ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
MAI NHẬT LINH
XÂY DỰNG TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐÔ THỊ
TRÊN CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG VÀ DÂN SỐ
(TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Mã số: 60 85 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ:
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN KIM HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Quý Thầy Cô ở Khoa Môi trường
nơi tôi đã theo học chương trình Thạc sĩ và khoa Toán – Tin học nơi tôi đã học và
hoàn thành chương trình Cử nhân, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Kim Hồng, Trường Đại học Sư Phạm Thành
phố Hồ Chí Minh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
thực hiện đề tài;
Sản phẩm của đề tài là một bài báo cáo chính về các tiêu chí phát triển bền vững
cho Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên các vấn đề nóng bỏng hiện nay. Để đạt được
những tiêu chí trên, trong quá trình nghiên cứu xây dựng đề tài tác giả đã sử dụng
các phương pháp như phân tích SWOT và phân tích DPSIR.
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm giúp các đơn vị, cơ quan trung ương Thành phố
Hồ Chí Minh trong việc thiết kế, xây dựng, giám sát và thực hiện chiến lược phát
triển đô thị bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh định hướng đến năm 2025.
ABSTRACT
Towards the social-economic development of Vietnam major cities together with
the trend of continual urbanism, identifying and determinating criteria for
sustainable development in those cities is key national concerns.
Therefore, approaching to a research topic on “Developing criteria for urban
sustainable development of Ho Chi Minh City based on environment and
population parameter” is to aim to build a theoretical base for the strategy of urban
sustainable development according to “Prime Minister’s Decision of No. 1570/QĐTTg on Novermber 27, 2006 with regard to approval of a master plan for Ho Chi
Minh City up to 2025”. Moreover, this project would be used as teaching or
reference material for “Urban Sustainable Development” subject offered to relevant
students at universities and colleges.
The outcome of the project is an offical report on criteria of sustainable
development for Ho Chi Minh City based on the most concerned current matters.
The multiple methods of research for the report have been applied, such as SWOT
and DPSIR analysis. The result of the project could be useful for the governmental
institutions of District and Central in Ho Chi Minh City to design, build, monitor
and implement strategies for urban sustainable development of Ho Chi Minh City
up to 2025.
Keywords: sustainable, urban, Ho Chi Minh City
1.1.2. Phát triển đô thị bền vững ........................................................................... 10
1.2. Thực tiễn phát triển bền vững ở các đô thị hiện nay....................................... 15
1.2.1. Trường hợp SymbioCity, Stockholm – Thụy Điển...................................... 16
1.2.2. Trường hợp Singapore ................................................................................ 17
1.2.3. Trường hợp Hongkong SAR ....................................................................... 19
1.2.4. Phát triển đô thị ở Thành phố Đà Nẵng....................................................... 19
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh................ 21
2.2. Diễn biến tình hình dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh................................. 24
2.3. Hiện trạng phát triển đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh .............................. 26
2.4. Các vấn đề môi trường và dân số còn tồn tại trong quá trình phát triển đô thị
bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh .................................................................. 28
2.5. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh .... 35
2.5.1. Bộ tiêu chí PTBV của Liên hợp quốc.......................................................... 35
2.5.2. Bộ tiêu chí xây dựng chiến lược PTĐTBV của Thành phố Hồ Chí Minh .... 38
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ PHÂN TÍCH CÁC TIÊU CHÍ
3.1. Khung định hướng nghiên cứu ...................................................................... 41
3.2. Áp dụng phương pháp DPSIR để xác định các tiêu chí phát triển đô thị bền
vững và chỉ số của các tiêu chí .............................................................................. 42
3.3. Áp dụng phương pháp phân tích SWOT để xác định các chỉ số của tiêu chí
phát triển đô thị bền vững ...................................................................................... 44
CHƯƠNG 4: XÁC ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC TIÊU CHÍ BỔ SUNG
4.1. Xác định các tiêu chí bổ sung ........................................................................ 46
4.2. Định lượng hóa các tiêu chí bổ sung.............................................................. 49
4.2.1. Áp dụng phân tích DPSIR để xác định chỉ số của tiêu chí bổ sung.............. 49
4.2.2. Áp dụng phân tích SWOT để xác định chỉ số của tiêu chí bổ sung.............. 52
4.2.3. Nội dung và chương trình hành động cụ thể cho từng tiêu chí..................... 58
Phát triển đô thị bền vững
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TpHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
UBND
Ủy ban nhân dân
Tiếng Anh
CPI
Consumer Price Index
GINI
Gini Coefficient
GDP
Gross Domestic Product
GNP
Gross Nation Product
SAR
Special Administrative Region
UN
United Nations
UNCSD
United Nations Commission for Sustainable Development
UNDP
United Nations Development Programme
UNEP
United Nations Environment Programme
WB
World Bank
WCED
World Commission on Environment and Development
WWF
Hình 4.1: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 1. ...................... 47
Hình 4.2: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 2. ...................... 47
Hình 4.3: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 3. ...................... 47
Hình 4.4: Xác định tiêu chí PTĐTBV theo cách tiếp cận DPSIR, 4. ...................... 48
-1-
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.
Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững (PTBV) đã được thế giới tiếp nhận và từng bước thực hiện
từ hơn 30 năm trước đây. Tuy nhiên mức độ phát triển đô thị bền vững phụ thuộc
vào tỷ lệ đô thị hóa của từng quốc gia. Đối với các nước công nghiệp phát triển ở
mức độ cao như các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật, Singapore, Hongkong SAR và Macao
SAR… tỷ lệ dân tập trung ở các đô thị đạt trên 80%, xây dựng phát triển đô thị đã
đi vào ổn định và đang từng bước đáp ứng được các yêu cầu về phát triển bền vững
đô thị.
Ở Việt Nam, trong hơn 15 năm từ 1991 đến nay, dân số đô thị có sự tăng trưởng
tương đối ổn định ở mức thấp, tỷ lệ dân số cố định tăng từ 17% năm 1990 lên
23,45% năm 1999, hơn 24% năm 2002 và gần 26% năm 2004. Tính đến nay cả
nước đã có trên 743 đô thị (ĐT) các loại (bao gồm từ đô thị loại V đến đô thị loại
đặc biệt) trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh), 3 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 36 đô thị loại III, 41 đô thị loại IV, 647 đô
thị loại V. Tỷ lệ đô thị hoá đạt gần 30% (Tập chí diễn đàn PTBV Đô thị, 5/2006, Bộ
Xây dựng). Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá của cả nước. Các đô thị lớn như Thành phố Đà Nẵng, Cần Thơ... là
kinh tế tư nhân và từ cộng đồng do nhận thức về phát triển đô thị và đô thị hoá còn
bị hiểu sai lệch, nhiều nơi đô thị hóa tạo nên hình ảnh phát triển đô thị lộn xộn và
thiếu quản lý. Về quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn các đô thị
Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế - xã hội đô thị.
Do vậy, trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, xây dựng tiêu chí
phát triển bền vững đô thị là thể hiện cách suy nghĩ đúng đắng, hướng giải thích
hợp và thậm chí không thể trì hoãn trong quá trình đô thị hóa ở mức độ ngắn hạn và
dài hạn như ở Việt Nam hiện nay. Các tiêu chí này sẽ giúp việc xây dựng các đô thị
trở nên cân đối và vững chắc trên cơ sở phát trển kinh tế, duy trì sự ổn định xã hội,
có ý thức tiết kiệm đối với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đồng thời có thái
độ đúng đắn với công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Do đó, tác giả chọn và thực
hiện đề tài “Xây dựng tiêu chí phát triển bền vững đô thị trên cơ sở môi trường và
-3-
dân số, trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” dưới sự hướng dẫn của PGS. TS.
Nguyễn Kim Hồng.
2.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng thể của đề tài: bổ sung thêm một số tiêu chí cho bộ tiêu chí đánh
giá phát triển đô thị bền vững sẵn có của Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm nâng cấp
bộ tiêu chí này để phục vụ cho chiến lược phát triển đô thị bền vững của Thành phố
Hồ Chí Minh.
Mục tiêu cụ thể của đề tài:
-
Nghiên cứu và khảo sát hiện trạng môi trường và xã hội (dân số) của Thành
khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tiếng ồn… Mỗi lĩnh vực khoa học sẽ tiếp cận và
đi sâu nghiên cứu theo hướng chuyên môn cụ thể đặc thù cho từng lĩnh vực. Vì thế
trong nghiên cứu này để tránh dàn trải sang các lĩnh vực chuyên môn sâu khác về
môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như để đảm bảo về mặt thời gian và
phạm vi của một luận văn ở chương trình đào tạo bậc thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu một số vấn đề môi trường trên khía cạnh dân số. Nghĩa là những vấn đề
môi trường mà liên quan trực tiếp với tình hình phát triển dân số như an sinh xã hội,
lao động trẻ em, ùn tắc giao thông và rác thải sinh hoạt…
4.
Nội dung của đề tài
Đề tài “Xây dựng tiêu chí Phát triển Bền vững Đô thị trên cơ sở môi trường và
dân số, trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” có các nội dung sau đây:
-
Tập hợp các khái niệm về phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững
được định nghĩa với nhiều cách khác nhau bởi các tổ chức nghiên cứu trên
thế giới trở thành thống nhất.
-
Thu thập dữ liệu, phân tích hiện trạng môi trường theo định hướng phát triển
bền vững đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh; cũng như diễn biến dân số và
các vấn đề về môi trường – dân số mà thành phố đang đối mặt hiện nay.
-
Nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí bổ sung cho bộ tiêu chí phát triển đô thị
bền vững sẵn có của Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng văn minh đô thị
nghiên cứu các vấn đề về phát triển bền vững nói chung và phát triển đô thị bền
vững nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn: qua việc nghiên cứu vấn đề phát triển đô thị bền vững Thành
phố Hồ Chí Minh, đề tài giúp các cơ quan chức năng định hướng phát triển phù hợp
cho thành phố. Đồng thời, kết quả đề tài sẽ giúp các cấp chính quyền Thành phố Hồ
Chí Minh, cũng như các thành phố khác trong cả nước có cách tiếp cận mới và
hướng giải quyết mới cho các vấn đề hiện nay tại thành phố.
-6-
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm về phát triển bền vững và phát triển đô thị bền vững
1.1.1. Phát triển bền vững
Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác
nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa… Mục tiêu của phát triển là
nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài người; làm cho con người ít
phụ thuộc vào thiên nhiên; tạo lập nên cuộc sống công bằng giữa các thành viên.
Tính bền vững không phải là một khái niệm mới, theo như Thomas Jefferson
(Tổng thống thứ 3, người soạn thảo ra bản tuyên ngôn độc lập, của Hợp Chủng
Quốc Hoa Kỳ) đã từng phát biểu rằng: “Tôi cho rằng trái đất thuộc về mỗi thế hệ
trong suốt tiến trình tồn tại của nó, một cách hoàn toàn đầy đủ và trong quyền hạn
của nó, không một thế hệ nào có thể thắc mắc những khoản nợ lớn hơn khả năng
chi trả của chính nó”.
Trung tâm của phát triển bền vững, toàn bộ mục tiêu của sự phát triển, chính là
con người. Chính xác hơn, mục tiêu của phát triển là nhằm bảo đảm rằng mỗi người
Hình 1.1: Mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới (WB)
-8-
Hình 1.2: Mô hình PTBV của Liên Hợp Quốc (UN)
Trong mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED,
1991), xem hình 1.3., các tiêu chí về PTBV được cụ thể hóa hơn và mang ý nghĩa
rộng hơn. Mô hình thể hiện sự đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các quốc gia lẫn nhau
để hướng tới một thế giới PTBV.
Hình 1.3: Mô hình PTBV của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển
-9-
Nội dung của phát triển bền vững
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc “môi trường và phát triển
bền vững” hợp ở Johannesburg, Nam Phi. Hội nghị đã đưa ra được hai văn kiện
quan trọng có tính toàn cầu là “Tuyên bố chính trị” và “Kế hoạch thực hiện”. Trong
các văn kiện này đã xác định ra được ba hợp phần chính của phát triển bền vững:
- Bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững: phát triển kinh tế
nhanh và an toàn;
- Bền vững về mặt xã hội: công bằng xã hội và phát triển con người. Chỉ số phát
triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, chỉ số phát triển
con người gồm: thu nhập bình quân trên đầu người, trình độ dân trí, giáo dục,
4. Quản lý những phần tài nguyên không tái tạo được;
5. Tôn trọng khả năng chịu đựng của trái đất;
6. Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân;
7. Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường;
8. Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất thuận tiện cho việc phát triển
và bền vững môi trường; và
9. Xây dựng mội khối liên minh toàn cầu trong bảo vệ môi trường.
Dựa vào các nguyên tắc cơ bản trên để xây dựng một hệ thống các tiêu chí và
các chỉ số đánh giá (hay đo lường hay theo dõi) nhằm định hướng xây dựng xã hội
phát triển theo hướng bền vững.
1.1.2. Phát triển đô thị bền vững
Khái niệm PTĐTBV
Trong nghiên cứu này, khái niệm “phát triển bền vững đô thị” (urban sustainable
development) hay phát triển đô thị bền vững” (sustainable urban development) được
xem là đồng nghĩa nhau, cả hai đều chỉ sự phát triển đô thị một cách bền vững.
Sự phát triển đô thị bền vững (hay phát triển bền vững đô thị) là sự phát triển
cần đạt được 3 mục tiêu cơ bản sau:
-11-
- Đô thị phát triển bền vững về kinh tế. Đô thị phát triển bền vững về kinh tế
được thể hiện qua quá trình tăng trưởng liên tục, ổn định, lâu dài ở các chỉ tiêu
kinh tế theo thời gian.
- Đô thị phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường. Đô thị phát triển bền
vững về tài nguyên và môi trường thể hiện ở việc sử dụng tài nguyên một cách
hợp lý, đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác động tiêu cực
nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng kinh
tế phải đồng bộ, ngày càng hoàn thiện phù hợp với dung lượng cư dân hiện tại
và các giai đoạn phát triển của đô thị. Phát triển đô thị phải phù hợp với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng và quốc gia. Cần tham khảo ý
kiến của cộng đồng hoặc các bên liên quan về các công trình hạ tầng kỹ thuật, xã
hội và kinh tế nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển và giảm thiểu các tác
động tiêu cực tới môi trường và bản thân những cư dân trong đó.
- Nguyên tắc thứ hai là: Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người và của
cộng đồng. Chất lượng cuộc sống con người được đo bằng mức độ các điều kiện
về ăn, ở, đi lại, làm việc, học hành, chữa bệnh, hoạt động văn hoá, tinh thần.
Mục tiêu cơ bản của quá trình lao động cũng như của phần lớn các cuộc cách
mạng là cải thiện chất lượng cuộc sống con người. Bản thân cuộc sống mỗi con
người và của cộng đồng ít nhiều đều có những khó khăn và trở ngại nhất định,
tuy rằng ở những mức độ khác nhau. Phát triển kinh tế là một trong các phương
thức cơ bản để cải thiện chất lượng đời sống vật chất của mỗi con người và cộng
đồng. Quá trình chủ đạo trong hoạt động kinh tế là lao động của con người kết
hợp với tài nguyên để tạo ra của cải khác nhau, đáp ứng các nhu cầu và nâng cao
chất lượng cuộc sống con người. Song nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế cũng
chưa đủ đảm bảo từng cộng đồng và xã hội phát triển bền vững. Phát triển kinh
tế phải gắn với công bằng, tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, tạo
cơ sở nền tảng vật chất, tinh thần cho sự phát triển của các thế hệ hiện tại và mai
sau.
- Nguyên tắc thứ ba là: Bảo vệ sức sống và đa dạng của các hệ sinh thái. Bảo vệ
đa dạng sinh học tức là bảo vệ tổng hợp, toàn bộ các nguồn gen trong các hệ
sinh thái, đồng nghĩa với bảo vệ các loài sinh vật, các giống trong loài và những
điều kiện tồn tại của chúng (các hệ sinh thái)… Ở khu vực đô thị, do những tác
động nhiều mặt của con người đến tự nhiên, sức sống và đa dạng sinh học trong
hệ sinh thái đô thị và các hệ sinh thái trợ giúp nếu không được chú ý đến bảo tồn
phận như: công viên, hệ sinh thái thuỷ sinh, khu dân cư gắn với các địa bàn cung
-14-
cấp các nhu yếu phẩm thiết yếu. Mỗi thành phần trong hệ sinh thái đều có quan
hệ gắn bó với nhau, có chức năng nhất định và chịu sự tác động mạnh mẽ của
con người. Sự không tương thích giữa dân số đô thị với cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
hạ tầng xã hội, hạ tầng kinh tế và điều kiện sinh thái tự nhiên đã dẫn đến những
ách tắc nghiêm trọng trong hoạt động của đô thị như ách tắc giao thông, bề bộn
chất thải, thiếu việc làm, không đủ các điều kiện vệ sinh cơ bản như nước sạch,
dưỡng khí, diện tích ở, nơi vui chơi, giải trí và dễ dẫn đến lan truyền các bệnh
truyền nhiễm.
- Nguyên tắc thứ sáu là: Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân. Tình trạng ô
nhiễm môi trường và suy thoái môi trường, tài nguyên đô thị Việt Nam hiện nay
cũng có nhiều nguyên nhân từ các tập tục và thói quen lạc hậu như sử dụng các
không gian công cộng tùy tiện, xả rác thải ở nơi công cộng… Những thói quen
và các tập tục tác động xấu đến tài nguyên, môi trường, đến cộng đồng đô thị sẽ
từng bị loại bỏ do phải trả giá bằng kinh tế, trả giá bằng sự phê phán của cộng
đồng và sự tăng cường các hình thức quản lý xã hội và cộng đồng theo luật định.
- Nguyên tắc thứ bảy là: Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.
Mỗi hệ sinh thái nhân văn nói riêng và trái đất nói chung là nơi cư trú của các
cộng đồng dân cư. Theo các địa bàn cư trú, mỗi cộng đồng dân cư đô thị thường
có một không gian có ranh giới nhất định, gắn trong đó là hệ thống cơ sở hạ tầng
kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng kinh tế đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt nhiều
mặt của cộng đồng. Để cộng đồng tự quản lý môi trường nghĩa là đã gắn được
trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường (kể cả các thành phần tự nhiên và
nhân tạo) với quyền lợi được hưởng những giá trị, những lợi ích mà tài nguyên
và môi trường đem lại…
- Nguyên tắc thứ tám là: Xây dựng một khuôn mẫu thống nhất thuận lợi cho việc
xấu đi và kêu gọi nhân loại hãy cứu lấy trái đất, cái nôi của sự sống. Con người tỉnh
ngộ và bước vào thập niên “Nhận thức về môi trường” (1972 – 1982).
Tiếp đó, bước sang thập niên “Hành động vì môi trường” (1982 – 1992). Năm
1992, Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về “Môi trường và Phát triển” được tổ chức ở
Rio de Janéro (Braxin), là cuộc gặp gỡ của 179 nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới.