Trêng ®¹i häc s ph¹m hµ néi 2
KHOA SINH - KTNN
**************
ĐỖ THỊ MẾN
NGHIÊN CỨU VIỆC KẾT HỢP GIÁO
DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH
NIÊN TRONG CHƯƠNG TRÌNH SINH
HỌC LỚP 8 Ở TRƯỜNG THCS YÊN
BÌNH VÀ TRƯỜNG THCS YÊN CHÍNH
HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý người và động vật
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ LAN
Hà Nội - 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
Lời cảm ơn
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô
giáo Th.S Nguyễn Thị Lan là người trực tiếp hướng dẫn và đã tận tình giúp
đỡ tôi hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này.
Đồng thời tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong
tổ bộ môn Sinh lý người và động vật, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN,
Đỗ Thị Mến
iii
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I. MỞ ĐẦU
4
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
8
CHƯƠNG1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
8
1.1. Cơ sở nghiên cứu
8
1.1.1. Tuổi dậy thì là gì?
8
HIV/AIDS
15
1.3. Giáo dục và chăm sóc sức khỏe sức khỏe sinh sản vị thành niên trên thế
giới và trong nước
17
1.3.1. Trên thế giới
17
1.3.2. Tại Việt Nam
18
1.3.3. Chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên
19
1.3.4. Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
20
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
21
iv
3.2.1. Kết quả điều tra nhận thức của học sinh lớp 8 ở trường THCS Yên
Bình và THCS Yên Chính trước khi được học chương trình sinh học 8.
53
3.2.2. Kết quả điều tra nhận thức của học sinh lớp 8 của trường THCS Yên
Bình và Yên Chính sau khi học chương trình sinh học lớp 8.
57
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
67
PHỤ LỤC
68
v
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 6. Kết quả nhận thức của học sinh khối thực nghiệm và khối đối chứng
sau khi học chương trình sinh học 8…………………………………….......54
Biểu đồ 1. So sánh nhận thức đúng giữa hai khối thực nghiệm và đối
chứng……………………………………………………………….....……..57
Biểu đồ 2. So sánh nhận thức sai giữa hai khối thực nghiệm và đối
chứng…………………………………………………………………….…..57
vii
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay Việt Nam trong thời kì hòa nhập quốc tế về kinh tế mở rộng
giao lưu văn hóa xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự
mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới là những hồi chuông
báo động về vấn đề liên quan tới sức khỏe sinh sản vị thành niên như: nạo phá
thai, có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục… Tuy
nhiên trong chương trình học của sách giáo khoa vẫn chủ yếu nặng về cung
cấp kiến thức cơ bản, nhưng ở lứa tuổi của cô cậu học trò mới lớn vẫn còn
nhiều vấn đề nóng bỏng bức xúc mà các em quan tâm như giáo dục sức khỏe
sinh sản thì vẫn chưa được đề cập nhiều. Giáo dục SKSS là một khái niệm dù
không mới nhưng không phải ai cũng hiểu về nó một cách đúng đắn và đầy
đủ. Ở Việt Nam, giáo dục SKSS cho học sinh phổ thông đã được tiến hành từ
khoảng 10 năm trở lại đây nhưng mức độ giảng dạy khác nhau tuỳ từng
trường, từng nơi, và do đó dẫn đến các ảnh hưởng khác nhau đến nhận thức
của học sinh và phụ huynh về môn học này.
Huyện Ý Yên là một trong chín huyện của tỉnh Nam Định, là vùng đệm
nằm giữa hai trung tâm kinh tế chính trị của hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình,
lại có hệ thống giao thông đường sắt và đường cao tốc đã khởi công chạy qua,
do vậy mà vấn đề tệ nạn xã hội như nạo phá thai, ma túy ngày càng gia
tăng… đang là vấn đề đau đầu của các ban ngành, đoàn thể. Hai xã Yên
Chính và Yên Bình là hai xã có nền kinh tế còn khó khăn và tỷ lệ các em học
hết cấp II ở nhà đi làm và lấy chồng còn khá cao. Mặt khác, do đời sống được
nâng cao nên tuổi dậy thì lại đến sớm hơn. Chính vì vậy, bộ giáo dục và đào
tạo đã biên soạn lại và tiến hành giảng dạy về cơ thể người ở lớp 8, mà không
phải lớp 9 như trước kia. Tuy nhiên, nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản mới
chỉ được bổ sung vào chương XI (sinh sản). Tôi thiết nghĩ, nếu bổ sung kiến
5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
thức về sức khỏe sinh sản vào từng chương cụ thể một cách có hệ thống và
đầy đủ thì chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên sẽ cao hơn. Sự
đổi mới này giúp trang bị sớm hơn, đầy đủ hơn những kiến thức cần thiết về
sức khỏe sinh sản cho các em đang ở tuổi dậy thì.
Việc cung cấp kiến thức sức khỏe sinh sản một cách đầy đủ và hệ thống
chắc hẳn sẽ đem lại cho giới trẻ nhiều lợi ích cho tương lai sinh sản hơn là tự
tò mò, tìm kiếm qua các trang web đen. Nếu được như vậy các bạn sẽ thấy
rằng sự thay đổi tâm sinh lý này đem đến cho bạn sự “khám phá” kỳ diệu của
cuộc sống.
Xuất phát từ những lý do trên cũng như nhận thức được ý nghĩa và tầm
quan trọng của vấn đề này, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU VIỆC
sản cho trẻ vị thành niên nói chung và cho học sinh lớp 8 trường THCS Yên
Bình và Yên Chính nói riêng.
7
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở nghiên cứu
1.1.1. Tuổi dậy thì là gì?
Tuổi dậy thì là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con
người. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn và được
đặc trưng bởi sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, chức năng, tinh thần, hành
vi, tình cảm, đánh dấu giai đoạn “hình thành giới tính” của con người và có
khả năng hòa nhập cộng đồng. Quá trình biến đổi này được gọi là dậy thì, và
giai đoạn này được gọi là vị thành niên [7].
Tại Việt Nam, tuổi dậy thì thường kéo dài từ 3 đến 5 năm, có thể chia
là 2 giai đoạn:
Giai đoạn trước dậy thì: Từ 11 - 13 tuổi đối với nữ; Từ 13 - 15 tuổi đối với
nam.
Giai đoạn dậy thì: Từ 13 - 15 tuổi đối với nữ; Từ 15 - 17 tuổi đối với nam.
Tuổi dậy thì ở nam và ở nữ có sự khác nhau. Nhìn chung, nữ dậy thì
sớm hơn nam khoảng 2 tuổi. Tuy nhiên có những em dậy thì sớm, nữ có thể
bắt đầu dậy thì từ lúc 9 tuổi; nam 10 tuổi, hoặc muộn hơn, nữ 17 - 18 tuổi,
nam 18 - 19 tuổi [12].
Giai đoạn dậy thì được đánh dấu bằng hành kinh (đối với nữ) và xuất
diệu của cuộc sống.
1.1.3. Đặc điểm sinh lý của nam và nữ
Những thay đổi ở tuổi dậy thì bắt nguồn từ một số chất có trong cơ thể,
đó là hoocmon. Hoocmon là những chất sinh hóa đặc biệt mang các tín hiệu
thông tin xuất phát từ não. Có hai loại hocmon chính tác động đến những thay
9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
đổi của tuổi dậy thì. Đó là: hoocmon tăng trưởng (Somatotropin) và hoocmon
giới tính (estrogen, testosterone). Các cơ quan tiếp nhận hoocmon nằm rải rác
khắp nơi trên cơ thể như: bộ phận sinh dục, xương, các bắp cơ, da và não [4].
Chính vì vậy đây là thời kỳ chúng ta được “giới tính hóa” theo chiều
sâu. Chính những hoocmon này làm cho cơ thể của bạn có sự thay đổi rất lớn:
cơ quan sinh sản phát triển, bạn sẽ cao hơn, hình dáng thay đổi từ ngực, da,
lông, tóc, giọng nói… cùng rất nhiều những thay đổi của đặc điểm sinh lý
khác. Dưới đây là một số biến đổi chủ yếu của các em ở tuổi dậy thì [6].
Sự phát triển và biến đổi về cơ thể ở tuổi dậy thì của nam và nữ:
Nam
Phát triển chiều cao, cân nặng
Nữ
Phát triển chiều cao, cân nặng
Vú không phát triển
Vú phát triển
Xuất tinh lần đầu tiên
Xuất hiện chu kì kinh nguyệt lần đầu
tiên
Tinh dịch đã có tinh trùng. Lúc này Đã có rụng trứng trong chu kì kinh
có khả năng làm bạn gái mang thai nguyệt. Lúc này có khả năng có con
nếu có quan hệ tình dục
nếu có quan hệ tình dục.
Tinh hoàn bài tiết ra hocmon Buồng
testosteron
trứng
bài
tiết
hocmon
estrogen và hocmon progesteron
1.2. Vai trò sức khỏe sinh sản
1.2.1. Định nghĩa sức khỏe sinh sản
Tại hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairo – Ai Cập tháng
9/1994 đã tán thành và chấp nhận định nghĩa về SKSS như sau: “Sức khỏe
sinh sản là một trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã
hội trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá
mẹ.
Với những nội dung nói trên, khái niệm SKSS có ý nghĩa xã hội, y học
sâu sắc vì đã nâng cao những yêu cầu bảo vệ chức năng đặc thù của phụ nữ là
chức năng sinh sản. Và sinh sản, xét về mặt đạo lý và giá trị cần được nhìn
nhận như là chức năng xã hội.
1.2.3. Vị thanh niên là ai? Sức khỏe sinh sản vị thanh niên
Vị thành niên (VTN), theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), là nhóm người
trong lứa tuổi 10 – 19 tuổi. VTN chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số Việt
Nam. Theo điều tra biến động dân số KHHGĐ 1/4/2005 thì VTN chiếm
21,2% dân số và là nước có tỷ lệ VTN cao nhất châu Á [10]. VTN được coi là
nhóm khỏe mạnh nhưng cũng được coi là nhóm dễ tổn thương trong các vấn
đề tai nạn, hút thuốc, vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục.
Sức khỏe sinh sản vị thành niên: Tuổi trẻ và sức khỏe vẫn là hai từ
được nhiều người cho là đồng nghĩa vì tuổi trẻ không dễ mắc các bệnh do vi
12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
khuẩn và bệnh ác tính nhưng nhiều cơ hội gây thiệt hại đến sức khỏe của tuổi
trẻ lại đang gia tăng do hành vi của tuổi trẻ.
Trên thế giới: Theo thống kê gần đây ở Mỹ hàng năm có đến hơn 1
triệu cô gái VTN mang thai, trong số này có hơn 80% chưa lập gia đình.Trước
đây nhiều người cho rằng sự bất cập trong đời sống tình dục của giới trẻ VTN
xuất phát từ cái nghèo và màu da. Đến nay, sự thật cho thấy đó là một nhận
định sai lầm: 2/3 VTN có thai là người da trắng sống ở đô thị và có thu nhập
trên mức nghèo. Chỉ có 50% hoàn tất bậc trung học, trên 50% sống nhờ vào
Năm 2009 hãng Kotex đã công bố kết quả điều tra của phụ nữ châu Á
về những hiểu biết của họ liên quan đến cơ thể mình. Cuộc điều tra tiến hành
trên 2,000 phụ nữ từ độ tuổi 16 đến 24 ở 6 quốc gia châu Á. Riêng tại Việt
Nam, 91% phụ nữ không hiểu hoặc hiểu biết sai lệch về chính cơ thể mình.
Có đến 71% bạn gái được hỏi cho rằng mặc áo ngực có thể gây bệnh ung thư,
62% không biết màng trinh là gì, 77% không thể trả lời các câu hỏi về thai
nghén, sức khoẻ sinh sản, giới tính… [12].
Một nghiên cứu về khảo sát các hành vi có hại cho sức khỏe ở 778 học
sinh tại một số trường cấp III ở nội thành TP Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy:
5,9% đã từng có quan hệ tình dục, trong đó nam chiếm 8,6%, nữ chiếm 1,4%.
Ở trường công lập tỷ lệ học sinh có quan hệ tình dục chiếm 3,1%, dân lập
chiếm 14,3% [7].
Các bậc cha mẹ có thể giật mình nếu biết rằng có tới 17,74% - 27,42%
số học sinh của trường THPT bán công Marie Curie đã từng xem phim sex,
trong đó có 27,2% qua phim ảnh, 23,32% qua internet, 17,74% qua ảnh chụp.
Và câu hỏi “Bạn đã từng quan hệ tình dục với người khác giới chưa?”, số học
sinh trả lời “có” chiếm tỷ lệ giật mình. Khối 10 là 4,55%; khối 11 là 5,04%;
khối 12 là 6,08% [7].
Thiếu hiểu biết về tình dục an toàn, và sức khoẻ sinh sản cũng là một
nguyên nhân dẫn đến tình trạng có thai ngoài ý muốn ở các bạn trẻ và việc
nạo phá thai tràn lan gây ảnh hưởng đến sức khoẻ. Theo thống kê của Hội kế
14
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
hoạch hoá gia đình, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
Tại Việt Nam, theo ước tính có khoảng 800000 đến 1000000 người
mắc bệnh lây qua đường tình dục mỗi năm, trong đó VTN và thanh niên
chiếm khoảng 40% [7]. Đây là một thực trạng cần báo động bởi khi mắc bệnh
lây qua đường tình dục có thể làm tổn thương tới những phần nằm bên trong
cơ thể của cơ quan sinh sản của cả nam và nữ, do các biến chứng của bệnh
gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: Vô sinh (không còn sinh con được
nữa), lây truyền sang con (khi người phụ nữ có thai), hoặc có thể dẫn đến tử
vong (HIV/AIDS; viêm gan virut B, C…) điều này gây ảnh hưởng đến sức
khỏe, tính mạng của người nhiễm bệnh đồng thời nó còn gây những hậu quả
nghiêm trọng về mặt kinh tế, xã hội và gia đình.
HIV là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (human immunodeficiency
virut) có nghĩa là “virut gây suy giảm miễn dịch ở người”. HIV là một loại vi
sinh vật xâm nhập vào các nhóm sinh vật sống và sử dụng các sinh vật này để
tự nhân bản. HIV gây bệnh AIDS (AIDS – acquired immunedeficency
syndrome có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch). Tới nay HIV/AIDS đã
trở thành đại dịch lan truyền tới hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới, bệnh
lan truyền lặng lẽ nó lây từ người này sang người khác, từ làng này sang làng
khác từ nước này sang nước khác không có biên giới bởi con người đi tới đâu
thì virut HIV đi tới đó. Đối tượng dễ bị nhiễm HIV nhất là người nghiện ma
túy (53%), hiện nay chủng loại ma túy đa dạng nên số người nghiện ma túy có
chiều hướng tăng lên và tập trung chủ yếu ở những thành phố lớn, các thị xã
[11].
Tại Việt Nam HIV/AIDS đã có mặt tại hầu hết các tỉnh thành trong cả
nước không kể đó là thành thị hay nông thôn. Tính đến ngày 31/8/2008, tổng
số trường hợp nhiễm HIV còn sống là 132048 người, trong đó có 27579
trường hợp đã chuyển sang AIDS và 40717 trường hợp đã tử vong do AIDS
thai ở tuổi VTN.
Chương trình “giáo dục đời sống gia đình” đã được thí điểm ở Châu Âu
từ thập kỷ 50 và hiện nay đã trở thành một trong những chương trình quốc
gia.
17
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
Năm 1984, Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đã hỗ trợ cho 52
quốc gia để thực hiện chương trình “Giáo dục đời sống gia đình”.
Năm 1995, UNFPA đã hỗ trợ cho 79 nước để thực hiện chương trình
“Giáo dục đời sống gia đình”. Một số nước: Ấn Độ, Kenia… có chương trình
quốc gia do Bộ giáo dục biên soạn bao gồm: phát triển dân số, sức khỏe, lập
kế hoạch cuộc sống, sinh lý sinh sản, tình dục, tránh thai, dinh dưỡng.
Tại Trung Quốc, nổi lên hàng đầu là nền giáo dục đồng đẳng: những
thanh thiếu niên cùng lứa tuổi trao đổi, học tập lẫn nhau những vấn đề tính
dục thiết thực trong cuộc sống. Hiện nay nhiều tổ chức quốc tế phi chính phủ
đang hoạt động tại nước này, trong đó có tổ chức Marie Stop China, một chi
nhánh của nhóm hoạt động phi thương mại Anh. Từ tháng 9/2003, tổ chức
này đưa ra một chương trình nhằm hướng dẫn giáo dục đồng đẳng về tính dục
và SKSS cho sinh viên 8 trường đại học ở Bắc Kinh, đào tạo 200 nhà giáo dục
đồng đẳng trong giới sinh viên.
1.3.2. Tại Việt Nam
Có thể nói rằng sự tiếp cận giáo dục SKSS ở Việt Nam đã bắt đầu từ
thập niên 60 khi nhà nước ta phát động cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch.
Sau đó với sự ra đời của các văn bản luật: Luật hôn nhân và gia đình (1986),
trí, bởi vì các trang này cũng có các mục sức khoẻ và xã hội đề cập đến vấn
đề về giới tính mà bạn quan tâm.
Một nguồn thông tin nữa mà các bạn trẻ, nhất là các bạn gái có thể sử
dụng để tìm hiểu thêm là từ bạn bè và cha mẹ. Nhưng không phải ai cũng sẵn
sàng nói chuyện này với mẹ mình và không phải bà mẹ nào cũng cảm thấy dễ
dàng khi đề cập đến vấn đề này với con gái.
1.3.3. Chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên
Trước hết phải đáp ứng yêu cầu hiểu biết những dịch vụ mà VTN cần
biết. Xác định trách nhiệm gia đình và xã hội đối với VTN, do đó việc giáo
dục giới tính có vai trò quan trọng đối với tuổi VTN.
Nội dung thông tin giáo dục truyền thông:
19
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đỗ Thị Mến K33A Sinh- KTNN
- Giáo dục giới tính, sức khỏe tình dục và sinh sản ở tuổi VTN
- Những nguy cơ do thai sản ở tuổi VTN.
- Cung cấp các thông tin về tránh thai ngoài ý muốn và phá thai không
an toàn.
- Cung cấp các thông tin và cách phòng chống các bệnh lây truyền qua
đường tình dục.
- Phổ biến vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh bộ phận sinh dục.
- Những nguy cơ dẫn đến vô sinh.
Tất cả những nội dung thông tin giáo dục truyền thông này đều rất cần
thiết với các em lứa tuổi VTN, giúp các em biết cách tự bảo vệ mình và tự
chăm sóc SKSS cho bản thân mình và cho cả những người thân xung quanh
1.3.4. Các hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
sinh (54 nữ, 48 nam).
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 198 học sinh ở lứa tuổi 13 – 15.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu là phương pháp điều tra
ngang, điều tra trên hàng loạt các em học sinh cùng lứa tuổi trong cùng 1 thời
gian, tại khu vực lựa chọn.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài
liệu lý luận về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu và bổ sung các kiến thức
về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào các bài ôn tập chương, thực
hành của chương trình sinh học 8 cơ sở.
Phương pháp thực nghiệm:
Điều tra thực trạng hiểu biết về sức khỏe sinh sản của học sinh lớp 8 ở
hai trường THCS Yên Bình và Yên Chính qua phiếu trắc nghiệm kiến thức
trước khi học về giáo dục sức khỏe sinh sản.
Điều tra thực trạng hiểu biết về sức khỏe sinh sản của học sinh lớp 8 ở
hai trường THCS Yên Bình và Yên Chính qua phiếu trắc nghiệm kiến thức
sau khi học xong chương trình sinh học 8 có bổ sung về giáo dục sức khỏe
sinh sản (lớp thực nghiệm) và lớp không được bổ sung về giáo dục SKSS (lớp
đối chứng).
Phương pháp xử lý số liệu: Dùng toán xác suất thống kê.
21