nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển một số dòng, giống khoai lang chất lượng tại huyện chợ mới tỉnh bắc kạn - Pdf 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG NGỌC MINH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG KHOAI LANG CHẤT LƯỢNG
TẠI HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn


LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Hoàng Ngọc Minh



Hoàng Ngọc Minh
1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài
Khoai lang (Ipomoea batatas (L) Lam), là cây trồng quan trọng được
trồng rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới như Châu Á, Châu Phi và
Châu Mỹ La Tinh.
Trong số các cây lương thực, khoai lang giữ một vai trò quan trọng
trong sản xuất lương thực ở những nước nông nghiệp nghèo, chậm và đang
phát triển (Trịnh Xuân Ngọ, Đinh Thế Lộc, 2004) [25]. Đặc biệt trong những
năm mất mùa hạn hán hay ở những vùng sản xuất khó khăn, khoai lang là cây
chủ lực giải quyết lương thực và thức ăn gia súc. Theo số liệu thống kê của
Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp của Liên Hợp Quốc, trên thế giới 77%
khoai lang sử dụng làm lương thực, 13% làm thức ăn gia súc, 3% làm nguyên
liệu chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như: luộc để ăn tươi, làm mứt,
làm bánh kẹo, nước giải khát, rượu, làm thuốc, dùng thay thế cho bột mì để
làm bánh bích qui (Cúc Phương, 2005) [27]. Phần thân lá ngọn vừa được sử
dụng làm rau xanh cho con người đồng thời là nguồn thức ăn tốt cho chăn
nuôi gia súc.
Ở Việt Nam khoai lang là một cây lương thực truyền thống đứng thứ ba
sau lúa, ngô và đứng thứ hai về giá trị kinh tế sau khoai tây. Khoai lang với
thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng thích ứng rộng, được trồng ở khắp

(Niên giám thống kê Bắc Kạn 2010) [30] cao nhất là năm 2008 đạt 612 ha và
thấp nhất là năm 2010 đạt 549 ha từ con số thống kê diện tích trên ta có thể
nhận thấy diện tích trồng khoai của Bắc Kạn đang có chiều hướng giảm sau
khi có chiều hướng tăng từ năm 2005 là 381ha vượt lên 532ha năm 2007
(Niên giám thống kê Bắc Kạn 2007). Một trong những lý do làm cho diện tích
khoai lang dao động như vậy là do nhu cầu sử dụng khoai lang trong nước
tăng lên và người dân bắt đầu nhận thấy lợi ích kinh tế từ việc trồng khoai
lang. Tuy nhiên hiện nay tại địa phương nguồn giống khoai lang còn rất hạn
chế, chủ yếu vẫn dùng giống địa phương nên năng suất`, chất lượng chưa cao,
và nguồn giống chất lượng ở bên ngoài thì chưa đủ để đáp ứng nhu cầu sản
xuất.
3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Vì vậy, để góp phần chọn tạo các giống khoai lang năng suất cao,
chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện địa phương, đáp ứng được nhu cầu
sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng
sinh trưởng và phát triển một số dòng, giống khoai lang chất lượng tại
huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn”
Mục tiêu của đề tài
Nhằm xác định được dòng khoai lang có năng suất và chất lượng cao phù
hợp với điều kiện sinh thái của Bắc Kạn để giới thiệu cho sản xuất tại địa phương.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nhà chọn giống nghiên
cứu và tham khảo, để chọn lọc những dòng, giống khoai lang tốt góp phần bổ
sung nguồn giống khoai lang cho nghiên cứu và sản xuất đại trà ở Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn
Đã chọn được 4 dòng khoai lang chất lượng là D25, D31, D7 và D3

trước công nguyên (Ugent, TPozrski (1983) [65], AustinD.E(1977), [34] và
Yên, D.E(1982)[59], và cây khoai lang thực sự được lan rộng ra sản xuất ở
Châu Mỹ, khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới.
Cây khoai lang (Ipomoea batatas (Lam)) là cây hai lá mầm thuộc chi
Ipomoea, họ Bìm Bìm Convolvulaceae, Purseglove J.W(1974) [49]; Võ Văn
Chi và cs, (1969)[1], Khoai lang là một loài cây nông nghiệp có các rễ củ lớn,
chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang và nó là một nguồn
cung cấp rau, củ quan trọng, được sử dụng ở cả hai vai trò là rau ăn và lương
thực. Các giống khoai lang trồng phổ biến hiện nay là thuộc loài Ipomoea
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

batatas, thuộc thể lục bội có bộ nhiễm sắc thể 2n = 6X = 90, với bộ nhiễm sắc
thể cơ bản là X = 15.
Khoai lang là loài cây thân thảo dạng dây leo sống lâu năm, có các lá
mọc so le, hình dạng lá phần lớn là hình tim hay sẻ thùy chân vịt. Các hoa
khoai lang có tràng hợp và kích thước loại trung bình (Mai Thạch Hoành,
(1998) [17]. Rễ củ ăn được, có hình dáng không ổn định thường là thuôn dài
và thon, lớp vỏ nhẵn nhụi có màu từ đỏ, tím, nâu, kem đến trắng là tuỳ thuộc
và các giống khác nhau và từng điều kiện sống. Lớp cùi thịt có màu từ trắng,
kem, vàng nghệ, cam hay đốm tím và có khả năng đề kháng với sâu bệnh
theo từng giống và điều kiện sống (Woolfe, J.A, 1992) [56].
1.1.2. Phân bố
Cây khoai lang được trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 40
0
Bắc đến 32
0
Nam và khoai lang cũng được trồng ở độ cao 3.000 m so với mặt
nước biển (Woofe J.A, 1992) [56]. Tuy nhiên, cây khoai lang vẫn được trồng

trồng đầu tiên ở An Trường, thủ đô tạm thời của đời Lê Trung Hưng (Hậu
Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa’’. Như vậy, khoai lang đã có
mặt và gắn bó với đời sống người dân ở nước ta cách đây khoảng 300 - 400 năm.
1.2. Đặc tính sinh vật học và yêu cầu sinh thái của cây khoai lang
1.2.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây khoai lang
Khoai lang là cây trồng có khả năng sinh sản hữu tính bằng hạt hay
sinh sản vô tính (Martin F.W và A.Jones, 1973 [46]; Vũ Đình Hòa, 1996)
[12]. Khoai lang có thể nhân vô tính rất dễ dàng ở các dạng: bằng đoạn thân,
đoạn cành, bằng ngọn và bằng củ. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp nhân vô
tính thường xuyên và lâu dài có thể làm cho giống bị thoái hóa, do ảnh hưởng
của môi trường và sự xâm nhập của vi khuẩn, vi rút phá hoại làm cho sức
sống bị suy giảm
Cây khoai lang sinh trưởng thích hợp với độ dài ngày, ngày ngắn là
điều kiện thích hợp cho quá trình phát triển, phát dục của cây khoai lang. Tuy
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhiên, các giống khác nhau có sự phản ứng khác nhau với điều kiện sống lên
phát dục ra hoa khác nhau. Một số giống ra hoa ở mùa vụ Xuân, Thu và Đông,
một số giống chỉ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn (vụ Đông), trong khi đó một số
giống lại không và khó ra hoa trong bất kỳ điều kiện mùa vụ khác nhau.
Theo các nhà nghiên cứu khoai lang trước đây cho rằng cây khoai lang
từ trồng đến khi thu hoạch có thể trải qua 4 thời kỳ sinh trưởng và phát triển:
mọc mầm ra rễ, sinh trưởng thân lá, phân cành kết củ và phình to của củ. Sự
sinh trưởng và phát triển đó chủ yếu bao gồm các quá trình sinh trưởng phát
triển thân lá và rễ củ. Giữa các thời kỳ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Lúc bắt đầu chuyển sang thời kỳ phát triển mạnh về thân lá cũng là lúc mà rễ
củ được phân hóa hình thành nhiều nhất, lúc thân lá phát triển đến mức cao
nhất thì sự hình thành rễ củ giảm dần, và lúc đó được xem như số củ trên một

- Nhóm giống lấy củ: Cho năng suất củ cao thường có phát triển củ sớm
và mạnh, có T/R <1 sớm và kéo dài.
- Nhóm giống lấy thân lá: cho năng suất thân lá cao, củ ít thường có
sinh trưởng thân lá mạnh và kéo dài, ra củ chậm và phát triển củ kém và
muộn, nên đạt T/R > 1 sớm và kéo dài.
- Nhóm giống trung gian: có sinh trưởng thân lá vừa và gọn, ra củ sớm,
tích luỹ củ kéo dài nên có tỷ số T/R đạt cao hơn 2 nhóm trên và xấp xỉ
gần bằng 1.
Sinh trưởng thân lá và phát triển củ là 2 thời kỳ quan trọng có mối quan
hệ mật thiết với nhau ở cây khoai lang lấy củ. Vừa có tác dụng xúc tiến vừa
có tác dụng khống chế lẫn nhau. Đó là mối quan hệ giữa thân lá và rễ củ, giữa
bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất và được biểu hiện bằng trị số
T/R. Để khoai lang sinh trưởng phát triển tốt cần điều khiển cho tỉ lệ T/R tăng
hay giảm phù hợp với từng đặc tính của từng loại giống.
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tùy thuộc vào từng loại giống, giống lấy dây hay giống lấy củ là chủ
yếu mà tỉ lệ T/R biến đổi khác nhau: Với giống lấy thân lá là chủ yếu thì tỉ lệ
T/R sớm đạt giá trị lớn hơn 1, nghĩa là khối lượng thân lá lớn hơn khối lượng
rễ củ. Còn những giống lấy củ là chủ yếu thì tỉ lệ T/R đạt giá trị nhỏ hơn 1,
thường từ giữa thời gian sinh trưởng đến khi thu hoạch có thể biến động từ
0,3 - 0,8, nghĩa là với những giống cho năng suất củ cao thời kỳ giữa và cuối
khi thu hoạch vật chất khô phải ưu tiên tập trung vận chuyển về củ, đó chính
là giai đoạn phình to của củ (Đinh Thế Lộc và cs, 1979) [22], (Mai Thạch
Hoành, 1998) [17]. Vì vậy phải điều chỉnh sao cho vật chất khô thời kỳ đầu
tập trung để phát triển thân lá, thời kỳ sau phải tập trung cho sự hình thành và
phát triển củ lớn lên.
Số củ trên cây được quyết định bởi thời kỳ phân hoá hình thành củ củ.

dự trữ về càng mạnh lên. Khi nhiệt độ quá thấp thân lá sẽ phát triển xấu, quá
trình tổng hợp chất hữu cơ về củ sẽ kém, làm ảnh hưởng đến quá trình tập
trung chất dinh dưỡng về củ dẫn đến củ bé hay nhiều xơ. Vì vậy tùy từng giai
đoạn sinh trưởng và phát triển của khoai lang mà chịu ảnh hưởng của điều kiện
khác nhau.
Ở miền Bắc nước ta do có mùa đông lạnh, nên khoai lang vụ Đông
Xuân hay vụ Đông thường bị ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ thấp trong
giai đoạn phân hoá ra củ, vì vậy khi trồng tránh vào ngày có nhiệt độ thấp và
cần có biện pháp chống rét như tăng thêm phân kali hơn để giúp cây nhanh
bén rễ, mọc mầm của cây. Khoai lang vụ Đông cần tranh thủ trồng sớm để có
nhiệt độ cao đầu vụ, tạo điều kiện cho thân lá sinh trưởng và củ phát triển sớm
để trong giai đoạn sau khi nhiệt độ xuống thấp, biên độ ngày đêm chênh lệch
thì củ dễ dàng phình to được(theo Mai Thạch Hoành 1998 [17].
- Nước:
Nhu cầu về nước đối với khoai lang trong từng thời kỳ sinh trưởng phát
triển là khác nhau, trung bình đất có độ ẩm dưới 80%.
Thời kỳ đầu: sự đòi hỏi về hàm lượng nước chưa nhiều, yêu cầu độ ẩm
đất thời kỳ này từ khoảng 70 - 80%, nếu ẩm độ cao quá (>90%) thì chậm cho
quá trình nảy mầm và ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành củ.
Thời kỳ phát triển thân lá: cây cần nhiều nước trung bình từ 75 - 80%
phục vụ cho quá trình quang hợp và tích lũy chất khô trong thân lá.
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thời kỳ phình to của củ: quá trình phát triển hình thành củ chủ yếu vào
sự vận chuyển, tích lũy chất hữu cơ từ thân lá vào củ, và để củ phát triển lớn
dần lên ở giai đoạn này, cây khoai lang cần đảm bảo độ ẩm đất 60 - 70% độ
ẩm tối đa đồng ruộng (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004) [25].
- Đất đai và dinh dưỡng

ít lúa gạo đi và tăng cường rau, củ khoai lang để duy trì tốt cho sức khoẻ.
Kết quả phân tích của Viện Dinh dưỡng - Bộ Y Tế (NXB Y học Hà
Nội, 2000) [32] cho thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng trong củ khoai lang
tươi so với khoai lang khô, các loại củ khác với gạo tẻ và rau muống là cao
hơn hẳn (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Thành phần dinh dƣỡng thực phẩm Việt Nam
3
Khoai
lang
tƣơi
Khoai
lang
nghệ
tƣơi
Khoai
môn
Khoai
sọ
Khoai
tây
Khoai
lang
khô
Gạo tẻ
Rau
muống
Năng lượng
(Kcal)
119
116

80
76,2
2,5
Xơ (g)
1,3
0,8
1,2
1,2
1,0
3,6
0,4
1,0
Can-xi (mg)
34
36
44
64
10
-
30
100
Phốt pho (mg)
49
56
44
75
50
-
104
37

0,03
0,03
0,05
0,07
0,03
0,09
VTM PP (mg)
0,6
0,6
0,1
0,1
0,9
-
1,6
0,7
VTMC (Mg)
23
30
4
4
10
-
-
23
Nguồn: Viện Dinh dưỡng Bộ Y Tế NXB Y học Hà Nội, 2000[32]
13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong những năm chiến tranh thiếu lương thực khoai lang được coi là

Khoai lang tươi
68
28,5
0,8
0,2
1,3
1,2
Khoai lang khô
11
80,0
2,2
0,5
3,6
2,7

Nguồn: Viện Dinh dưỡng Bộ Y Tế NXB Y học Hà Nội, 2000[32]
Khi phơi khô, rút gần hết nước, giá trị dinh dưỡng của khoai tăng hơn
nhiều. Trong 100g khoai lang khô có 11g nước, 2,2g protit, 0,5 lipid, 80g gluxit,
3,6g xenluloza, cung cấp cho cơ thể tới 342 calo (Bảng 1.2). Như vậy, khoai
lang là một lương thực và thực phẩm tốt, rất giàu tinh bột, nên thường được dùng
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

làm lương thực nuôi sống con người và làm nguyên liệu phục vụ cho chế biến
công nghiệp.
Đối với ngọn khoai lang làm rau xanh, trong 100g có 91,9g nước, 2,6g
protit, 2,8g gluxit, 1,4g xenluloza, 48mg canxi, 54mg phốtpho, 11mg vitamin
C. (Phùng Huy, Trịnh Viết Tỳ 1980) [18] và (Bùi Huy Đáp, 1984) [5] công bố
kết quả phân tích như sau: Thân lá khoai lang có 1,21% chất tươi Protein và

- Chất khô
Cũng như phần lớn các cây có củ khác, khoai lang có hàm lượng nước
cao trong củ. Do có hàm lượng nước cao nên hàm lượng chất khô thường
thấp, trung bình hàm lượng chất khô trong củ khoai lang xấp xỉ thường
khoảng 25 - 30% và có biến động lớn phụ thuộc vào các giống, thời tiết khí
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

hậu, tính chất đất đai và kỹ thuật trồng trọt mỗi mùa vụ (Giáo trình cây lương
thực, 1968) [29]. Chất khô ở củ khoai lang chứa 60 - 70% tinh bột và 80 -
90% Hydratcacbon.
- Tinh bột
Tinh bột là thành phần quan trọng của gluxit. Trung bình tinh bột trong củ
khoai lang chiếm tới 60 - 70% chất khô (Woolfe, 1992 [70]; Palmer, 1982) [47].
Hàm lượng tinh bột biến động mạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố
giống là quan trọng nhất. Theo (Cedera và cs, 1982) [38]. tại Brazin 18 giống
khoai lang trồng ở 1 địa điểm có hàm lượng tinh bột trong củ biến đổi từ 42,6% -
78,7% chất khô. Còn ở Philippines và Mỹ, hàm lượng tinh bột trong củ biến
động từ 33,2% - 72,9% chất khô.
- Gluxit
Thành phần chủ yếu của củ, thân lá khoai lang là gluxit, trong tổng
lượng chất khô của cây khoai lang gluxit chiếm tới 80% - 90% và 24% - 27%
chất tươi (Woolfe, 1992) [56]. Gluxit bao gồm tinh bột, đường (glucoza,
fructoza, sacaroza, mantoza) và các hợp chất pectin, hemixenluloza và
xenluloza (chất xơ) với lượng thấp hơn. Thành phần các chất này thay đổi phụ
thuộc vào giống, tuổi chín của củ, thời gian bảo quản, và thời điểm sử dụng
hay chế biến.
Trong quá trình bảo quản sau thu hoạch và chế biến, thành phần gluxit
sẽ ít nhiều bị thay đổi. Theo Wollfe (1992) [56] nơi trồng với các điều kiện

Xơ tiêu hóa bao gồm các hợp chất pectin, celluloza, hemicenlluloza;
hàm lượng xơ tiêu hóa trong khoai lang thay đổi phụ thuộc vào giống, điều
kiện đất đai ở đảo Tonga. Xơ trong các giống khoai lang chiếm 4% tổng chất
tươi, còn ở Mỹ xơ chiếm 3,6% tổng lượng chất tươi (Đinh Thế Lộc và cs,
1968) [20]. Đặc biệt trong chăn nuôi đại gia súc, xơ tiêu hóa đóng vai trò
quan trọng trong việc chuyển hóa thức ăn.
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Protein
Hàm lượng protein trong khoai lang không cao, ở khoai lang tươi hàm
lượng protein chiếm khoảng 0,8%, và 2,2% ở khoai lang khô. Nhưng do năng
suất thu hoạch cao nên sản lượng protein thu được trên đơn vị diện tích không
thua kém các loại cây trồng khác (Woolfe, 1992) [56]. Đặc biệt protein của
khoai lang thuộc loại có giá trị dinh dưỡng cao, gồm đầy đủ 8 loại axit amin
không thay thế rất cần thiết cho con người (Đinh Thế Lộc và cs, 1979) [21].
Tuy protein khoai lang chứa đầy đủ các axit amin nhưng nó có hạn chế
bởi thiếu axit amin chứa S và Lizin. Ví dụ ở giống khoai lang Lim trồng ở
Việt Nam là giống bị hạn chế về 2 loại axitamin này (Nguyễn Quốc Khang và
Lê Doãn Diên, 1984) [18].
- Các vitamin
Trong khoai lang hàm lượng Vitamin C chiếm tỉ lệ khá cao (axit ascorbic)
và chứa một lượng vừa phải thiamin (vitaminB1, Riboflavin (vitamin B2) vitamin
B6, axit pantothenic (vitamin B5), axit foclic và caroten (tiền vitamin A).
Hàm lượng caroten cao hay thấp phụ thuộc vào từng giống, theo Wang và
Lin, 1989 [55] các giống khoai lang Đài Loan có hàm lượng caroten biến động
từ 0,4mg - 24,8mg/100g chất tươi ở các giống có màu sắc ruột củ thay đổi từ
trắng đến vàng da cam. Ở nước ta theo số liệu công bố của Viện dinh dưỡng
(dựa trên số liệu của bảng thành phần dinh dưỡng của FAO dùng cho vùng Đông

được 2.777 mẫu giống (Bascusmo, Acedo, Mariscal và Oracion,1994) [35].
Tại nhiều Viện nghiên cứu ở Trung Quốc, số lượng giống trong tập đoàn
lưu giữ lên tới 3.000 mẫu và luôn được duy trì trên các ruộng, duy trì bằng in vitro
và bảo quản bằng in vitro (Xiao-Ding, Wang,Wu, Sheng, 1994) [57].
Việc khảo sát quỹ gen khoai lang không những mô tả về đặc trưng hình
thái của các mẫu giống, tất cả các mẫu giống đều được khảo sát về khả năng
cho năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất, hàm lượng chất khô, khả năng
chống chịu bọ hà và một số đặc tính khác. Qua khảo sát vật liệu khởi đầu của
19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trung tâm khoai tây Quốc tế thì trung tâm này cho biết ở khoai lang có sự
phong phú đa dạng về các tính trạng số lượng, năng suất củ, hàm lượng chất
khô, khả năng chống chịu bọ hà Đây chính là những tính trạng quan trọng
được các nhà nghiên cứu sử dụng trong công tác lai tạo giống khoai lang,
nhằm tạo ra nhiều giống khoai lang năng suất cao phẩm chất tốt, có khả năng
chống chịu sâu bệnh nhằm góp phần làm phong phú nguồn giống mới đáp
ứng được nhu cầu sản suất của người nông dân.
1.4.1.2. Nghiên cứu về giống khoai lang
Các nhà nghiên cứu chọn giống trên thế giới thấy rằng trong quá trình
phân bào giảm nhiễm luôn có sự cặp đôi của cặp nhiễm sắc thể tương đồng
(Bacusmo, Acedo, Mariscal and Oracion, 1994) [35]. Vì vậy những giả thuyết
về di truyền số lượng sử dụng với các dạng cây lưỡng bội cũng có thể áp dụng
đối với cây khoai lang thông qua phương pháp lai hữu tính, nhất là lai xác
định (Jones, 1994) [41].

1.4.2. Tình hình nghiên cứu khoai lang tại Việt Nam
Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá
và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông

VASI (Hà N ội)
1993 - 2004
-
528
FCRI (Hải Dương)
2004
-
118
H ARC (Đồng Nai)
1993
344
78
1993 - 2006
12.071 hạt lai
UAF (Hồ Chí Minh)
2006 - 2009
-
30
Nguồn: Niên giám thống kê nhà nước 2009[8]
Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiện trồng phổ biến là
HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14
(Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí
Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.
Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC)
và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-
2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao,
phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo,
21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status