Tiểu luận cao học Môi trường và phát triển bền vững: một số nguyên nhân làm cho việc sử dụng đất không bền vững - Pdf 31

Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong vài thập kỷ trở lại đây, sự gia tăng dân số của thế giới đã thúc đẩy nhu
cầu ngày càng lớn về lương thực và thực phẩm. Song song với sự phát triển dân số
là sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật. Và để thỏa mãn nhu cầu ngày càng
cao, nhiều hoạt động của con người đã gây ảnh hưởng đến môi trường và các
nguồn tài nguyên đất đai, một dạng tài nguyên không tái tạo được. Do đó, việc
đánh giá tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả và
phát triển bền vững là một nhiệm vụ khó khăn trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh đó, việc sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao là vấn đề quan
tâm hàng đầu trong công tác quản lý, sử dụng đất của nhà nước. Mà lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế lấy đất đai làm tư liệu sản xuất thì mỗi mục
đích sử dụng đất có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần đáp ứng. Việc lựa
chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau phù hợp với điều kiện
đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà làm quy hoạch, để từ đó có những
quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế và
bền vững. Vì vậy, đánh giá mức độ thích hợp tài nguyên đất đai phục vụ phát triển
sản xuất nông nghiệp là một việc làm tất yếu của bất kỳ một quốc gia, một vùng
lãnh thổ hay tại một địa phương nào đó là rất cần thiết.
Tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, việc quản lý và sử dụng đất còn nhiều
bất cập. Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được quản lý và sử dụng
chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân và phụ thuộc vào thời tiết khí hậu.
Ngoài ra, việc canh tác cây trồng ít quan tâm đến bảo vệ và cải tạo đất đai đã làm
cho chất lượng đất ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu
đánh giá hiện trạng đất đai hợp lý, bền vững và đạt hiệu quả cao theo hướng sản
xuất hàng hóa đang được quan tâm nghiên cứu trên phạm vi cả nước và từng vùng.
Trong quá trình phát triển con người và đất đai ngày càng gắn liền với nhau
một cách chặt chẽ hơn. Đất đai trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con
người dựa vào đó để tạo ra sản phẩm nuôi sống mình, nuôi sống xã hội. Đất đai
luôn luôn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Không có đất

PHẦN NỘI DUNG
1.

Khái niệm sử dụng đất bền vững

GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-2-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp liên qua đến các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường hiện tại và tương lai. Sử dụng đất bền
vững là làm giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất
bằng cách sử dụng thông các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản
lý phù hợp. Sử dụng đất bền vững trong nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống
canh tác cụ thể nhằm nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và thúc đẩy phát triển nông thôn.
Ngày nay, sử dụng đất bền vững trở thành chiến lược quan trọng, có tính
toàn cầu bởi vì:
Tài nguyên đất vô cùng quý giá. Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu sản xuất
nông- lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân.
Cho dù khoa học kỹ thuật có hiện đại đến đâu thì con người vẫn phải sống dựa vào
đất.
Tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi. Toàn lục địa chỉ
có 13.340 triệu hec-ta (trừ 1.360 ha đóng băng vĩnh cửu); trong đó phần lớn có
nhiều hạn chế cho sản xuất do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá
mặn, bị phèn, ô nhiễm, bị phá hoại do hoạt động sản xuất hoặc bom đạn chiến

lực. quá trình mang đi lớp đất mặt do nước
chảy, gió, tuyết hoặc các tác nhân địa chất
khác, bao gồm cả các quá trình sạt lở do
trọng lực, quá trình di chuyển lớp đất do
nước đều kéo theo các vật liệu tan và không tan . Quá trình xói mòn sẽ làm mất đất
do đó rất nguy hiểm cho phát triển nông lâm nghiệp, xói mòn đất làm thoái hóa đất
làm giảm tính năng sản xuất của đất.
Rửa trôi làm cho hàm lượng muối dinh dưỡng trong đất bị rửa trôi vào môi
trường nước gây sự biến đổi về tính chất của đất, cấu trúc đất, đất trơ, chua, nghèo
chất dinh dưỡng. Đất bị rửa trôi mạnh, hàm lượng các chất dinh dưỡng ở tầng canh
tác bị xuống sâu, tầng rửa trôi dày trong phẩu diện đất, làm các tầng đất mặt ngày
càng kiệt màu, hàm lượng nước hữu dụng cung cấp cho cây trồng thấp.
Có 2 loại hình bạc màu vật lý chính trên các vùng thâm canh lúa là sự nén và
sự suy thoái cấu trúc đất. Thâm canh lúa liên tục trong thời gian dài, gia tăng cơ
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-4-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

giới hóa trong khâu chuẩn bị đất cùng với quá trình rửa trôi và tích tụ của các hạt
sét xuống các tầng bên dưới tạo nên sự nén. Sự suy giảm chất hữu cơ và việc cày
ướt sẽ khiến cấu trúc đất bị suy thoái. Giảm khả năng thấm nước và sức chứa ẩm
của đất
2.2 Ô nhiễm môi trường
Hàng năm, ở vùng thượng nguồn của
ĐBSCL có mùa nước nổi và vùng gần biển
có triều cường, vào mùa này nước tràn lên


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Phân hữu cơ: Phần lớn nông dân bón phân hữu cơ chưa được ủ và xử lí đúng
kĩ thuật nên gây nguy hại cho môi trường đất.nguyên nhân là do trong phân chứa
nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm bệnh khác..khi bón vào
đất, chúng có điều kiện sinh sôi nảy nở, lan truyền môi trường xung quanh, diệt
một số vi sinh vật có lợi trong đất Bón phân hữu cơ quá nhiều trong điều kiện yếm
khí sẽ làm quá trình khử chiếm ưu thế; sản phẩm của nó chứa nhiều acid hữu cơ
làm môi trường sinh thái đất chua, đồng thời chứa nhiều chất độc như H2S, CH4,
CO2. Sư tích lũy cao các hóa chất dạng phân hóa học sẽ gây hại cho môi trường
sinh thái đất về mặt cơ lý tính , đất nén chặt , độ trương co kém, không tơi xốp,
tính thoáng khí kém, vi sinh vật cũng ít đi vì hóa chất hủy diệt sinh vật.
Thuốc trừ sâu: Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi
trường. Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện
vào môi trường tự nhiên nhằm tiêu diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người
hay để triệt hạ các loài phá hại mùa màng Bản chất của nó là những chất hóa học
diệt sinh học nên đều có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất. Đặc tính của thuốc
trừ sâu bệnh là tính bền trong môi trường sinh thái nên nó tồn tại lâu dài trong đất,
sau khi xâm nhập vào môi trường, thời kì “nằm” lại đó, các nhà môi trường gọi là
“thời gian bán phân giải”. “nữa cuộc đời này”được xác định như là cả thời gian nó
trốn vào trong các dạng cấu trúc sinh hóa khác nhau hoặc các dạng hợp chất liên
kết trong môi trường sinh thái đất. Mà các hợp chất mới này thường có độc tính
cao hơn nó. Tiêu diệt hệ động vật làm mất cân bằng sinh thái, thuốc trừ sâu bị rửa
trôi xuống thủy vực làm hại các động vật thủy sinh như ếch, nhái…Như vậy vô
tình chúng ta làm tăng thêm số lượng sâu hại vì đã diệt mất thiên địch của chúng
,vì vậy nó làm cho hoạt tính sinh học đất bị giảm sút.
Môi trường tự nhiên và nhân văn ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng với
sự xuất hiện nhiều làng ung thư, các con sông chết, các giá trị tốt đẹp của văn hóa
truyền thống ngày càng bị mai một, tệ nạn xã hội nông thôn ngày càng gia tăng…

đồi núi và cao nguyên, nơi nhằm ổn định
sản xuất và đời sống trong phạm vi lãnh
thổ cố định. Vào mùa khô và thường là
cuối đông, người dân thường vào sâu
trong rừng tìm một khoảng đất rừng phù
hợp, đốt cháy mảnh diện tích đủ rộng theo ý muốn, thường là không thể điều khiển
theo mục đích người đốt vì lữa rừng bị tác động của gió và độ ẩm, nhiệt độ tại
khoảng rừng. Và đến đầu mùa mưa, người ta tra hạt, hoặc ươm sắn, lợi dụng lượng
nước ẩm do mưa, hạt giống sẻ nảy mầm, cây sinh trưởng tốt do đất dưới tán rừng
có hàm lượng dinh dưỡng cao và nhờ có than tro của việc đốt rừng tiến hành.
Người dân canh tác ít tác động tới cây trồng mà chủ yếu là thoái mặc chúng cho tự
nhiên và tới mùa thì thu hoạch. Thông thường chỉ sau 3-4 mùa rẫy, do nước mưa
rửa trôi và xói mòn, lại không được bổ sung các chất dinh dưỡng nên đất rẫy sẽ
nghèo chất dinh dưỡng, cây trồng phát triển kém. Lúc này, người dân sẽ bỏ rẫy củ
tìm kiếm một khoảng rừng mới và lại đốt rừng làm rẫy. Và đây chính là tập quán
GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

-7-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

du canh du cư, là một tập tục cũ, lạc hậu, năng suất cây trồng thấp, cuộc sống
người dân bấp bênh gây thoái hóa đất, mất rừng.
Hệ thống canh tác chỉ quan tâm tới lợi nhuận về mặt kinh tế có nhiều khả
năng gây ra các vấn đề suy thoái tài nguyên thiên nhiên và môi trường làm tác
động trực tiếp tới sản xuất và ảnh hưởng lâu dài cho thế hệ sau. Tuy nhiên, các hệ
thống canh tác mang lại hiệu quả tích cực bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và
cải thiện môi trường thì khó có thể được nông dân chấp nhận và áp dụng nếu hệ


-8-


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Tưu tiên sử dụng đất tốt cho nông nghiệp, dành đất xấu (có khả năng sản
xuất thấp) cho các mục đích phi nông nghiệp. Điều hòa giữa áp lực gia tăng dân số
và tăng trưởng về kinh tế. Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm bảo đảm có sản
phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu của đất. Bảo đảm phát triển
tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt, xây dựng và dân
dụng mà không làm mất nguồn nước và thoái hóa đất.
Sử dụng đất trên cơ sở quy hoạch bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài
của người sử dụng đất và cộng đồng. Khi phân bố sử dụng đất cho ngành kinh tế
quốc dân cần sử dụng bản đồ, tài liệu đất và đánh giá phân hạng đất đai mới xây
dựng, nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo sử dụng lâu dài.
Sử dụng đất phù hợp với điều kiện sinh thái tự nhiên, theo lợi thế so sánh,
không áp đặt thiên nhiên theo ý muốn chủ quan để tránh đầu tư quá tốn kém nhưng
không hiệu quả. Ví dụ việc tăng diện tích trồng cà phê ở Tây Nguyên; ngọt hóa đất
ven biển đồng bằng sông Cửu Long để trồng lúa... cần được tính toán thận trọng vì
chi phí cao và làm suy thoái đa dạng sinh học.
Thực hiện chiến lược phát triển đa dạng, khai thác tổng hợp đa mục tiêu:
nông - lâm kết hợp, nông - lâm - ngư, nông - lâm và du lịch sinh thái... Quản lý lưu
vực để bảo vệ đất và nước, phát triển thủy lợi, giữ vững cân bằng sinh thái. Phát
triển cây lâu năm có giá trị thương mại cao. Áp dụng quy trình và công nghệ canh
tác thích hợp theo từng vùng, đơn vị sinh thái và hệ thống cây trồng. Phát triển
công nghiệp phân bón và thâm canh theo chiều sâu.
Phương án kết hợp giữa nông nghiệp với lâm nghiệp (Agroforestry) được
xem là giải pháp nông nghiệp bền vững cho tương lai. Bởi rễ cây có tác dụng liên
kết đất và giữ nước. Ngoài ra, cây trồng còn có nhiệm vụ bảo vệ các loại cây khác

cả những chế phẩm từ nông nghiệp để làm giàu đất và cung cấp chất dinh dưỡng
hữu ích cho cây trồng.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách quản lý và bảo tồn tài nguyên đất.
Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, chuyển giao công
nghệ, khoa học kỹ thuật, giao đất, giao rừng, xóa đói giảm nghèo. Đẩy mạnh hợp
tác khu vực và quốc tế trong việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và
kế hoạch hành động bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
Có các biện pháp chống xói mòn, suy thoái đất.

PHẦN KẾT LUẬN

GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

- 10 -


Môn: Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Việc sử dụng đất nông nghiệp là một vấn đề quan trọng khi mà diện tích đất
nông nghiệp ngày một giảm dần và chất lượng đất ngày càng giảm. Do chínhnhững
nguyên nhân trên mà con người đang tự tay mình mất đi tính bền vững của môi
trường tự nhiên. Đất đai ngày càng khan hiếm chính vì vậy cần phải có các biện
pháp sản xuất hợp lý để phục vụ cho việc sản xuất hiện tại mà đồng thời phải giữ
gìn cho các thế hệ mai sau. Nhà nước cần có các chính sách sát sao hơn nữa về quy
hoạch cũng như có các chính sách để bảo vệ và sử dụng đất nông nghiệp bền vững.
Sản xuất không chỉ nên biết đến lợi ích kinh tế mà còn phải đảm bảo các vấn đề xã
hội. Đưa ra các biện pháp nông lâm kết hợp, trồng xen canh, gối vụ mang lại hiệu
quả kinh tế, đảm bảo lương thực mà lại làm tăng độ phì cho đất. Có các biện pháp
chống xói mòn rửa trôi đất ở vùng cao, hiểu biết của người dân vùng cao còn nhiều


GVHD: TS. Lê Thanh Bồn
Học viên: Đinh Công Nhân _Cao học QLĐĐ_K20B

- 12 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status