủ yếu diễn ra dưới hình thức đô thị hóa theo
chiều rộng, trên cơ sở mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện, hình thành các khu
đô thị mới, các quận, phường mới. Đây là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho
lực lượng sản xuất phát triển. Đặc điểm của đô thị hóa theo chiều rộng là quá trình
đô thị hóa diễn ra tại các khu vực trước đây không phải là đô thị. Với hình thức này,
“dân số và diện tích đô thị không ngừng gia tăng, các hoạt động kinh tế đô thị phi
nông nghiệp và các hoạt động của kinh tế đô thị không ngừng mở rộng; các hoạt

cho nhân dân, hình thành lối sống công nghiệp. Tuy nhiên tình trạng thất nghiệp cộng
với việc sử dụng số tiền đền bù đất không đúng mục đích sẽ làm nảy sinh các vấn đề
xã hội. Tệ nạn xã hội trở thành vấn đề lớn, vấn đề nghèo đói, thất nghiệp đặt ra.
Việt Nam là một quốc gia đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nên tốc độ đô thị hóa diễn ra rất mạnh mẽ. Đô thị hóa bắt đầu từ chính sách thu
hồi đất đai của Nhà nước để phục vụ cho việc xây dựng các khu công nghiệp, các
nhà máy, xí nghiệp hoặc các công trình công cộng. Như khẳng định của tác giả
Phan Thị Mai Hương thì: “đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển đổi mục đích sử
dụng đất nông nghiệp” [25, tr. 258]. Hay bản chất đô thị hóa:“được hình thành và
phát triển dưới tác động của các dự án phát triển, chính sách quy hoạch của Nhà
nước và chính quyền địa phương dẫn đến sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng,
thu hút dân cư; xuất hiện trung tâm buôn bán – thương mại và hình thành trung tâm

18


văn hóa – du lịch, giáo dục, y tế, làm biến đổi không gian từ không phải đô thị đã
bước đầu trở thành đô thị” [11, tr.10].
Thứ hai là khai niệm „Vùng ven đô‟. Về mặt địa lý, vùng ven đô là khu vực
cận kề với khu vực đô thị. Vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt động đặc trưng cho
nông thôn vừa có các hoạt động mang tính chất đô thị. Vùng ven đô không tồn tại
độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn - ven đô - đô thị.
Về kinh tế: Khác với nông thôn, vùng ven đô bao gồm toàn diện hơn các hoạt
động kinh tế, như các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và các dịch vụ đô thị. Ven đô là nơi chịu tác động mạnh mẽ của quá trình đô
thị hóa, các hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ dần bị thu hẹp lại và mất đi do
chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ và đất
ở. Thay vào đó là các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp.
Về xã hội: Vùng ven đô không thuần nhất về thành phần dân cư (nông
dân/công nhân/trí thức/chủ doanh nghiệp; tầng lớp trung lưu/người nghèo cùng

cách mạng quan trọng; và thứ hai, phải làm sao cho “dân có ruộng cày” [48, tr.46].
Qua đây, ta có thể hiểu 2 đặc điểm quan trọng của nông dân Việt Nam là: là lực
lượng sinh sống ở vùng nông thôn và là người có (sở hữu) ruộng đất. Đồng thời
ruộng đất là một vấn đề sống còn đối với người nông dân.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và đô thị hóa, tầng lớp nông dân ngày một bị phân hóa sâu sắc. Một nghiên cứu
thực hiện vào những năm 90 tại một xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội đã cho
thấy sự phân hóa trong nông dân dưới tác động của đô thị hóa và kinh tế thị trường.
“Dưới tác động của đô thị hóa, chỉ có những người nông dân cao tuổi hoặc là
những hộ nông dân nghèo tiếp tục trồng lúa và các cây lương thực khác. Họ cũng
trồng thêm hoa để ra bán cho các chợ hoa ngoài Hà Nội. Trong khi đó, thanh niên
bỏ bê công việc đồng áng, họ thích đi làm thuê. Chẳng những thế, do chi phí tăng
cao, người ta còn đi tới chỗ ít trồng hoa hơn, chỉ có những “nông dân thực sự” mới
tiếp tục trồng hoa, còn hầu hết nông dân đi buôn hoa dưới đủ mọi hình thức. Chính
vì thế người ta đã gọi người nông dân gắn với đất và các truyền thống nông dân là

20


những “nông dân thực sự” hay “nông dân cổ truyền” để phân biệt với “người nông
dân mới” mà về bản chất là những người buôn bán nhỏ [19, tr.157-158].
Lý giải cho những hiện tượng này, Samuel L. Popkin trong cuốn sách về
“người nông dân duy lý” cho rằng: “lý do người nông dân tham gia vào thị trường
không phải vì đó là giải pháp cuối cùng mà ngược lại, đó chính là những phản ứng
và sự đáp lại của họ đối với cơ hội kinh tế mới do thị trường tạo ra” [48, tr.25].
Trong khi đó, trái ngược với Samuel L. Popkin về “người nông dân duy lý”, James
C. Scott trong“người nông dân duy tình” lại cho rằng:“sự thâm nhập của nhà nước
thực dân vào làng xã cùng với quá trình thương nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản
xuất nông nghiệp đã đưa tới sự áp dụng các loại máy hóc hiện đại, sản xuất hai
vụ...làm phá vỡ cấu trúc xã hội và các tập tục truyền thống vốn nuôi dưỡng các đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status