TUYỂN CHỌN VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ DÒNG GIỐNG LÚA NẾP MỚI CÓ NĂNG XUẤT CHẤT LƯỢNG TỐT CHO HUYỆN QUẾ VÓ TỈNH BẮC NINH - Pdf 31

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Nông nghiệp hà nộI
---------------

Vũ đức thọ

Tuyển chọn và phát triển một số dòng, giống
lúa nếp mới có năng suất, chất lợng tốt
cho huyện quế võ, tỉnh bắc ninh

luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt
Mã số: 60.62.01

Ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts. phan hữu tôn

Hà nội 2008


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Vũ Đức Thọ




Môc lôc

Lêi cam ®oan

i

Lêi cam ¬n

ii

Môc lôc

iii

Danh môc b¶ng

v

1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2. Mục đích và yêu cầu


2.3.2. Mục tiêu chọn tạo giống ...............................................................17
2.3.3. Những kết quả đạt được trong công tác chọn tạo giống lúa thuần 18
2.4. Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất và môi trường 24
2.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trong nước và trên thế giới

iii

25


2.5.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới............................25
2.5.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ gạo ở Việt Nam................................30
3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
36
3.1. Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất lúa, cơ
cấu giống lúa nếp của Huyện Quế Võ

36

3.1.1. Nội dung........................................................................................36
3.1.2. Phương pháp điều tra.....................................................................36
3.2. Thí nghiệm khảo nghiệm giống
36
3.2.1. Vật liệu..........................................................................................36
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu...............................................................36
3.2.4. Chỉ tiêu theo dõi............................................................................38
3.3. Phân tích kết quả thí nghiệm theo IRRIS TAT 4.4
41
3.4. Mô hình trình diễn giống lúa triển vọng




4.3.2. Tính toán hiệu quả kinh tế của giống triển vọng so với đối chứng
.................................................................................................................88
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
90
5.1. Kết luận

90

5.2. Đề nghị

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

91

v


Danh môc b¶ng
TSS
Tªn b¶ng
Bảng 2.1. Các vitamin và chất vi lượng của lúa gạo

16

Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới 19952005



50

Bảng 4.4. Diện tích, cơ cấu giống lúa vụ mùa huyện Qu ế Võ
giai đoạn 2005-2007

50

Bảng 4.5. Đánh giá một số chỉ tiêu mạ trước khi cấy

52

Bảng 4.6. Các giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm
54
Bảng 4. 7. Động thái tăng trưởng chiều cao (cm)

57

Bảng 4.8. Bảng động thái ra lá của các dòng, giống lúa nếp vụ
Xuân 2008 tại Quế Võ

59

Bảng 4.9. Tốc độ ra lá của các dòng giống (lá/thân chính/tuần)

61

Bảng 4.10: Động thái đẻ nhánh (nhánh/thân chính/tuần)

62


75

Bảng 4.17: Khả năng chống chịu một số bệnh của các dòng,

76

giống thí nghiệm

76

Bảng 4.18. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa nếp
thí nghiệm

78

Bảng 4. 19. Các chỉ tiêu chất lượng gạo của các gi ống lúa n ếp l àm
thí nghiệm vụ xuân 2008 tại Quế Võ

82

Bảng 4.20. Kết quả đánh giá một số dòng, giống lúa trên thí
nghiệm.

85

Bảng 4.21. Một số giống lúa triển vọng ở địa phương

87


tác dựa trên cơ sở đặc thù kinh tế - xã hội, địa lý của từng vùng trở nên cấp
thiết, bước đầu đã cho kết quả rất to lớn.
Lúa nếp là một trong những cây trồng được ưu tiên phát triển là cây
hàng hóa của tỉnh Bắc Ninh. Nhu cầu gạo nếp trên thị trường Bắc Ninh và Hà
Nội rất lớn. Gạo nếp dùng làm bánh, đồ xôi trong các dịp lễ tết, cưới hỏi, làm
nguyên liệu chính sản xuất ra bánh Phu thê, bánh dợm, bánh chưng, bánh dầy
là các loại bánh đặc sản phục vụ lễ hội và khách du lịch, một phần phục vụ
nấu rượu nếp đặc sản, một phần lúa nếp non dùng để sản xuất cốm. Tuy
nhiên, hiện nay sản lượng lúa nếp hàng năm chỉ mới đáp ứng được phần lớn
nhu cầu trong tỉnh, một phần thị trường rộng lớn khu vực Hà Nội còn đang bỏ
ngỏ. Vụ xuân năm 2008, Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo các địa
phương gieo cấy 4.580 ha lúa nếp, chiếm 11,45% tổng diện tích gieo cấy của
cả vụ, tăng 263 ha so với niên vụ trước. Các huyện Thuận Thành, Quế Võ,
Tiên Du, Yên Phong, Từ Sơn có diện tích trồng lúa nếp lớn, từ 520 đến 1035
ha, chiếm từ 6.4% đến gần 37,3% diện tích gieo cấy toàn huyện. Giống lúa
N97, N87, 9603, PD2,…Trong đó giống nếp IRI352 chiếm diện tích lớn nhất
với 1.135 ha, chiếm gần 24,8%.

1


Các giống lúa nếp hiện đang trồng trên địa bàn đều cho năng suất trung
bình 45 - 50 ta/ha. Độ trắng, độ bóng, độ mềm, độ dẻo và thơm của các giống
lúa nếp đang trồng vẫn chưa bằng các giống nếp Quýt, nếp cái hoa vàng. Vì
thế chưa đáp ứng được nhu cầu trong việc chế biến những sản phẩm bánh đặc
sản. Giống IRI352 cho năng suất cao, dẻo, nhiều, thơm ít. Giống nếp hoa
trắng chỉ cấy trong vụ mùa, thơm ngon, nhưng bị nhiễm nhiều sâu đục thân.
Còn các giống nếp N87, N97 tuy cho năng suất cao như lúa tẻ, dẻo nhưng hầu
như không thơm.
Do vậy, đi đôi với việc khuyến khích mở rộng diện tích cấy lúa nếp,

1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra cơ cấu giống, diện tích, năng suất, sản lượng và khả năng tiêu
thụ của các giống lúa nếp trên địa bàn huyện Quế Võ. Phân tích ưu, nhược
điểm của các giống nếp đang trồng phổ biến trên địa bàn.
- Triển khai thí nghiệm so sánh giống lúa nếp, nghiên cứu chỉ tiêu sinh
trưởng, phát triển nhanh, chống chịu và chất lượng đủ cơ sở để kết luận một
giống tốt.
- Trình diễn một số giống tốt ở một số địa phương đại diện cho huyện
Quế Võ- Bắc Ninh.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những thông tin về cơ cấu giống lúa của huyện Quế Võ
trong những năm gần đây, những hạn chế của các giống lúa trong cơ cấu sản
xuất và đặc biệt cung cấp những thông tin về các đặc trưng và đặc tính của
các giống lúa tham gia thí nghiệm trong điều kiện tự nhiên của huyện Quế
Võ, làm cơ sở xây dựng cơ cấu giống lúa mới cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Chọn ra được 1 - 2 giống lúa có triển vọng, phù hợp với điều kiện sinh
thái của vùng để đưa vào cơ cấu giống lúa của huyện Quế Võ, phát triển ra
diện rộng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

3


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nghiên cứu nguồn gốc và phân loại cây lúa
2.1.1. Nguồn gốc cây lúa
Lúa thuộc chi Oryza có từ 130 triệu năm trước, tồn tại như một loại cỏ
dại trên đất Gondwana ở siêu lục địa, sau này vỡ thành Châu Á, Châu Mỹ,
Châu Úc và Châu Nam Cực. Lúa được thuần hóa rất sớm khoảng 10.000 năm

nhưng các nhà khoa học Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã thống nhất
xếp lúa trồng Châu Á (Oryza sativa) thuộc họ Hòa thảo (Gramineae), chi
Oryzae, có bộ nhiễm sắc thể 2n=24 (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [11]
Các nhà chọn giống sử dụng hệ thống phân loại cây lúa nhằm dễ dàng
sử dụng các kiểu gen của cây lúa trồng, thiết thực phục vụ cho mục tiêu tạo ra
giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu sâu bệnh
ngày một tốt hơn.
Trên cơ sở đó các nhà khoa học phân loại nguồn gen cây lúa trồng theo
các tiêu thức khác nhau:
* Phân loại theo sinh thái địa lý
Dựa trên cơ sở kiểu gen và môi trường là một khối thống nhất, các
vùng sinh thái địa lý khác nhau với sự tác động của con người tới cây lúa
khác nhau thì có các nhóm sinh thái địa lý chứa kiểu gen khác nhau. Theo
Liakhovkin A.G ( 1992) cây lúa trồng có 8 nhóm sinh thái địa lý gồm:
(1) Nhóm Đông Á: Bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Bắc Trung Quốc.
Đặc trưng của nhóm sinh thái địa lý này là chịu lạnh rất tốt và hạt khó rụng.
(2) Nhóm Nam Á: Từ Pakistan sang vùng bờ biển phía Nam Trung
Quốc đến Bắc Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của nhóm sinh thái địa lý này là
kém chịu lạnh, phần lớn có hạt dài và nhỏ.
(3) Nhóm Philipin: Nhóm lúa điển hình nhiệt đới không chịu lạnh.
Toàn bộ vùng Đông Nam Á, miền nam Việt Nam nằm trong nhóm này.

5


(4) Nhóm Trung Á: Bao gồm toàn bộ các nước Trung Á. Đây là nhóm
lúa hạt to, khối lượng 1000 hạt đạt trên 32 gam, chịu lạnh và chịu nóng.
(5) Nhóm Iran: Bao gồm toàn bộ các nước Trung Đông xung quanh
Iran, đây là nhóm sinh thái địa lý với các loại hình chịu lạnh điển hình, hạt to,
đục và gạo dẻo.

- Giống lúa cực ngắn có thời gian sinh trưởng: ≤ 95 ngày.
- Giống lúa rất ngắn ngày có thời gian sinh trưởng: 96 – 110 ngày.
- Giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng: 111 – 125 ngày.
- Giống lúa trung ngày có thời gian sinh trưởng: 126 – 140 ngày.
- Giống lúa dài ngày có thời gian sinh trưởng: trên 140 ngày.
* Phân loại theo mối quan hệ giữa kiểu gen và kiểu hình của lúa
Theo cách phân loại này, người ta phân lúa thành sáu nhóm sau: (GS
Khush, 1990) [61]:
+ Nhóm 1: Lúa Indica điển hình, có ở các nước trên thế giới
+ Nhóm 2: gồm các loại ngắn ngày, chịu hạn lúa vùng cao phân bố ở
tiểu lục địa Ấn Độ.
+ Nhóm 3 và 4: gồm các loài lúa ngập nước của Ấn Độ và Bangladesh.
+ Nhóm 5: gồm các loại lúa thơm có ở tiểu lục địa Ấn Độ như Basmati 370.
+ Nhóm 6: bao gồm các loài Japonica và Javanica điển hình.
* Phân loại theo quan điểm canh tác học
Cây lúa trồng trải qua quá trình thuần hóa đã thích nghi dần với từng
vùng sinh thái cụ thể mà nó được gieo trồng, đồng thời cũng xuất hiện các
biến dị do điều kiện canh tác gây nên. Từ đó hình thành nên các nhóm lúa đặc
trưng cho từng vùng sinh thái nhất định. Theo quan điểm này cây lúa được
chia thành 4 nhóm sau đây:
- Lúa cạn: Lúa được trồng trên đất cao, không có khả năng giữ nước
cây lúa nhờ hoàn toàn vào nước trời trong suốt quá trình sinh trưởng phát
triển của nó.

7


- Lúa có tưới: lúa được trồng những cánh đồng, có công trình thủy lợi,
chủ động về nước trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của nó.
- Lúa nước sâu: Lúa được trồng trên những cánh đồng thấp, không có

kiện sản xuất khác nhau.
Từ các kết quả nghiên cứu của Jenning (1979) [57] cho rằng: Các giống
loài phụ O.Indica thường cây cao, lá nhỏ, mầu xanh nhạt, bông xòe, hạt dài,
trấu mỏng, chịu phân kém, dễ lốp đổ, năng suất thấp, cơm khô và nở nhiều.
Trong khi các giống khác thuộc loài phụ O.Japonica thường thấp cây, lá to,
màu xanh đậm, bông cụp, hạt ngắn, vỏ trấu dày, thích nghi với nhiều điều
kiện thâm canh, chịu phân tốt, thường cho năng suất cao, cơm dẻo, ít nở.
Luan LP (1979) đặc biệt nhấn mạnh đến việc tạo ra kiểu hình đạt được
sự hài hòa giữa “nguồn” và “sức chứa” và ông đề xuất mô hình cây lúa lai lý
tưởng như sau:
+ Vùng tưới tiêu lúa chỉ có 3-4 bông/1cây. Không có nhánh vô hiệu,
bông dài, có từ 200-250 hạt/bông, cây cứng có lá xanh sẫm, đứng thẳng hay
chỉ hơi cong. Chống chịu tốt, rễ phát triển rộng, chịu ngập, có thể đạt năng
suất 5-7 tấn/ha/vụ.
+ Chiều cao cây đạt khoảng 100 cm với chiều dài thân 70 cm.
+ Ba lá cuối cùng: lá đòng dài khoảng 50 cm, cao hơn tán bông 20 cm.
Lá thứ 2 (giáp lá đòng) dài hơn lá đòng 10% và vươn cao hơn tán bông. Lá
thứ 3 cao hơn tới phần nửa tán bông. Các lá đều phải cứng. Đứng góc lá so
với thân theo thứ tự là: 00, 100, 200. Bản lá hẹp và lòng máng, chiều rộng
khoảng 2 cm, lá dày và xanh đậm chứa nhiều diệp lục.
+ Cây đứng vừa phải, đẻ nhánh trung bình, khi chín đầu bông uốn cong
cách mặt ruộng 60 cm, lá đòng luôn che khuất bông.
+ Khối lượng hạt/bông: trung bình là 125-135 hạt/bông.
+ Chỉ số diện tích lá (LAI) khoảng 6,5 (m2 lá/m2 đất) vào giai đoạn trổ.
+ Chỉ số thu hoạch (hệ số kinh tế) là 0,55

9


Trong việc xây dựng mô hình cấu trúc kiểu cây hầu hết các tác giả đều

+ Giống có thân ngắn, cứng giúp cây lúa chống đổ.
Nguyễn Văn Thắng (1990) có ý kiến cho rằng giảm bớt chiều cao cây
là yếu tố quan trọng nhất trong nâng cao tiềm năng năng suất hạt của lúa.
2.2.3. Khả năng đẻ nhánh
Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến
quá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa.
Quá trình đẻ nhánh liên quan chặt chẽ với quá trình ra lá. Thường khi
ra lá đầu tiên thì mầm nách ở mắt ra lá bắt đầu phân hoá. Theo quy luật thì khi
lá thứ 4 xuất hiện thì nhánh thứ nhất kết thúc thời kỳ phân hoá và bắt đầu xuất
hiện, khi ra lá thứ 5 thì nhánh thứ 2 xuất hiện. Quá trình cứ tiếp tục diễn ra
như vậy.
Bùi Huy Đáp (1978), khi nghiên cứu đặc tính đẻ nhánh cho biêt, nhánh
không bao giờ phát triển nếu như lá tương đương với nó chưa phát triển xong.
Nhánh không phát triển nữa khi lá bị khô. Theo tác giả, các giống lúa khác
nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau thì thời gian đẻ nhánh cũng khác
nhau [7].
Người ta cũng phân biệt thời gian đẻ nhánh hữu hiệu và vô hiệu. Trên
cây lúa, thông thường chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số
lá nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để
trở thành nhánh hữu hiệu (nhánh thành bông). Còn những nhánh đẻ muộn,
thời gian sinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu.
Đinh Văn Lữ (1978) cho rằng: Những giống đẻ nhánh rải rác thì trổ
bông không tập trung, bông không đều, lúa chín không đều, không thuận lợi
cho quá trình thu hoạch dẫn đến giảm năng suất [19].
Theo Nguyễn Văn Thắng (1990) thì các giống lúa hiện đại có nhiều
nhánh hơn vào lúc lúa trỗ nhưng lại có số nhánh thất thu ít. Tỷ lệ nhánh hữu
hiệu ở các giống cổ truyền là 50% và ở các giống lúa hiện đại là 75% .

11




+ Số bông/đơn vị diện tích
+ Số hạt/bông
+ Tỷ lệ hạt chắc/bông
+ Khối lượng 1000 hạt (gram)
- Số bông/đơn vị diện tích hình thành bởi 3 yếu tố: mật độ cấy, số
nhánh (số dảnh hữu hiệu), điều kiện ngoại cảnh và yếu tố kỹ thuật (như phân
bón, nhiệt độ, ánh sáng...). Mật độ cấy là cơ sở của việc hình thành số
bông/đơn vị diện tích. Tùy vào giống lúa và các điều kiện thâm canh như: đất
đai, nước, phân bón, thời vụ... mà quyết định mật độ cấy thích hợp để có thể
tăng tối đa số bông trên một đơn vị diện tích.
- Số hạt/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng
như thoái hóa. Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực
(từ làm đòng đến trỗ). Và số lượng gié, hoa phân hóa được quyết định ngay từ
thời kỳ đầu của quá trình làm đòng (bước 1-3 trong vòng từ 7-10 ngày). Thời
kỳ này bị ảnh hưởng bởi sinh trưởng của cây lúa và điều kiện ngoại cảnh, các
yếu tố này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự thoái hóa hoa. Thời kỳ thoái hóa
hoa thường bắt đầu vào bước 4 (hình thành nhị và nhụy) và kết thúc vào bước
6, tức là khoảng 10-12 ngày trước trỗ. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu dinh
dưỡng ở thời kỳ làm đòng hoặc do ngoại cảnh bất thuận như trời rét, âm u,
thiếu ánh sáng, bị ngập, hạn, sâu bệnh... ngoài ra cũng có nguyên nhân do đặc
điểm của một số giống.
- Tỷ lệ hạt chắc/bông: tăng tỉ lệ hạt chắc/bông hay nói cách khác là
giảm tỉ lệ hạt lép/bông cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lúa. Tỉ
lệ hạt chắc/bông được quyết định ở thời kỳ trước và sau trỗ, nếu gặp điều kiện
bất thuận trong thời kỳ này thì tỉ lệ lép sẽ cao. Tỉ lệ lép/bông không chỉ bị ảnh
hưởng của các yếu tố nói trên mà còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của giống.
Thường tỉ lệ lép dao động tương đối lớn, trung bình từ 5-10%, ít là 2-5%,
cũng có khi trên 30% hoặc thậm chí còn cao hơn nữa.

thấp) càng được ưa chuộng theo thị hiếu trên thị trường quốc tế.

14


Độ bạc bụng ở gạo là một trong những tính trạng rất quan trọng đối với
chất lượng thương phẩm. Hạt gạo bạc bụng thường bị hao hụt nhiều trong quá
trình xay xát và chế biến hơn so với các loại hạt trong. Xét về điều kiện ngoại
cảnh, bạc bụng là do sự chín không hoàn toàn của nội nhũ. Ngoài ra, sự chênh
lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm cho hạt tích lũy tinh bột không đầy đủ
cũng là nguyên nhân gây ra bạc bụng. Ở nhiều vùng, nhiều quốc gia, hạt gạo
bạc bụng không được ưu chuộng.
- Chất lượng ăn uống: được đánh giá qua các chỉ tiêu: Hàm lượng
amylose, nhiệt độ hóa hồ, độ bền gel, độ thơm của gạo. Chất lượng nấu nướng
và ăn uống cũng tùy thuộc vào thị hiếu người tiêu dùng.
Amylose của tinh bột liên quan mật thiết đến đặc tính của cơm như: độ
nở, độ cứng, độ bóng và độ mềm. Kết quả nghiên cứu của viện công nghệ sau
thu hoạch cho thấy: các giống lúa gieo trồng ở đồng bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) có hàm lượng Amylose trung bình cao hơn so với các giống sử
dụng ở Đồng Bằng Bắc Bộ (ĐBBB). Các giống lúa đặc sản cổ truyền đặc biệt
là giống tám thơm của ĐBBB có hàm lượng amylose trung bình (21 – 23%)
(Nguyễn Thanh Thủy, 1999).
Tính trạng mùi thơm: mùi thơm là một trong những tính trạng quan
trọng quyết định đến giá trị thương phẩm và chất lượng ăn uống. Tính trạng
này dễ mất sau thời gian bảo quản. Mùi thơm của gạo do các hợp chất hóa
học tạo nên như este, xeton, aldehyt.
Nhiệt hóa hồ của gạo được xác định bởi nhiệt, khi hạt gạo ở khoảng
nhiệt độ nhất định tinh bột trong hạt gạo hút nước và trương lên, khi đó các
hạt tinh bột mất đi đặc trưng của chúng và trở lên trong suốt. Nhiệt hóa hồ của
hạt gạo từ 55- 790C ( Juliano, 1972) [ 59]. Ảnh hưởng của nhiệt hóa hồ đến


Thiamin

Riboflavin

Niacin

(mg)

(mg)

(mg)

0,33
0,61
0,11
2,40
0,21

0,11
0,14
0,06
0,43
0,07

5,60
5,0
2,4
49,9
4,2

Kem

(g)

(mg)

(mg)

0,21
0,27
0,07
2,20
-

6,0
5,2
2,8
43,0
9,5

3,1
2,8
2,3
25,8
4,0

(Nguồn Juliano, 1993)
Hơn nữa, trong lúa gạo không những có đầy đủ các chất dinh dưỡng
như các cây lương thực khác mà còn có các Vitamin, đặc biệt là nhóm các
Vitamin B. Lúa gạo cung cấp calo nhiều nhất trong các cây ngũ cốc. Nếu tính

chính: Tính biến dị di truyền, tính ổn định của một giống cây trồng.
2.3.2. Mục tiêu chọn tạo giống
Theo tác giả Nguyễn Văn Hiển (2000), muốn thực hiện thành công việc
chọn tạo giống, nhiệm vụ đầu tiên là phải xác định được mục tiêu cho từng
chương trình cụ thể. Công tác chọn tạo giống thường nhằm vào các mục tiêu
sau [11]:
- Chọn tạo giống mới phải có năng suất cao: đây là mục tiêu hàng đầu

của các nhà chọn tạo giống ở cây tự thụ phấn cũng như cây giao phấn, ở
giống thuần cũng như giống lai, đặc biệt việc sử dụng ưu thế lai của cây giao
phấn và cây tự thụ phấn.
- Chọn giống mới có chất lượng nông sản tốt, đặc biệt là chất lượng

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status