TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------------------
TRẦN THỊ THU
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG
TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------------------
TRẦN THỊ THU
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG
TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. GVC NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
HÀ NỘI - 2013
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 4
7. Đóng góp của khóa luận............................................................................. 4
8. Bố cục khóa luận ....................................................................................... 5
NỘI DUNG .................................................................................................... 6
Chương 1. Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh trong bối cảnh văn
xuôi đương đại Việt Nam ............................................................................. 6
1.1. Diện mạo chung của truyện ngắn đương đại ........................................... 6
1.2. Những chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người ................. 9
1.3. Nhà văn Phan Thị Vàng Anh và truyện ngắn ........................................ 10
Chương 2. Con người cô đơn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh ..... 13
2.1. Cô đơn do sự vệnh lệch giữa các thế hệ trong gia đình .......................... 14
2.2. Cô đơn vì bất hòa với môi trường sống.................................................. 20
2.3. Cô đơn do những hẫng hụt, lầm lạc ....................................................... 26
2.4. Cô đơn do khát vọng và hoài nghi ......................................................... 35
2.5. Cô đơn do suy tư về cái tôi bản thể. ...................................................... 39
Chương 3. Nghệ thuật thể hiện con người cô đơn trong truyện ngắn
Phan Thị Vàng Anh.................................................................................... 45
3.1. Nhịp điệu trần thuật chậm chạp, rời rạc ................................................. 45
3.2. Đối thoại lệch kênh................................................................................ 48
3.3. Độc thoại nội tâm .................................................................................. 50
KẾT LUẬN.................................................................................................. 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 57
MỞ ĐẦU
vn hc ũi hi nh vn phi nhỡn con ngi trong cỏc mi quan h i
thng, a oan v phc tp, khỏm phỏ con ngi khớa cnh i t bng
cp mt nhiu chiu v bng cỏch vit a thanh.
1.3. Trong bc tranh a sc ca vn hc ng i, Phan Th Vng Anh
c bit n t nhng nm 90 ca th k XX nh mt nh vn n c ỏo
v ti hoa. Ch thu hỳt ngi c bng s sc so ca mt nh vn tr, s
im tnh ca mt ngi tng tri v c s du dng, nng nn ca mt ph
n. Sc hp dn ca truyn ngn Phan Th Vng Anh c toỏt ra t cỏch t
nhng vn nhc nhi m õm trong i sng ng i, li k chuyn lụi
cun v trờn ht l cỏch xõy dng c nhng nhõn vt sng ng, chõn thc,
gn gi. Truyn ngn ca Phan Th Vng Anh tp trung khc ha hỡnh tng
con ngi cụ n- con ngi b v, lc lừng ngay trong chớnh cuc sng ca
mỡnh.
Vỡ nhng lớ do trờn, chỳng tụi la chn ti con ngi cụ n trong
truyn ngn Phan Th Vng Anh. Kt qu nghiờn cu s giỳp cho ngi vit
cú cỏi nhỡn ton din hn v truyn ngn Phan Th Vng Anh v ch cụ
n trong vn hc ng i. Qua ú, thy c ti nng v úng gúp ca tỏc
gi i vi s phỏt trin ca vn hc ng i. ng thi, ú cng l t liu
cn thit cho vic nghiờn cu, hc tp v ging dy vn hc Vit Nam giai
on sau 1975 hin nay c thun li v hiu qu hn.
2. Lch s nghiờn cu vn
Phan Thị Vàng Anh sáng tác truyện ngắn không nhiều nhng so vi
nhng cõy bỳt cựng th hệ, truyện ngắn của ch có sắc điệu riêng khá độc đáo.
Vì vậy, ngay từ tập truyện ngắn đầu tiên, ch đã c nhiều bạn đọc yêu thích
và các nhà phê bình chú ý. Có thể kể tên một số công trình và bài viết sau đây:
2
- Hunh Nh Phng, Sõn chi Vng Anh", trong Khi ngi ta tr,
Anh,
Ngun:
http//
Vuongdangbi.com..v..v...
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu, phê bình đều ít nhiều chỉ ra những nét
đặc sắc riêng của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh ở phng din ni dung
hay hỡnh thc. Nhng tt c mi ch l nhng nhn nh cú tớnh cht t vn
khỏi quỏt ch cha i sõu vo phõn tớch cỏc vn c th trong truyn
ngn Phan Th Vng Anh mt cỏch cú h thng. ú l nhng gi m, nh
hng b ớch cho vic tiếp cận, nghiên cứu con ngi cụ n trong truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh ca chỳng tụi có hiệu quả.
3
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh, thấy được tâm thái của con người trong thời đại mới- thời đại cái
tôi bản thể được phát huy tận độ; đồng thời, thấy được sự bén nhạy và linh
hoạt trong cách tiếp cận, thể hiện và lí giải nhiều vấn đề của đời sống, trong
đó có đời sống của lớp người trẻ tuổi.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, khám phá một số phương diện nổi bật về hình tượng con
người cô đơn trong các truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh.
- Khóa luận đi sâu phát hiện những yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện
hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh.
Phan Thị Vàng Anh.
5
CHƯƠNG 1
TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH TRONG
BỐI CẢNH VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Diện mạo chung của truyện ngắn đương đại
Phát triển trong không khí dân chủ, đời sống văn học sau 1975 đã bước
sang "một thời kì khác" (Nguyễn Kiên), thời kì mà giao lưu văn hóa được mở
rộng. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa tới bước phát triển
mới cho văn học nước nhà. Thông qua giao lưu hội nhập, văn học nước ta có
điều kiện tiếp xúc, lĩnh hội những giá trị đích thực, những thành tựu to lớn
của văn học thế giới. Các nhà văn có nhiều cơ hội để bộc lộ quan điểm và cá
tính sáng tạo của mình. Bên cạnh những cây bút đã trưởng thành qua hai cuộc
kháng chiến là sự xuất hiện của những cây bút trẻ hăm hở, xông xáo, đầy tài
năng và hoài bão. Không chỉ các nhà văn trong nước phấn đấu hết mình cho
sự nghiệp cách tân đổi mới nghệ thuật mà các nhà văn hải ngoại cũng góp
phần không nhỏ trong sự nghiệp chung của đổi mới văn học. Với cơ chế mở
cửa của nền kinh tế thị trường, số lượng sách báo tăng lên nhiều, việc in ấn
xuất bản, quảng cáo đã tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều tác phẩm mới.
Quan niệm về văn học thời kì này cởi mở hơn, gắn với cá tính sáng tạo
của người viết. Các nhà văn không thần thánh hóa văn chương, không đặt vào
đó quá nhiều hi vọng cao siêu. Văn chương cũng như một hiện tượng của đời
sống. "Văn chương sẽ sống cái sức sống của nó. Nhưng như tất cả mọi việc
trên đời này, văn chương cũng có giới hạn, có sự sáng lên, sự mất đi, có cái
cao cả cũng như cái bình thường" (Lê Minh Khuê). "Với tôi, văn chương là
một tôn giáo, nó không mang màu sắc chính trị nào cả. Nó là nỗi đau, là khát
vọng của con người" (Thái Thăng Long). Rõ ràng, cách nhìn văn học như một
nghiệm và cả sự phiêu lưu bút pháp trong khát vọng chiếm lĩnh thế giới vô
cùng rộng lớn và bí ẩn này.
9
Lch s vn hc nhỡn theo gúc no ú l lch s ca nhng quan
nim ngh thut khỏc nhau v con ngi. Vn hc giai on sau 1975, con
ngi cỏ nhõn phc tp v bớ n ó thay th cho kiu con ngi s thi, con
ngi cng ng trc ú. S thc tnh ý thc cỏ nhõn din ra mnh m ũi
hi phi nhỡn nhn li nhiu iu. Truyn ngn sau 1975 xut hin kiu con
ngi cụ n, kiu con ngi khụng trựng khớt vi chớnh mỡnh, con ngi
phc tp, nhiu chiu. Vỡ th em li cm giỏc mi ngi l mt tiu v tr
y bớ n khụng th bit trc v khụng th bit ht. t cú nhõn vt hon ho,
p ; núi ỳng ra nhng dng thc nhõn vt lớ tng b ln ỏt, lu m bi th
gii nhõn vt i thng, phm tc.
Nh vy, cú th thy, sau 1975 l giai on ý thc cỏ nhõn ca con
ngi tri dy mnh m, iu ú c phn ỏnh rừ nột trong vn hc.
1.3. Nh vn Phan Th Vng Anh v th loi truyn ngn
Phan Thị Vàng Anh sinh ngày 18 tháng 8 năm 1968 tại Hà Nội. Quê ở
huyện Cam Lộc, tỉnh Quảng Trị. Chị tốt nghiệp đại học Y khoa thành phố Hồ
Chí Minh năm 1993, hiện sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, là hội
viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1996. Nm 2005, ch c bu lm y
viờn ban chp hnh Hi nh vn Vit Nam nhim kỡ 7.
Phan Thị Vàng Anh là con gái của nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn V
Th Thng. y s kiờu hónh, thụng minh v mnh m, t tin, ú l chất văn
của cây bút trẻ này. Vàng Anh cũng thử sức trên nhiều lĩnh vực nh viết văn,
viết báo, viết kịch bản phim ... Chị làm việc rất nhiều, ngoài làm việc ở bệnh
viện, chị còn phát hiện và giúp các họa sĩ trẻ bán tranh của họ. Không những
thế, có một thời gian ngắn, Vàng Anh còn đi làm kế toán cho một siêu thị ở
sống. Họ không tìm được tiếng nói đồng điệu, cảm thông. Bởi thế con người
cảm thấy cô độc ngay giữa gia đình, bên cạnh người thân. Truyện Chị em họ
là một minh chứng. Mẹ luôn áp đặt suy nghĩ cho Thùy: “Buổi sáng, các dì,
cậu khen: “Thùy thật là chăm!”. Mẹ bảo: “Ui! Lười học lắm!”. Thùy ngồi
rửa rau, kêu to uất ức: “Con lười học hồi nào!”. Mẹ nghiêm mặt, ý bảo:
“Hỗn! không được cãi người lớn!”. Mẹ không lắng nghe để hiểu những suy
nghĩ của Thùy mà chỉ luôn luôn áp đặt, khiến trong lòng Thùy không được
thoải mái, mà tâm lí của những người trẻ tuổi, mới lớn như Thùy thường thích
làm theo ý mình. Mẹ không hiểu được điều đó khiến hai mẹ con cứ ngày càng
xa cách và bất đồng. Việc áp đặt của mẹ với Thùy cũng là cách làm của nhiều
cha mẹ khác, khi cuộc sống quá bận rộn, họ không có đủ thời gian để tâm sự,
lắng nghe những suy nghĩ của con trẻ. Đó cũng là nguyên nhân khiến những
người trẻ tuổi ngày càng cảm thấy cô độc.
Hai chị em Thùy và Hà, hai người cùng trang lứa, học cùng lớp mà lại
khác nhau hoàn toàn, luôn luôn bất đồng quan điểm: “Thùy đổ chậu nước, nó
14
nghĩ: “Không ai biết rõ nó bằng mình. Nếu mình kể ra nó ích kỉ, nó không có
bạn chơi, mọi người sẽ nói là mình ganh nó giỏi!”… “Chị làm thế làm gì,
việc tụi nó mà!”. Thùy đáp cụt lủn: “Rảnh thì làm!”, nó muốn nói thêm: “Tao
cũng không thích mày, mày trốn quét lớp luôn!”, rồi lại thôi…”. Chính cuộc
sống ngày càng đầy đủ về vật chất nhưng lại nhàm chán, cũ mòn về tinh thần
đã đẩy họ ngày càng xa nhau. Ngòi bút của Phan Thị Vàng Anh đã khám phá
một sự thực muôn thuở trong cuộc sống gia đình: mỗi người là một tính cách
khác nhau, nếu không chịu dung hòa, không biết nhường nhịn, họ mãi chỉ là
những cá thể đơn độc, không tìm được tiếng nói chung.
Mối quan hệ cha con cũng vậy. Có những cảnh huống tưởng như yên
bình mà giấu trong lòng nhiều giông bão. Đọc truyện ngắn Kịch câm, độc giả
vào chiều tối, thoải mái mà đi chơi và nhất là, nó đã có cái cớ mà đổ tội cho
những sai lầm nếu có, sau này”. Chính suy nghĩ trong một thực tế phũ phàng
này là nguyên nhân đẩy nó trượt dốc, tha hóa về đạo đức, nhân phẩm và lối
sống. Cái tế bào xã hội, điểm tựa tinh thần của mỗi cá nhân giờ đang bất ổn từ
bên trong. Con người ngày càng cô đơn, xa cách và không tìm thấy chỗ dựa
tinh thần.
Sự khác biệt thế hệ trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh còn được
thể hiện ở trong nhận thức của thế hệ trẻ đối với thế hệ cha anh. Ở truyện
ngắn Mưa rơi, từng câu chuyện nhỏ rơi thấm vào lòng người đọc như từng
giọt mưa rơi xuống mặt đất. Xoay quanh tình huống chính là sự việc con ốm,
mẹ chăm sóc con, rồi mẹ đi họp tổ hưu trí, con đưa mẹ về, thế mà câu chuyện
thế hệ hiện ra rõ mồn một: quan niệm về chiến tranh, quan niệm về văn
chương, quy luật sáng tạo văn học, quan niệm về tình yêu, cái nhìn của con
đối với mẹ và thế hệ mẹ, sự đánh giá, nhận xét của mẹ đối với con và thế hệ
của con. Đây là cảm tưởng của cô gái khi đèo mẹ ở buổi họp tổ hưu trí về:
“Tôi chở mẹ qua những ruộng rau muống, ếch nhái kêu ì uỗm, đi qua những
hàng tre bị mưa quật ngã, thấy sao lạ thế này, sao như chở một em bé từ vườn
16
trẻ về thế này cũng mong manh và cần thông cảm”. Ấy vậy mà giữa hai mẹ
con vẫn là cả một trời vô lí cách biệt. Bà mẹ không sao diễn tả nổi những gì
mình đã trải qua trong chiến tranh. Còn người con gái thì vẫn nhìn xoáy sâu
vào mọi chuyện khiến bà mẹ phải kêu lên là cô ác độc và những ám ảnh về
hạnh phúc không sao giải tỏa nổi: “Mẹ thở dài: Sao mà buồn quá! Ngay cả
những chuyện mình trải qua mà cũng không viết nổi”. Tôi gợi ý: “Hay mẹ ghi
lại những sự kiện, chị Túy con sẽ chuyển thành văn”. Mẹ gạt con mèo xuống
bàn cười to: “Để rồi chị mày sẽ nhìn tất cả những chuyện đã qua theo cái
cách giễu cợt của hôm nay hả?”.
giới trẻ hôm nay có một phần thuộc trách nhiệm của người đi trước. Gia đình
là tế bào của xã hội, và gia đình phải chịu một phần trách nhiệm đối với từng
thành viên mà nó cung cấp cho cái xã hội ấy. Khoảng cách giữa mẹ và con là
khoảng cách giữa hai thế hệ. Mẹ là người từng trải, con là kẻ mới bước vào
đời. Mẹ và con đều thứ tự, lần lượt bước vào dòng chảy lịch sử và dòng sông
cuộc đời như tất cả mọi người, mọi thế hệ chỉ khác nhau ở thời điểm trước –
sau và sự chi phối của bầu khí quyển thời đại khác nhau.
Mẹ của Lan trong câu chuyện Tình mẫu tử không nhân nhượng với Lan
trong kế hoạch “bỏ rơi” đứa bé. Cha của Lan không “yên lặng”, “bỏ ra vườn”
thì Lan phải xử sự với đứa trẻ bằng cách khác, tình mẹ con giữa Lan và thằng
Ân có lẽ ấm áp hơn. Với Lan, mẹ “vừa yêu thương lại vừa sợ sệt”, mẹ còn
ngụy biện cho Lan rằng: “nó còn phải lấy chồng!” Mẹ nào mà chẳng yêu con,
nhưng trong cuộc sống có những người mẹ yêu con không phải cách. Cái
cách yêu thương con của cha mẹ Lan về phương diện nào đó cũng là một sự
thỏa hiệp, chính nó đã tạo ra ở Lan thói ích kỉ, vô trách nhiệm, chỉ biết có
mình và cuộc sống trước mắt của bản thân. Để rồi thật đắng cay, Lan đã làm
mẹ mà không hề biết được chút hương vị ngọt ngào của tình mẫu tử.
Sự khác biệt trong suy nghĩ và hành động giữa hai thế hệ cha mẹ và con
cái là một khoảng cách lớn. Người trẻ tuổi hiếu thắng, thích mạo hiểm, thích
18
khám phá đôi khi đi ngược lại với kinh nghiệm của những người đi trước:
“Rốt cuộc, cả đám người trẻ tuổi trong nhà vừa quyết định vừa cười láu cá:
“Khỏi, thử một năm không nhặt lá, biết đâu hoa ra lác đác lại chẳng đẹp
hơn?”… Hai mươi tám tết bà cụ mới về… Bà cụ nhìn khoảng vườn còn rậm
rịt lá mai, lắc đầu: “Chúng mày đáng sợ thật”. Cả lũ lại cười”(Hoa muộn).
Sự lạc lõng giữa đám đông, giữa gia đình tác động mạnh mẽ lên tâm
hồn con người khiến con người từ chỗ cô độc có thể nổi loạn. Trong tình yêu,
Sự đổi mới trong tư duy nhận thức của người nghệ sĩ chính là động lực
thúc đẩy cái nhìn mới mẻ về cuộc đời và con người trong văn học sau 1975.
Nếu trước đây, cuộc đời được nhìn nhận trong sự trọn vẹn của lí tưởng thì giờ
đây, những gì là thô ráp, xù xì của đời sống cũng đã được chiếu rọi. Cuộc
sống không chỉ tồn tại hai thái cực duy nhất, những ranh giới rõ ràng mà có sự
xáo trộn, xen lẫn. Những trái nghịch, mâu thuẫn, éo le, bi hài của hiện thực
hậu chiến đã được phơi bày. Người ta không ngần ngại tái hiện tất cả những
gì đang hiện ra, kể cả những điều bấy lâu nay người ta kiêng kị, kể cả những
vết thương bấy lâu nay được giấu kín. Các nhà văn đã nhìn thấy trong cuộc
sống có rất nhiều gam màu: mảng sáng chen mảng tối, hiện thực xen quá khứ,
thực và giả, thật và mơ, cụ thể và trừu tượng, hạnh phúc và khổ đau, xiềng
xích và tự do. Người ta phát hiện một sự thực, cuộc sống chưa bao giờ là một
chỉnh thể thống nhất, chưa bao giờ hoàn tất, chưa bao giờ có chân lí cuối
cùng. Bức tranh hiện thực trong văn xuôi sau 1975 không còn là hiện thực
hào hùng, kì vĩ lớn lao nữa mà là một hiện thực đời thường nhất, trần thế nhất,
nghiệt ngã và tàn nhẫn nhất. Nhà văn đã phát hiện ra sự biến đổi của đời sống
xã hội không chỉ ở bề rộng mà ở cả bề sâu.
Khi người ta trẻ, người ta lúc nào cũng mong muốn một cuộc sống sôi
động, khao khát khám phá, hành động, ước mơ một cuộc đời đầy ắp hoạt náo,
nhưng ngược trở lại, truyện của Vàng Anh lại cho ta thấy một thực tế là con
20