Điều tra thành phần sâu hại lúa, diễn biến và biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính trên lúa tại sóc sơn hà nội vụ xuân 2010 2011 - Pdf 31

Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng
PHẦN 1. MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước Việt Nam có bề dày lịch sử 2000 năm văn hiến, văn hóa lúa nước
được cha ông ta phổ biến rộng rãi từ rất sớm, buổi đầu dựng nước và duy trì
đến hiện nay. Nó được tập trung chủ yếu ở đồng bằng Sông Hồng và đồng
bằng Sông Cửu Long.
Nhắc đến Việt Nam, ta nghĩ ngay đến hình tượng cây lúa nước, loại cây
được xem là biểu tượng đặc trưng của văn hóa truyền thống của nước Việt
Nam xưa và nay. Cây lúa đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp lương thực
với mỗi người dân Việt Nam nói riêng và toàn dân Việt nam nói chung. Hơn
nữa, cây lúa nước còn góp phần không nhỏ trong việc thu nhập ngoại tệ cho
đất nước. Hiện nay nước ta là một trong những quốc gia hang đầu về sản xuất
lúa gạo, chỉ đứng thứ 2 sau Thái Lan.
Tuy nhiên trong thực tiễn nông nghiệp, cây lúa gặp phải rất nhiều dịch
hại trong đó có các loài sâu hại. Theo Hồ Khắc Tín (1982) [11], có 461 loài
sâu lúa, trong đó có khoảng 100 loài có hại, song gây hại chính cho cây lúa có
khoảng 20 loài. Sâu cuốn lá là một trong những loài gây bệnh chủ yếu làm
giảm đáng kể năng suất của lúa, đứng thứ 2 là rầy nâu…[11]
Trước tình hình đó công tác bảo vệ thực vật đã triển khai rộng rãi để
giảm tác hại do các loại sâu gây ra. Song do biện pháp phòng trừ chính là sử
dụng thuốc hóa học đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kẻ thù tự nhiên của
các loài sâu bệnh. Làm mất cân bằng sinh thái đồng ruộng, làm ô nhiễm môi
trường sống, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mặc dù biện pháp thủ công
và IPM đã được áp dụng nhưng chưa đem lại hiệu quả cao.
Vì vậy, để góp phần nhỏ bé vào công tác phòng trừ sâu bệnh làm tăng
năng suất cây lúa tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra thành phần sâu


đúng thời điểm gây bệnh từ đó đưa ra biện pháp phòng trừ hiệu quả, áp dụng
được chương trình IPM vào sản xuất nông nghiệp nhằm đem lại hiệu quả kinh
tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Lª §øc ThiÖn

2

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng
PHẦN 2. NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nghiên cứu về sâu hại lúa trên thế giới
1.1.1. Những nghiên cứu về rầy nâu
Có nhiều tác giả cho rằng khi không có lúa và lúa chét trên đồng ruộng
thì số lượng của rầy nâu giảm, do đó mà việc xử lý gốc rạ để hạn chế lúa chét
được coi là biện pháp có hiệu quả trong phòng trừ rầy nâu.
Khi nghiên cứu về di truyền tính chống chịu của cây lúa với rầy nâu,
qua nhiều tài liệu cho thấy Nhật Bản sớm nhận ra vai trò của giống chống
chịu, họ đã bắt đầu nghiên cứu từ năm 1968. Theo Ikeda và cộng sự [13] họ
đã phát hiện ra 2 gen chống chịu là Bph1 và Bph2.
Khi nghiên cứu về tỷ lệ giữa giống kháng và giống nhiễm trong cơ cấu
cây trồng Fernando [16] nhận xét: sử dụng nhiều giống kháng là một nguyên
nhân làm cho mật độ thiên địch nói chung giảm một cách đáng kể vì không có
sựu cân đối giữa vật chủ và con mồi. Sử dụng hợp lý giống chống chịu trong

Có khá nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái và biện pháp
phòng trừ các loài trong nhóm sâu đục thân lúa. “Theo Khan (1967), Fluvet
và Vanden Bosch (1987) cho thấy: biện pháp tích cực trong việc phòng trừ
sâu đục thân lúa và thay đổi thời vụ tránh hững cao điểm sâu xuất hiện trùng
với giai đoạn xung yếu của cây lúa, bên cạnh đó vấn đề vệ sinh đồng ruộng
cũng rất quan trọng” [Phan Cát dịch] [2].
Santanakani Job và Pathak (1967) cho thấy mối tương quan thuận giữa
chiều cao cây, chiều dài lá đòng, đường kính thân với tính mẫn cảm với sâu
đục thân. Còn mức độ ráp của bẹ lá, mức độ cuốn chặt với thân của bẹ lá,
thành phần hóa sinh trong cây cũng ảnh hưởng đến tính chống chịu của cây
lúa với sâu đục thân. Silic trong cây có tác dụng làm cây cứng cáp và hạn chế
những tác hại của sâu bệnh. Những giống có hàm lượng silic trong cây cao thì
ít mẫn cảm với sâu đục thân. TS. Rall (1978) còn cho rằng giống có tính
chống chịu sâu đục thân là do sâu gặp khó khăn sau khi vào thân rạ hẹp (Hà
Văn Chức dịch) [3].
1.2. Nghiên cứu về sâu hại lúa ở Việt Nam
Nghiên cứu về sâu hại cây trồng có giáo trình côn trùng nông nghiệp do
Hồ Khắc Tín chủ biên. Ông đã giới thiệu tất cả các loài sâu hại côn trùng
trong cuốn sách này.
Ở Minh Trí, Sóc Sơn có rất nhiều loài như sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, sâu
phao, sâu đục thân hai chấm, bọ xít hôi, rầy xanh đuôi đen… Trong đó phổ
biến là sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, sâu đục thân hai chấm và sâu phao.

Lª §øc ThiÖn

4

Líp: K33D – Sinh



nhả tơ bịt kín 2 đầu và làm nhộng bên trong. Phần lớn hóa nhộng trong kẽ lá

Lª §øc ThiÖn

5

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

già hoặc khe hở giữa các tép lúa. Nhộng chỉ có lớp tơ mỏng không có kén
đặc biệt.
Sâu cuốn lá gây hại ở giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, trổ bông. Những
loại giống lúa có bản lá rộng, thân mềm bị hại nặng. Ruộng lúa sử dụng phân
bón cao, đặc biệt dùng đạm nhiều cũng bị gây hại nặng.
Sâu thích tập trung gây hại ở những vùng lúa ven bờ, ruộng ven hồ
mương, gần thôn ấp.
Ngoài những giới thiệu về đặc tính sinh học của sâu cuốn lá nhỏ đã đề
cập, một số tài liệu còn cho thấy sâu cuốn lá nhỏ có xu tính hướng sáng nhưng
ít vào bẫy đèn (Cục BVTV, 1985), không thích ánh sáng trực xạ của mặt trời
vì vậy ban ngày nó ẩn lấp trong khóm lúa, bờ cỏ; ngài hoạt động giao phối, đẻ
trứng vào ban đêm (Hồ Khắc Tín, 1982) [11].
Theo tài liệu của cục BVTV năm 1985, trong điều kiện tự nhiên
của đồng ruộng Việt Nam, mỗi ngài đẻ trên 50 quả trứng, theo Hồ Khắc Tín,
1982 thì mỗi ngài trung bình đẻ 76 quả trứng, theo Hồ Thị Bích Lam, 1986
[7] mỗi ngài có thể đẻ tới 344 quả trứng. Sức đẻ của mỗi ngài còn phụ thuộc
vào điều kiện thời tiết, chủ yếu là nhiệt độ. Ở nhiệt độ 27,10C số trứng đẻ trên

Một số nghiên cứu cho thấy:
+ Sâu non cuốn lá nhỏ 1 tuổi: nhỏ bằng que tăm, đầu có màu đen.
+ Sâu non cuốn lá nhỏ 2 tuổi: từ đầu đen chuyển sang màu vàng.
+ Sâu non cuốn lá nhỏ 3 tuổi: từ màu vàng toàn thân chuyển sang bụng
có màu vàng.
+ Sâu non cuốn lá nhỏ 4 tuổi: 75% cơ thể có màu xanh.
+ Sâu non cuốn lá nhỏ 5 tuổi: toàn thân có màu xanh.
Mỗi cá thể trung bình vừa ăn vừa phá từ 5-9 lá (Hồ Khắc Tín, 1982).
Thời gian phát dục của pha sâu non từ 18-25 ngày, theo Hồ Khắc Tín, 1982
cho rằng pha sâu non từ 14-16 ngày.
Sâu non cuối tuổi 5 bắt đàu hóa nhộng, nhộng có màu vàng sang, trong
quá trình phát triển nhộng chuyển sang màu nâu, thời gian phát dục từ 6-8
ngày (Cục BVTV).
Như vậy bình thường vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ tử 29-41 ngày, tùy
theo mùa vụ, nhiệt độ và môi trường mà vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ dài hay
ngắn. Vậy, sâu cuốn lá nhỏ có vòng đời gồm 4 pha phát dục: Bướm  Trứng
 Sâu non  Nhộng.
Theo nhiều tác giả nghiên cứu cho rằng ở Việt Nam, pha nhộng sâu
CLN có 5 loài ong kí sinh. Pha sâu non có 4 loài ong kí sinh, pha trứng có 3

Lª §øc ThiÖn

7

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng


0,47

-

3,9

Lứa 2

-

2,31

2,5

1,5

3,8

5,0

Lứa 3

-

9,6

15,9

1,2


1,2

Lứa 6

37,2

9,1

13,2

4,1

60,3

2,2

1.2.2. Rầy nâu
Rầy nâu sinh sống chủ yếu trên cây lúa (Oryza sativa L.), nhưng ngoài
ra chúng còn phát triển trên 1 số giống lúa dại và cỏ môi Leersia hexandra.
Một vòng đời của rầy nâu dài hay ngắn còn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi
trường, nếu nhiệt độ 25oC thì vòng đời của rầy nâu khoảng 28 – 32 ngày còn
nhiệt độ 28oC thì khoảng 23 – 25 ngày. Tại vùng nhiệt đới thì khoảng thời
gian của 1 vụ lúa kéo dài từ 78 – 230 ngày tùy thuộc vào từng loại giống.

Lª §øc ThiÖn

8

Líp: K33D – Sinh

nhạt hình tam giác; giữa cánh có một chấm đen; từ đỉnh cánh đến mép sau có
một vệt xiên màu nâu đen, mép ngoài cánh có 9 chấm đen nhỏ; mắt kép, to

Lª §øc ThiÖn

9

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

đen. Ngài cái có thân màu trắng vàng hoặc vàng nhạt, cuối bụng có chùm
lông màu vàng nhạt, giữa cánh trước có một chấm đen.
Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại: Vòng đời của sâu đục thân
bướm 2 chấm từ 54-66 ngày. Nhiệt độ từ 19-25oC có:
+ Thời gian trứng: 8-13 ngày.
+ Thời gian sâu non: 36-39 ngày.
+ Thời gian nhộng: 12-16 ngày.
+ Thời gian ngài vũ hóa đến đẻ trứng: 3 ngày.
Ngài của sâu đục thân bướm 2 chấm có tính hướng sáng mạnh, vũ hóa
về đêm và sau đó giao phối ngay trong đêm đó và đêm sau có thể đẻ trứng,
ban ngày ẩn nấp, bị khua động thì bay sang cây khác. Ngài cái hoạt động
mạnh từ 19-20 h, ngài đực từ 23-1 h sáng. Mỗi ngài cái đẻ từ 1-5 ổ trứng (có
100-150 quả trứng/ổ). Một năm sâu đục thân bướm 2 chấm phát sinh 6-7 lứa.
Điều kiện nhiệt độ ấm nóng và ẩm độ cao thích hợp cho sâu phát sinh gây hại.
Sâu non xâm nhập vào bẹ lá vào thân cắt đứt đường vận chuyển dinh
dưỡng làm dảnh vô hiệu và bông bạc, ảnh hưởng đến cây lúa và năng suất lúa.

11

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, dụng cụ nghiên cứu
- Đối tượng:
+ Một số loài sâu hại lúa (rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai
chấm…) trên đồng ruộng xã Minh Trí, Sóc Sơn, Hà Nội.
+ Giống lúa Khang dân.
- Dụng cụ:
+ Vợt côn trùng (đường kính 0,5m; cán dài 1m).
+ Ống nghiệm
+ Lọ thủy tinh
+ Khay nhôm (20x20x5)
+ Kính lúp
+ Thước đo, sổ ghi chép và một số dụng cụ liên quan
2.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2011 đến tháng 5/2011.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Tại cánh đồng xã Minh Trí – Sóc Sơn – Hà Nội
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Trên đồng ruộng
Điều tra thành phần, diễn biến; thu mẫu ngẫu nhiên một số loại sâu hại

Tổng số cây (bộ phận) điều tra

x 100

Số cây/Số rảnh có sâu
- Tần suất bắt gặp sâu hại (%) =

Lª §øc ThiÖn

13

Số cây/Số rảnh điều tra

x 100

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Minh Trí, Sóc Sơn, Hà Nội
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
Minh Trí là một xã thuộc huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội. Đây là một
huyện ngoại thành và có điều kiện tự nhiên không được nhiều sự ưu ái của
thiên nhiên.
* Vị trí địa lý:


+ Đất lâm nghiệp : 6.185 ha chiếm 20,17 %.
+ Đất chuyên dùng : 5.000 ha chiếm 16,3%.
+ Đất còn lại là : 6.500 ha chiếm 21,12 %.
Trong đó đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng lúa và hoa màu ,đất
trồng cây hàng năm, đất nuôi thủy sản, đất làm vườn, trồng cây lâu năm.
3.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
3.1.2.1. Điều kiện kinh tế
Xã Minh Trí có đến 95,15% dân số làm nghề nông nên thu nhập chủ
yếu dựa vào nghề này. Tổng thu nhập bình quân đầu người tính bằng GDP
ước tính khoảng 4,7-6 triệu trên một nhân khẩu. Nhìn chung Minh Trí là một
xã nghèo, thu nhập dựa vào nông nghiệp là chính nên thấp. Việc tiếp thu
thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó
khăn, nhất là việc áp dụng IPM vào phòng trừ sâu bệnh càng gặp nhiều khó
khăn hơn.
3.1.2.1. Xã hội
Huyện Sóc Sơn có tổng số dân là 254000 người, số người trong độ tuổi
lao động là 162000 người, xấp xỉ 63%; trong đó số người sản xuất nông
nghiệp là 155000 người, xấp xỉ 95,17%.
Thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc kinh chiếm khoảng 98,12%.
Còn lại 1,88% là các dân tộc khác.
3.2. Tình hình diễn biến gây hại của sâu hại lúa vụ xuân 2011 tại Minh
Trí, Sóc Sơn, Hà Nội
3.2.1. Thành phần các loài sâu hại tại Minh Trí

Lª §øc ThiÖn

15

Líp: K33D – Sinh

2

Sâu ĐTHC

Schoenobius mcertellus Walker

Pyralidae

+++

3

Sâu đục thân 5

Chilo surpressalis Walker

Pyralidae

+

Chilotraea auricilia Pudgeon

Pyralidae

+

vạch đầu nâu
4

Sâu đục thân 5


+

8

Bọ xít xanh

Nezara viridula Linnaeus

Pentatomidae

+

9

Bọ xít đen

Scotinophora lurida Burm.

Pentatomidae

++

Bộ cánh đều (Homoptera)
10

Rầy nâu

Ninaparvata lugens Stal.



Oxyda inchicata Stal.

Acridiidae

++

14

Cào cào lớn

Acrida chinensis Westwood

Acridiidae

+

15

Cào cào nhỏ

Atractomorpha chinensis Bolivar Acridiidae

++

Ghi chú:

(+): Tần suất bắt gặp < 10%
(++): 10% < Tần suất bắt gặp < 30%
(+++): Tần suất bắt gặp > 30%

nhiễm (ha)

trừ (ha)

1

Sâu CLN

220

176

2

Rầy nâu

185

160

3

Sâu ĐTHC

185

170

Qua bảng 3.2 nhận thấy diện tích bị nhiễm sâu cuốn lá nhỏ là lớn nhất
(220 ha), tiếp theo là rầy nâu và sâu đục thân hai chấm (185 ha).


22/2

Cấy lúa

0

0

1/3

Bén rễ hồi xanh

0

0

15/3

Đẻ nhánh

3,6

1,79

6/4

Làm đòng

16,2


Đòng già

Trổ bông

Tỷ lệ hại (%)
70
60
50
40
30
20
10
0
Sâu CLN

Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hại sâu CLN qua các giai đoạn sinh
trưởng trên giống lúa Khang dân

Lª §øc ThiÖn

18

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng


8/3

Đẻ nhánh

0

15/3

Đẻ nhánh

1,2

22/3

Đẻ nhánh

3,4

29/3

Đẻ nhánh

7,4

6/4

Làm đòng

15,2



Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

140
120
100
80
60
40
20
0
Cấy Bén rễ Đẻ
Đẻ
Đẻ
Đẻ
Làm Làm Đòng Trỗ
lúa
hồi nhánh nhánh nhánh nhánh đòng đòng
già bông
xanh
Giai đoạn sinh trưởng

Hình 3.2. Diễn biến mật độ rầy nâu hại lúa trên giống lúa Khang dân

Qua bảng 3.4 và biểu đồ hình 3.2 cho thấy rầy nâu xuất hiện chủ yếu
khi lúa đẻ nhánh mạnh, mật độ tăng dần cho đến lúc trổ bông (119,4 con/m2).
Còn ở giai đoạn đầu, từ lúc cấy lúa đến bắt đầu đẻ nhánh, mật độ rầy nâu thấp
thậm chí không xuất hiện, dao động từ 0 – 1,2 con/m2.


22/2

Cấy lúa

0

0

1/3

Bén rễ hồi xanh

0,6

0,6

15/3

Đẻ nhánh

2,5

0,67

6/4

Làm đòng

4,3

Đòng già

Trổ bông

Tỷ lệ hại (%)
3.5
3
2.5
2
1.5
1
0.5
0
Sâu đục thân hai chấm

Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hại sâu ĐTHC qua các giai đoạn sinh
trưởng trên giống lúa Khang dân

Lª §øc ThiÖn

21

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

Qua bảng 3.5 ta thấy mật độ sâu ĐTHC tăng dần và đạt đỉnh cao ở giai

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

Biện pháp canh tác rất quan trọng từ khâu làm đất bón phân, thời vụ,
mật độ gieo cấy, chế độ nước, v.v, nếu làm đúng các biện pháp trên sẽ điều
chỉnh sự phát sinh quá mức của sâu bệnh hại nói chung và sâu cuốn lá nhỏ nói
riêng.
Biện pháp sinh học dựa vào tính đa dạng sinh học, sâu cuốn lá nhỏ có
rất nhiều loại ký sinh đặc biệt là các loài ong và nấm, vi khuẩn… Nên con
người đã lợi dụng thả thêm ong ký sinh, trứng trên đồng ruộng, phun nấm
hoặc vi khuẩn vào giai đoạn thích hợp.
Biện pháp hóa học là vũ khí cuối cùng phải sử dụng khi thời tiết thuận
lợi cho sâu bệnh bùng phát mà các biện pháp khác không đủ sức khống chế.
Khi sử dụng biện pháp hóa học cần thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng để tiết
kiệm chi phí mà hiệu quả phòng trừ sâu cuốn lá vẫn cao: đúng thuốc trừ sâu
cuốn lá - đặc biệt là ưu tiên cho các sản phẩm sinh học như VIBAMEC 1.8 &
3.6 EC, VIMATOX 1.9 EC là thuốc ít ảnh hưởng đến thiên địch, có tính thấm
sâu nhanh nên ít bị rửa trôi, pha thuốc theo liều lượng trên bao bì hướng dẫn.
Nên phun thuốc sau khi bướm nở rộ hoặc khi sâu tuổi nhỏ, nếu sâu đã
cuốn lá nằm trong tổ thì trước khi phun thuốc nên dùng cành tre phất nhẹ trên
đầu thảm lá lúa để tổ tung ra thì hiệu quả phun thuốc sẽ rất cao. Đối với sâu
cuốn lá lúa, khi phun thuốc cần phải chỉnh béc phun nhỏ và đưa vòi phun vừa
qua khỏi ngọn lá lúa để đạt được hiệu quả như mong muốn.
3.5. Biện pháp phòng trừ sâu đục thân hai chấm
Qua tìm hiểu và nghiên cứu diễn biến của sâu đục thân hai chấm tôi xin
đề xuất biện pháp phòng trừ như sau:

+ Regent 800WG hoặc Tango 800WG, liều lượng 2gr thuốc pha 24 lít
nước, phun cho 1 sào (500m2).
+ Marshal 200SC, liều lượng 50cc thuốc 30 lít nước, phun 1 sào.
Phun thuốc lần 1 khi sâu non nở rộ (hoặc lúa trổ lác đác). Nếu mật độ ổ
trứng cao phun lại lần 2 cách lần 1 từ 4 – 5 ngày).
Áp dụng nguyên tắc “4 đúng” trong sử dụng thuốc BVTV phòng trừ
sâu đục thân 2 chấm.

Lª §øc ThiÖn

24

Líp: K33D – Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

GVHD: Vò ThÞ Th­¬ng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Qua điều tra thu nhập tôi thấy thành phần sâu hại trên lúa tại Minh
Trí,. Sóc Sơn, Hà Nội vụ xuân 2010 – 2011 gồm có 15 loài thuộc 9 họ và 5
bộ.
2. Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau của lúa thì mật độ sâu và tỷ
lệ hại cũng khác nhau. Cụ thể:
+ Sâu cuốn lá nhỏ: Mật độ sâu tăng từ giai đoạn đầu đến khi làm đòng,
đỉnh cao nhất là giai đoạn đòng già sau đó giảm dần.
+ Rầy nâu: Mật độ rầy nâu tăng từ đầu vụ tới giai đoạn trổ bông, xuất
hiệ nhiều nhất vào giai đoạn trổ bông sau đó có xu hướng giảm dần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status