Trêng §¹i häc s ph¹m hµ néi 2
KHOA LỊCH SỬ
ĐOÀN THỊ NGUYÊN
LỄ HỘI CẦU MÙA
CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa
HÀ NỘI - 2013
Trêng §¹i häc s ph¹m hµ néi 2
KHOA LỊCH SỬ
ĐOÀN THỊ NGUYÊN
LỄ HỘI CẦU MÙA
CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa
Người hướng dẫn khoa học
ThS HOÀNG THỊ NGA
ThS NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI – 2013
Hà nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI
THÁI Ở TÂY BẮC....................................................................................... 7
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA ...... 7
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên vùng Tây Bắc ......................... 7
1.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội ........................................................... 11
1.1.2.1 Điều kiện kinh tế ..................................................................... 11
1.1.2.2 Điều kiện xã hội ...................................................................... 14
1.1.3. Điều kiện văn hóa ..................................................................... 18
1.2. TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI THÁI TRONG LAO
ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC .............................. 23
Chương 2: LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC ........ 30
2.1. NGHI LỄ TRONG HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI
THÁI ........................................................................................................... 30
2.1.1.Xíp xí (Tết cầu mùa) .................................................................. 32
2.1.2. Lễ đón tiếng sấm đầu mùa ........................................................ 33
2.1.3. Lễ cầu mưa ............................................................................... 34
2.1.4. Lễ tiến hành trước khi gieo trồng .............................................. 37
2.1.5.Lễ nghi được tiến hành sau khi hoàn thành việc gieo cấy .......... 38
2.1.6.Lễ khau hạch (tiến hành trước khi gặt lúa) ................................. 40
2.1.7.Lễ nghi tiến hành trước khi đập lúa ........................................... 41
2.1.8. Kháu mơ (lễ cơm mới) ............................................................. 42
Trắng và Thái Đen. Những khác biệt trong đời sống văn hóa tinh thần của họ
là những sai biệt không lớn, chỉ là những biểu hiện bên ngoài. Còn cái chung
nhất, đặc trưng nhất, sâu thẳm trong tâm hồn mỗi người và cả cộng đồng, thể
hiện trong cách cảm, cách nghĩ vẫn là của một tộc Thái ổn định, thống nhất.
Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài dân tộc Thái đã
sáng tạo ra một nền văn hóa dân gian rất phong phú, đa dạng, mang đậm sắc
1
thái tộc người. Trong đó văn học và một số loại hình nghệ thuật như âm nhạc,
múa, nghệ thuật tạo hình dân gian đã được giới thiệu trong nhiều công trình
nghiên cứu khác nhau, nhưng những lễ hội thì ít được nói tới hơn. Trong khi
đó, lễ hội truyền thống lại là một mảng rất quan trọng trong đời sống văn hóa
tinh thần của đồng bào Thái. Nó phản ánh thực tại cuộc sống là nơi thể hiện
tập trung nhất là tư tưởng tình cảm cũng như ước nguyện thầm kín của cộng
đồng. Mặt khác, lễ hội còn chứa đựng trong nó hầu như toàn bộ những sinh
hoạt văn hóa của cộng đồng. Vì vậy, tìm hiểu và nghiên cứu lễ hội Thái là
một việc làm quan trọng và cần thiết trong quá trình tìm hiểu bản sắc, giá trị
văn hóa tộc người. Đây chính là những cơ sở đầu tiên giúp ta có thể thực hiện
mục tiêu mà Đại hội VIII của Đảng năm 1996 đề ra “Khai thác và phát triển
mọi sắc thái và giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước ta,
tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt
Nam” [5; 13].
Lễ hội và văn hóa lễ hội không phải là vấn đề mới ở nước ta mà xưa
nay đã có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu đặc biệt là từ ngày đất nước
ta bước vào quá trình Đổi mới.
Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc là những lễ hội liên quan đến
một chu trình sản xuất, từ khi chọn đất, làm đất cho tới khi trồng cấy, thu
hoạch…Đây là cả một không gian thời gian lý tưởng cho các hoạt động lễ hội
đôi nét về tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán của người Thái (nói
chung) và người Thái ở Tây Bắc (nói riêng) nhằm giải thích về người Thái,
những nét đặc sắc cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái. Công trình góp
phần đề cập đến điều kiện văn hóa và lịch sử hình thành của tộc người Thái
trong đề tài khóa luận.
Đặc biệt hơn phải kế tới công trình “Lễ hội cầu mùa của người Thái ở
Tây Bắc Việt Nam” Vũ Thị Hoa, Nxb văn hóa - thông tin, Hà Nội, 1997; Đây
là công trình nghiên cứu về một hệ thống những lễ hội liên quan đến một chu
3
kỳ sản xuất cây lúa nước của người Thái ở Tây Bắc. Họ cầu mong cho cuộc
sống ấm no hạnh phúc , mưa thuận gió hòa. Đây là công trình phục vụ chính
cho đề tài khóa luận.
Nhóm tác giả Đặng Văn Lung - Nguyễn Sông Thao - Hoàng Văn Trụ
cho ra công trình “Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam” Nxb văn hóa
dân tộc, Hà Nội 2000, Công trình nghiên cứu các phong tục tập quán nét văn
hóa riêng của từng dân tộc ở Việt Nam trong đó có các phong tục tập quán
của người Thái ở Tây Bắc nước ta
Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch sử, tạp
chí giáo dục và lý luận như:
Công trình nghiên cứu trong tạp chí dân tộc học của tác giả Đỗ Đình
Hạng - Vũ Trường Giang về “Lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc
trong giai đoạn hiện nay” 2006 - số 2, Tr25 - 30. Công trình nghiên cứu về
các lễ hội truyền thống của người Thái trong đó nổi bật nhất là lễ hội cầu
mùa, là một trong những lễ hội cổ truyền của dân tộc Thái còn tồn tại đến
ngày nay.
Hay công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Hãng trong tạp chí giáo dục lý
luận “Vấn đề khôi phục lễ hội truyền thống của người Thái vùng Tây Bắc
4.1. Đối tượng
Nghi lễ trong lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ nguồn gốc đến ngày nay trong lễ hội cầu mùa của người
Thái ở Tây Bắc Việt Nam.
Không gian: Địa bàn sinh sống của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Để thực hiện đề tài, người viết dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử.
5
* Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương
pháp đối chiếu, so sánh nhằm rút ra những nhận định chính xác. Ngoài ra,
khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp liệt kê,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài làm rõ thêm những nét đặc sắc của lễ hội cầu mùa của người
Thái ở Tây Bắc.Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản để giữ gìn giá trị
truyền thống trong lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc trong giai đoạn
hiện nay.
Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy các bộ môn: văn hóa, dân tộc học….
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục khóa luận được kết cấu 3
chương.
ấy của quê hương mình. Vẻ đẹp cũng được vẽ lên trong “Bài ca Tây Bắc” của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết khi Thủ tướng lên thăm Khu tự trị năm
1961 “Nước non, non nước đẹp hơn tranh, mắt nhìn không biết chán”
[13;73].
7
Đặc điểm tự nhiên và địa vực cư trú vùng Tây Bắc Việt Nam có rất
nhiều núi, đồi cao thấp gối kề nhau chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam,
trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500 m
trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu
luông 2.983m… Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là “Sừng trời”
(Khau phạ), chính từ bức tường thành phía Đông và vùng Tây Bắc. Nó nằm
trên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nặm Tao, nên
ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao, xen lẫn với
những vùng cao nguyên rộng lớn, những vùng bình nguyên lòng chảo, những
khe, vực, sông, suối làm cho bề mặt của đất trở nên lồi lõm đa dạng. Trải qua
các thế hệ xây dựng bản, mường với sức lao động sáng tạo của mình, người
Thái đã tạo ra một địa vực cư trú ổn định. Trừ một số người sống lẻ tẻ xen lẫn
với tộc anh em khác ở vùng rẻo giữa và rẻo cao, hầu hết họ sống tập trung
tương đối đông trong các thung lũng, bình nguyên lòng chảo hay vùng cao
nguyên mà ngày nay ta vẫn gọi chung là vùng thấp.
Đất đai miền Tây Bắc có đến 21 loại phân bố trên các vùng. Riêng đất
vùng thấp trũng cũng rất phức tạp, nhìn chung phân thành 2 loại chủ yếu: Đất
nguyên sinh và đất phù sa chua rất phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là
lúa - loại lương thực chính của đồng bào. Tuy sống ở vùng thấp, nhưng thực
ra nơi cư trú của họ kề sát với những chân núi cao. Ở đây, những nơi tương
đối bằng phẳng hoặc dốc thoai thoải có nước tưới thì đã được họ khai thác
thành ruộng đồng. Bởi vậy nên hầu hết chỗ ở và các hoạt động kinh tế khác
đới, ôn đới. Có thể nói rừng là đối tượng của săn, hái luợm và nương rẫy.
Từ những đặc điểm của địa hình như vậy nên đồng bào phải cư trú trên
các vùng tiểu khí hậu rất phức tạp. Nơi mưa ít, nơi mưa nhiều, có vùng
thường bị úng nước vào mùa mưa gọi là “lốm”, “bôm” hay “phok”. Có vùng
khô hạn hiếm nước gọi là “phiêng”. Về đại thể, nhiệt độ giữa các vùng người
Thái ở chênh lệch nhau từ 3 đến 4 độ. Mùa nóng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5
9
- 6 đến tháng 10 dương lịch. Mùa rét hanh khô bắt đầu từ tháng 10 - 11 đến
tháng 4 - 5 lịch Thái. Thiên nhiên của vùng Tây Bắc là đối tượng tác động của
người Thái. Sự tác đông đó được biểu hiện trên các loại hình kinh tế. đặc biệt
là ngành trồng trọt trong kinh tế của người Thái. Vùng người Thái ở Tây Bắc
không có cánh đồng “thẳng cánh cò bay” như vùng châu thổ rộng lớn, mà chỉ
có bốn lòng chảo rộng là Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường
Than. Hầu hết những nơi khác đều lọt vào những thung lũng nhỏ, hẹp.
Với đặc điểm tự nhiên như vậy, Tây Bắc là một vùng đất giàu tiềm
năng tự nhiên, là chỗ dựa vững chắc cho đời sống kinh tế của đồng bào các
dân tộc. Trong đó, con người Thái sinh sống và là cơ sở cho việc hình thành
đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của họ.
Như vậy, nhờ biết được thời tiết nên họ đã có những hoạt động kinh tế
khá thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển xã hội lúc bấy giờ. Đó là
hoạt động trồng trọt (lúa, hoa màu) hợp với vùng mưa, nóng.
Như vậy, một trong những mục tiêu con người phải tìm hiểu được
sông, suối, rừng núi, đất đai và khí hậu…của nơi cư trú là để đem sức lao
động tác động vào đối tượng đó mà có của cải vật chất nuôi sống mình. Thiên
nhiên của vùng Tây Bắc là đối tượng tác động của người Thái. Sự tác động đó
được biểu hiện trên các loại hình kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi…
Với đặc điểm của tự nhiên và môi trường sinh tụ của dân tộc đã tạo
được sản phẩm trồng trọt nói chung và đặc biệt sản phẩm về thóc gạo nói
riêng. Bởi vậy suy cho cùng trong xã hội, mọi quan hệ, mọi trạng thái ý thức
đều được cấu trúc chủ đạo trên nền tảng của sản xuất của hai đối tượng ruộng
và nương. Theo quan niệm: ruộng, nương là lẽ sống.
Như chúng ta đã biết từ rất lâu ruộng nước đã trở thành đối tượng lao
động chủ yếu của cư dân Thái. Với những điều kiện địa lý, tự nhiên khá thuận
lợi: Rất nhiều sông suối với lưu lượng nước đáng kể len lỏi chạy khắp các
vùng tạo ra những ghềnh thác thuận lợi cho việc lấy nước làm ruộng; núi non
tuy hiểm trở, nhưng xen kẽ là những thung lũng màu mỡ, phì nhiêu cùng
11
những cao nguyên rộng lớn - đất đai Tây Bắc nói chung là màu mỡ, nhiều
mùn, có độ ẩm cao cộng với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều nắng lắm,
đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của trồng trọt (nhất là
cây lúa), chăn nuôi. Trong thực tế, cho đến thời kỳ trước cách mạng tháng
Tám, nền kinh tế truyền thống của người Thái là kinh tế nông nghiệp mà
trong đó, cây lúa nước là loại cây trồng chủ yếu.
Do địa hình xen kẽ núi đồi, cao nguyên, lòng chảo với điều kiện có
nguồn nước nông dân Thái đã có 2 loại ruộng nước. Loại ruộng ở nơi bằng
phẳng gọi là “na tông”. Nhưng do địa hình Tây Bắc núi non chắp nối nhau
một cách liên tục nên sự bằng phẳng của “na tông” chỉ mang ý nghĩa tương
đối. Việc làm “na tông” phải sử dụng kỹ thuật tạo bờ thửa để phân chia thành
những ruộng cao, thấp, ngang, dọc sao cho thích hợp với từng khu đất bằng
trong toàn bộ vùng thung lũng, lòng chảo hay cao nguyên có độ dốc. Loại
ruộng ở các nơi eo hẹp men theo chân núi hoặc trên sườn núi gọi là “na hon”.
“Na hon” là một khu đất bị cắt nhỏ thành từng thửa ruộng. Một đặc điểm rất
cơ bản của địa hình để tạo ra khu “na hon” là không có mặt bằng tự nhiên,
hoặc nếu có cũng rất nhỏ hẹp. Bởi vậy, kỹ thuật phổ biến của việc làm “na
tốt và nước thất thường thì xấu). Việc canh tác ruộng nước của người Thái đã
đạt đến một trình độ khá cao.
Việc canh tác trên nương rẫy cũng có một vị trí quan trọng trong nền
nông nghiệp truyền thống của người Thái. Bên cạnh đó, đồng bào Thái còn biết
triệt để tận dụng các loại sản vật trên rừng, dưới suối để làm phong phú thêm
cuộc sống của mình. Đánh cá, hái lượm, săn bắn giữ một vị trí quan trọng trong
đời sống. Thậm chí đối với người Thái, chài đã trở thành vật thiêng.
Như vậy, sinh hoạt kinh tế của người Thái mang đậm tính chất tự
nhiên, tự cấp, tự túc. Do phân công lao động theo giới tính, tính chất tự cấp tự
túc đó diễn ra trong từng bản, thậm chí trong từng gia đình một. Đây chính là
nguyên nhân khiến nghề thủ công kém phát triển (chỉ tồn tại dưới dạng nghề
13
phụ gia đình), chưa hình thành tầng lớp thợ thủ công hay thương nhân chuyên
nghiệp. Trao đổi kém phát triển, có chăng chỉ là vật đổi vật mà thôi. Phải
chăng nền kinh tế chậm phát triển, đơn điệu đã là một trong những nguyên
nhân làm cho xã hội Thái ở đây trì trệ, kém biến đổi.
Những sắc thái tự nhiên, những đặc điểm kinh tế đó đều được phản ánh
vào nội dung và hình thức của lễ nghi, lễ hội nông nghiệp Thái nói riêng và
toàn bộ nền văn hóa dân gian Thái nói chung.
1.1.2.2. Điều kiện về xã hội
Dưới thời Pháp, xã hội của người Thái là chế độ thực dân nửa phong
kiến. Sự phân hóa giai cấp trong xã hội đã khá rõ nét thành giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị. Giai cấp thống trị bao gồm tầng lớp quý tộc Thái (bọn này
nắm trong tay bộ máy quản lý, thống trị và bóc lột người trực tiếp lao động
sản xuất trong châu mường và hệ thống chức dịch (còn gọi là bô lão toàn
mường) là công cụ phụ giúp cho chúng. Giai cấp bị trị là những người trực
tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho bản mường. Lớp người này được chia làm
nhiệm tổ chức các cuộc cúng bái, tế lễ trong nhà chúa và trong mường. Ông
có những hiểu biết phong phú về môi trường tự nhiên, về những vấn đề liên
quan đến sản xuất (thời tiết, thời vụ). Thậm chí, họ còn biết cách làm ra thuốc
để chữa bệnh. Tuy nhiên, họ thường cho rằng những khả năng ấy sở dĩ có
được là do sự ban phát, phù trợ của những lực lượng siêu nhiên, thần thánh.
Ở cấp bản có “tạo bản” (hoặc gọi là quan bản). Tạo bản đứng đầu,
trông coi mọi việc trong bản.
Nhìn chung, tạo bản là người có quyền hành cao nhất trong bản, là
người nắm vững luật tục, am hiểu phong tục tập quán, quản lý ruộng đất và cư
dân trong bản. Nhưng tạo bản thường từ dân bầu lên và chức vụ cũng không
phải là cha truyền con nối nên “tạo bản” không phải là “tạo chẩu xửa” như
“chẩu mường”. Vì vậy, ngoài tạo bản, mỗi bản còn có một ông “tạo chẩu xửa”
riêng (còn gọi là “tạo poong”), người này không có vai trò gì trong bộ máy
15
hành chính mà chỉ đơn thuần trong đại diện cho phần “linh hồn” của toàn thể
dân chúng trong một bản mỗi ki tiếp xúc với thần, hồn, tổ tiên, ma quỉ (trong
các buổi tế lễ).
Trong xã hội Thái trước kia, đơn vị xã hội cổ truyền là bản. Trong bản,
từ quan hệ dòng họ, quan hệ láng giềng đã xuất hiện và chiếm vai trò chủ đạo
dựa trên cơ sở ruộng đất, lãnh thổ. Quá trình phát triển, biến đổi của bản phản
ánh giai đoạn phát triển dựa trên yếu tố lãnh thổ và sở hữu về tư liệu sản xuất.
Mỗi bản có một địa vực cư trú riêng gồm ruộng, rừng, thung cỏ, đồi
núi, những khúc suối, đoạn sông và muôn thú trong địa vực của mình và hệ
thống thủy lợi riêng do mọi thành viên trong bản cùng xây dựng. Giữa các
bản đều có ranh giới khu vực đất đai và thiên nhiên. Trong mỗi bản tồn tại
nhiều mối quan hệ: mối quan hệ giữa bản với mường, mà về mặt tổ chức, bản
là đơn vị xã hội thấp nhất, chịu mọi sự tác động, chi phối của mường.
giai cấp thống trị bằng tô hiện vật, tô lao dịch, đi lính, “côn hươn” dựa trên cơ
sở phân bổ ruộng công đã được họ ngụy trang khéo léo bằng tấm màn thần
thiêng liêng, huyền bí nên dân chúng bị bóc lột. Họ cho rằng đó là việc thực
hiện những nghĩa vụ thiêng liêng cao cả với những “đáng tối cao” ở trên trời
và dưới đất mường.
Ngay cả trong những dịp cúng quải, lễ hội của toàn mường, phìa tạo
cũng đóng vai trò quan trọng: chủ đạo, điều hành và dẫn dắt mọi tiến trình
nghi thức. Còn những lớp người bị bóc lột ở các bản: Nông dân, nông dân nửa
tự do (cuông nhốc pụa pái), tầng lớp gia nô (côn hươn) chỉ đóng vai trò bị
động, phụ thuộc trong những hoạt động trên. Nhìn chung, tùy địa vị cụ thể
trong mường, trong bản mà họ đóng những vai trò khác nhau trong sinh hoạt
văn hóa tinh thần của bản mường.
Tóm lại, là cư dân bản địa cư dân cư trú lâu đời ở vùng thung lũng
miền núi, người Thái có nguồn sống chính là kinh tế nông nghiệp ruộng nước
với trình độ kỹ thuật canh tác khá cao sự phân hóa giai cấp với đặc thù riêng
17
trong cách thức bóc lột của giai cấp thống trị. Những đặc điểm riêng đó của
hình thái kinh tế - xã hội tộc người Thái cùng với những đặc điểm riêng nơi
cư trú và những biến cố lớn trong lịch sử tộc người đã kiến tạo nên những
hình thức và những khía cạnh khác nhau của đời sống của tộc người Thái.
Đây chính là mảnh đất màu mỡ mà từ đó, văn hóa dân gian Thái nói chung, lễ
hội Thái nói riêng đã nảy sinh, tồn tại, phát triển với những giá trị thẩm mỹ rất
đặc sắc của dân tộc mình.
1.1.3. Điều kiện văn hóa
Sinh sống trong cảnh quan thung lũng rộng, hẹp khác nhau ở vùng Tây
Bắc, người Thái đã sớm tạo ra nền văn hóa độc đáo của mình. Nền văn hóa đó
được các nhà nghiên cứu gọi là “văn hóa thung lũng” cái nền văn hóa tiền
hiểu thêm về quá khứ, hiện tại và tương lai, trân trọng nâng niu những tài sản
vô giá cả về vật chất và tinh thần đã trở thành truyền thống tốt đẹp và phấn
đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn.
Quanh bếp lửa hồng, đã bao lần gia đình họ tộc quây quần nghe người
già hát, ngâm, kể - những điều răn dạy về đạo lý làm người, chuyện bản
mường, bước đường chinh chiến của cha ông, Tiễn dặn người yêu, cùng nồng
say trong các điệu "xoè" ngày mừng cơm mới, lên nhà mới, hội cưới, ngày
xuân.
Nhà sàn còn là nơi con trai đan lát, thổi khèn, pí, con gái quay xa, dệt
vải, thêu thùa... đã được khái quát trong câu thơ: Trai biết đan chài, gái biết
dệt vải.
Các bản Thái thường quần tụ ven suối chân đồi theo tiêu chí: “sơn chầu
thủy tụ”. Những ngôi nhà sàn bình dị ấm cúng, khói lam thơm thoảng gió
đồng, lách cách tiếng thoi đưa, đâu đây da diết một điệu khèn câu khắp, lốc
cốc tiếng mõ trâu đàn về bản. Tất cả làm nên một vẻ đẹp trong sáng đậm tình
như một bức tranh sơn thuỷ, dân dã nguyên sơ của một nền văn hoá.
Kiến trúc nhà sàn, tuy từng nhóm có những dáng vẻ khác nhau, nhưng
đó chỉ là sự khác nhau về hình thức, còn nếp ăn, nếp ở của họ vẫn theo tập
19