MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lỗ Tấn, “tên kị binh của cách mạng” trong cuộc vận động Ngũ Tứ
(1919), người mở đường của văn học hiện đại Trung Quốc. Với quan niệm
văn học là một thứ vũ khí hữu hiệu dùng để cải tạo nhân sinh, cải tạo xã hội,
Lỗ Tấn đã trở thành một trong những cây bút có sức chiến đấu dẻo dai, kiên
nghị, quật cường nhất trong trận chiến đánh đổ nền thống trị của giai cấp
phong kiến giành độc lập tự chủ cho dân tộc.
Lỗ Tấn sáng tác trên rất nhiều thể loại và thể loại nào cũng để lại dấu ấn
đậm nét: Một cây bút tạp văn tinh tế, một hồn thơ ý vị đậm đà, một nhà viết
kịch tài ba, một nhà phê bình nổi tiếng. Tuy nhiên, trong tất cả các thể loại
trên thì truyện ngắn được coi là đặc sắc và tiêu biểu hơn cả. Với ba tập: Gào
thét (1923), Bàng hoàng (1926), Chuyện cũ viết lại (1935), “danh thủ truyện
ngắn thế giới” - Lỗ Tấn đã đóng góp cho nền văn học hiện đại Trung Quốc
nhiều tiếng nói mới mẻ được viết lên bằng phong cách độc đáo “không thể bắt
chước được”. Với tất cả những đóng góp đó, Lỗ Tấn không chỉ là “nhà văn
Trung Quốc trăm phần trăm mà còn là nhà văn của thế giới”.
Trong truyện ngắn Lỗ Tấn, người trí thức là một trong những hình tượng
nhân vật tiêu biểu nhất. Thông qua số phận, đặc điểm của nhân vật trí thức Lỗ
Tấn đã phản ánh xã hội Trung Hoa trong thời kì quá độ lột xác khỏi cơ thể
phong kiến già nua cũ kĩ đầy sinh động, sâu sắc. Đó chính là tiếng “gào thét”,
là trạng thái “bàng hoàng” trước những căn bệnh tinh thần của “xã hội bệnh
tật”. Khai thác từ phương diện hình tượng nhân vật chính là một hướng đi hợp
lí để có thể khám phá thế giới tư tưởng mà nhà văn đã gửi gắm trong tác phẩm
cũng như thấy được những đóng góp của tác giả với nền văn học dân tộc.
1.2. Việc chọn và thực hiện đề tài “Hình tượng nhân vật trí thức trong
truyện ngắn của Lỗ Tấn”, theo tác giả khóa luận, còn mang những ý nghĩa sư
phạm và thực tiễn quan trọng. Ở Việt Nam, Lỗ Tấn là một trong số tác giả
văn học nước ngoài được nhiều người biết đến. Một số truyện ngắn của ông
1
2
rằng: “Tác phẩm của ông có mang tính hiện thực và tính châm biếm tuyệt
diệu ở giọng điệu”.
Ở Việt Nam, “Lỗ Tấn đến Việt Nam tương đối muộn”. Đó là lời nhận
xét của giáo sư Đặng Thai Mai, người có công khai sơn phá thạch trong việc
nghiên cứu, giới thiệu Lỗ Tấn và văn học hiện đại Trung Quốc ở Việt Nam.
Tuy nhiên dường như yếu tố thời gian không thể cản trở được sức hấp dẫn
của Lỗ Tấn cũng như niềm đam mê nghiên cứu về nhà văn vĩ đại này của các
nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam. Hàng loạt công trình nghiên cứu
về Lỗ Tấn cũng như tác phẩm của ông ra đời, trong đó đặc biệt phải nhắc đến
những công trình nghiên cứu của giáo sư Đặng Thai Mai như Lỗ Tấn thân thế
văn nghiệp và một số tác phẩm dịch (Khổng Ất Kỉ, Lễ cầu phúc,…). Những
công trình ấy đã đem đến cho độc giả Việt Nam những nhìn nhận ban đầu và
sự hiểu biết về Lỗ Tấn. Sau Đặng Thai Mai, nghiên cứu về thi pháp Lỗ Tấn ở
Việt Nam có giáo sư Lương Duy Thứ. Đó là các công trình như: Lỗ Tấn - tác
phẩm và tư liệu, Thi pháp Lỗ Tấn, Lỗ Tấn phân tích tác phẩm. Ngoài ra còn
rất nhiều bài viết khác của giáo sư về Lỗ Tấn được đăng trên báo. Trong các
công trình của mình giáo sư Lương Duy Thứ đã có những đánh giá khá sắc
nét và đầy đủ về văn chương Lỗ Tấn trên các phương diện như: vấn đề chống
phong kiến, chống đế quốc, đặc điểm kết cấu trong truyện ngắn Lỗ Tấn…
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về Lỗ Tấn chúng tôi thấy rằng
các nhà nghiên cứu không chỉ chú trọng khai thác về cuộc đời, nhân cách
cũng như thi pháp truyện ngắn của nhà văn mà còn chú ý tới cả các hình
tượng nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm của Lỗ Tấn, đặc biệt là hình tượng
người trí thức.
Tác giả Lý Hà Lâm, trong Lỗ Tấn - Thân thế - tư tưởng - sáng tác (NXB
Giáo dục - Hà Nội, 1960) đã cho rằng: “Trong nước Trung Quốc cũ, cuộc
sống của tầng lớp trí thức tiểu tư sản vô cùng đau khổ, số phận rất bi thảm.
Nghiên cứu cơ sở xuất hiện, đặc điểm và nghệ thuật khắc họa hình tượng
nhân vật trí thức được đề cập trong truyện ngắn Lỗ Tấn. Từ đó có được cái
nhìn đúng đắn về tài năng của nhà viết truyện ngắn tài ba cùng cái nhìn sâu
sắc về xã hội Trung Quốc.
4
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận này chính là hình tượng nhân vật
trí thức trong truyện ngắn của Lỗ Tấn.
4.2. Phạm vi khảo sát
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tập trung khảo sát ba tập truyện ngắn của
Lỗ Tấn là: Gào thét (1923), Bàng hoàng (1926) và Chuyện cũ viết lại (1935).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh, tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận
Qua việc nghiên cứu các vấn đề xoay quanh hình tượng nhân vật trí thức,
tác giả khóa luận muốn đóng góp thêm cho người đọc cái nhìn toàn diện, sâu
sắc về cuộc đời và số phận của những người trí thức trong xã hội Trung Quốc
phong kiến nửa thuộc địa cũng như mong muốn làm rõ những tư tưởng mà Lỗ
Tấn gửi gắm thông qua hình tượng nhân vật này.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 2
chương:
Chương 1. Đặc điểm của hình tượng nhân vật trí thức trong truyện ngắn
của Lỗ Tấn.
Chương 2. Nghệ thuật khắc họa hình tượng nhân vật trí thức trong
và thể hiện một tư tưởng, tình cảm nào đó” [1, tr.190].
Hình tượng nhân vật trí thức được Lỗ Tấn miêu tả trong truyện ngắn của
mình đều là những con người tiêu biểu trong xã hội Trung Quốc đương thời.
6
Thông qua những con người ấy, Lỗ Tấn đã thể hiện quan điểm nghệ thuật về
con người, về cuộc sống trong xã hội phong kiến Trung Hoa một cách sâu sắc.
1.2. Đặc điểm của hình tượng nhân vật trí thức trong truyện ngắn của
Lỗ Tấn
1.2.1. Cơ sở xuất hiện
Văn học là một yếu tố nảy sinh từ văn hóa, là tấm gương phản chiếu mọi
biến thái của đời sống xã hội và là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của người
nghệ sĩ. Dù muốn hay không, các nhà văn cũng phải đưa vào tác phẩm của
mình những mảng đời sống hiện thực của thời đại mà mình đang sống. Bởi
vậy, không có gì là khó hiểu khi hình tượng người trí thức trở thành một trong
những hình tượng nhân vật trung tâm, được xây dựng nhiều nhất trong văn
học Trung Quốc nghìn năm phong kiến. Từ Kinh thi cho đến thơ đời Đường,
tiểu thuyết Minh Thanh đều xuất hiện bóng dáng của tầng lớp trí thức. Đó có
thể là một “sĩ tử” cất lời oán trách bậc đại phu bất công bắt anh ta ngược xuôi
tháng ngày vì việc vua:
“Kẻ thì thư thả an nhàn,
Người thì việc nước lo toan một đời.
Kẻ thì êm ả nằm chơi,
Người thì tất tả ngược xuôi dặm trường.
Kẻ thì chẳng biết đau thương,
Người thì đau khổ mọi đường âu lo.
Kẻ thì dạo mát nhởn nhơ,
Người thì trăm việc như tơ rối bời”.
sản mại bản và tư sản quan liêu của tập đoàn phản động Tưởng Giới Thạch cấu
kết với nhau biến Trung Quốc thành một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến.
Ở thời kì này, cái cũ đã suy tàn nhưng còn đeo đẳng, cái mới xuất hiện nhưng
còn non yếu, cuộc đấu tranh không cân sức giữa cái cũ và cái mới trở nên căng
thẳng. Đôi khi cái cũ tạm thời chịu thua song nó lại tạo nên những vết thương
lòng xã hội, gây ra bi kịch cho dân tộc. Cả dân tộc Trung Hoa đang trong hành
trình vật vã tìm đường. Những sự kiện lịch sử trọng đại liên tiếp diễn ra: dư âm
8
của Cách mạng Tân Hợi (1911), âm vang của Cách mạng tháng Mười Nga
(1917), không khí sục sôi của phong trào Ngũ Tứ (1919), sự ra đời của Đảng
Cộng sản Trung Quốc (1921) đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và con
người Trung Hoa, đặc biệt là người trí thức. Trong hoàn cảnh xã hội đầy biến
động, bản chất dao động, thỏa hiệp của họ cũng thể hiện khá rõ. Song nhìn
chung họ chính là đối tượng được xã hội trân trọng và là đề tài được nhiều nhà
văn đặc biệt quan tâm, trong đó có Lỗ Tấn.
Hơn thế nữa, là một người trí thức, Lỗ Tấn có ưu thế rất lớn trong việc
khai thác đề tài về người trí thức tiểu tư sản. Ông viết rất nhiều về đề tài
này, nhất là trong tập truyện ngắn Bàng hoàng (1923). Khi viết về người trí
thức tiểu tư sản, tức là Lỗ Tấn đang viết về chính mình nên nhà văn đã viết
với tinh thần tự phê phán rất nghiêm túc. Cũng chính vì thế mà trong sáng
tác của ông, người trí thức hiện lên rất cụ thể, chân thực, sống động đầy sức
hấp dẫn và chinh phục trái tim của bao thế hệ người đọc.
1.2.2. Đặc điểm của hình tượng nhân vật trí thức
“Người trí thức là người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức
chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình” [12, tr.1280]. Đối
với nhiều nhà văn đương thời khác, họ thường khai thác đề tài người trí thức để
nói lên những vui buồn hờn giận, những tình cảm riêng tư hay để ca ngợi cuộc
Tiêu biểu cho loại trí thức này chính là nhân vật Mặc Tử trong truyện Phản
đối chiến tranh. Mặc Tử hiện lên trong tác phẩm vừa là người có tài trí lại vừa là
người có đức độ. Ngay khi nghe tin Công Thâu Bàn làm thang mây cho nước Sở
để đánh nước Tống, Mặc Tử đã cấp tốc lên đường sang nước Sở không quản
đường sá gian nan, vất vả: “Khi đi vào biên giới nước Tống, thì đôi giày cỏ đã ba
bốn lần đứt dây, bàn chân cứ bỏng rát lên. Mặc Tử bèn dừng lại nhìn xem, đế
giày đã vẹt đi một mảng to, bàn chân mấy chỗ thành chai, mấy chỗ phồng lên,
nhưng ông ta không để ý đến, cứ đi” [11, tr.397]. Đi đến thành Sính, Mặc Tử lúc
này “thật giống như một lão ăn mày “cựu triều”, quần rách áo vá, hai bàn chân
bó giẻ” [11, tr.400]. Để thuyết phục Công Thâu Bàn không chế tạo thang mây
đánh nước Tống Mặc Tử không đưa ra những lời lẽ hoa mĩ mà ông lại khéo léo
10
đưa Công Thâu Bàn vào một hoàn cảnh để từ đó Công Thâu Bàn có thể nhận ra
được bản chất đích thực của việc giúp vua Sở đánh nước Tống:
“Mặc Tử trầm tĩnh nói:
- Phương Bắc có người làm nhục tôi. Muốn đến nhờ ngài giết hộ cho.
Công Thâu Bàn có vẻ không được vui.
Mặc Tử lại nói tiếp:
- Tôi xin biếu ngài mười đồng bạc.
Câu nói đó làm cho Công Thâu Bàn không cầm nổi giận. Ông ta sa sầm
mặt xuống, lạnh lùng trả lời:
- Vì nghĩa, tôi không giết người được.
Mặc Tử rất cảm động, đứng dậy, vái hai vái, rồi nói tiếp, giọng vẫn trầm
tĩnh:
- Thế thì hay quá! Nhưng tôi xin có mấy lời. Tôi ở phương Bắc, nghe nói
ngài đang chế tạo thang mây để đánh nước Tống. Nước Tống nào có tội gì?
Nước Sở thì đất có thừa, mà người lại thiếu. Giết cái mình thiếu để cướp cái
ba, thì các miếng gỗ của Mặc Tử đã tiến vào phía trong vòng thắt lưng. Vua
Sở và các thị thần tuy không hiểu đầu đuôi ra làm sao cả, nhưng thấy Công
Thâu Bàn vứt các miếng gỗ xuống nước, mặt ỉu xìu, thì cũng biết được rằng
ông ta cả hai mặt, công cũng như thủ, đều thua cả” [11, tr.405]. Ngay cả đến
suy nghĩ, tính toán trong lòng Công Thâu Bàn, Mặc Tử cũng đều biết rõ và
sắp đặt phòng thủ đâu vào đấy: “Ý ông Công Thâu Bàn là muốn giết thần, cho
rằng giết chết thần thì nước Tống sẽ không có người phòng thủ nữa, có thể tấn
công được. Nhưng ba trăm người học trò của thần, như Cẩm Hoạt Ly chẳng
hạn, đều nắm được khí giới phòng thủ của thần rồi. Họ đang đứng trên thành
nước Tống, chờ kẻ địch từ nước Sở kéo sang. Như vậy, dù có giết chết thần,
cũng không tấn công nổi” [11, tr.406].
Tóm lại, qua nhân vật Mặc Tử ta thấy hình tượng nhân vật trí thức hiện
lên là một con người ưu việt, tài trí, hết lòng vì dân, vì nước. Tuy nhiên điều
đặc biệt của hình tượng nhân vật này chính là ở chỗ đây không phải là hình
ảnh của người trí thức sống cùng thời đại với Lỗ Tấn. Đó đều là những trí
12
thức xưa được nhà văn viết lại trong tập Chuyện cũ viết lại. Phản đối chiến
tranh chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu kể về chuyện Mặc Tử một triết gia của Trung Quốc cổ đại, người nước Lỗ, ở vào khoảng thời Xuân
thu - Chiến quốc, sang nước Sở phản đối chiến tranh. Viết về người trí thức
tài trí, hết lòng vì dân, vì nước của Trung Quốc thời cổ đại phải chăng Lỗ Tấn
muốn chỉ ra những ưu điểm, khả năng của người trí thức để từ đó thức tỉnh
những trí thức đương thời trong công cuộc đấu tranh cách mạng?
* Những nho sĩ cuối mùa - con người thừa, cặn bã của xã hội
Xã hội Trung Quốc nửa phong kiến, nửa thuộc địa đã được Lỗ Tấn nhận
định rằng: “Sự hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là cái thai
đang lớn lên trong thân hình nàng công chúa phong kiến Trung Hoa. Tiếc
rằng đó là một quái thai giữa chiến thần đế quốc phương Tây và nàng công
xồm, rối như mớ bòng bong. Áo tuy là áo dài nhưng vừa bẩn lại vừa rách,
hình như hơn mươi năm nay chưa hề vá mà cũng chưa hề giặt” [11, tr.54]. Ở
quán rượu Hàm Thanh, hầu hết những người đứng uống rượu trước quầy đều
là những bạn áo cộc. “Chỉ có những vị khách áo dài mới đi vào tận phòng
trong gọi rượu, gọi thịt, ngồi uống khề khà” [11, tr.53]. Trong bức tranh đối
lập rõ ràng giữa áo cộc và áo dài, ở trong và ở ngoài đó thì Khổng Ất Kỉ là
người duy nhất đứng uống nhưng lại mặc áo dài. Chiếc áo dài không cho lão
tư cách để được khệnh khạng bước vào trong gia nhập hàng ngũ những người
giàu sang quyền quý nhưng lão vẫn chưa quên mình là người có “học”. Vậy
nên, Khổng Ất Kỉ không chịu trút bỏ cái áo dài vừa bẩn, vừa rách. Hơn thế
nữa, hễ cứ mở miệng ra là “chi hồ giả dã”, nói những câu khó hiểu “Quân tử
cố cùng”. Thậm chí khi sa vào con đường trộm cắp, vẫn còn lớn tiếng cãi bừa:
“lấy sách không phải là ăn cắp” vì “có biết chữ mới lấy sách chứ” [11, tr.55].
Nền giáo dục phong kiến đã giáo dục Khổng Ất Kỉ, làm méo mó nhận thức của
anh ta, biến anh ta trở thành con người lạc lõng trong xã hội, chỉ biết nói những
câu khuôn mẫu trong sách vở mà không biết lao động để nuôi sống bản thân.
Đoạn gần cuối truyện gây cho người đọc nhiều cảm xúc nhất. Một dạo
lâu lắm, không thấy Khổng Ất Kỉ đến quán Hàm Thanh, bỗng vào một ngày
14
đông giá rét thằng nhỏ nghe tiếng ai gọi: “Hâm cho một chén rượu nhé!”. Nghe
tiếng quen nhưng không nhận ra là ai. Thảm thiết thay cho tiếng gọi rượu ấy,
nó cất lên từ dưới đất chứ không phải ở ngang tầm mắt người. Vì bị cụ cử họ
Đinh đánh què nên bác Khổng Ất Kỉ bây giờ chỉ có thể lết đi dưới chân quầy.
Thế nhưng mọi người xung quanh vẫn có thể cười cợt trước nỗi đau của lão.
Cuối cùng, lão chết đi cũng im hơi lặng tiếng, không một ai để ý ngoài ông chủ
quán vì Khổng Ất Kỉ còn nợ ông ta mười chín đồng chinh tiền rượu. Không chỉ
bị cái xã hội nơi quán rượu Hàm Thanh rẻ rúng, cười cợt, Khổng Ất Kỉ còn rơi
Thành đã vẽ ra một tương lai tươi sáng ở phía trước: “Đỗ tú tài rồi lên tỉnh thi
hương, cứ thế một mạch mà thăng quan tiến chức… Chẳng những kẻ giàu
sang tìm trăm phương nghìn kế làm thân mà ai ai cũng phải kính sợ ông như
thần như thánh… Ông sẽ xây một tòa nhà mới tinh, trước cửa sẽ treo cờ xí,
hoành phi, câu đối…” [11, tr.184 - 185]. Đây cũng chính là ước mơ của nhiều
nho sĩ bảo thủ đương thời luôn tin rằng con đường khoa cử sẽ giúp họ đổi đời
để có cuộc sống giàu sang, quyền quý hơn. Nhưng họ đâu nhận thức rằng xã
hội đã thay đổi, Nho học đang trên đà lụi tàn. Nếu họ vẫn khư khư giữ thói ấy
không tự thay đổi, tìm hướng đi mới, không hòa mình vào thời đại, vào hàng
ngũ của quần chúng nhân dân cách mạng thì sớm hay muộn họ sẽ rơi vào bế
tắc. Trần Sĩ Thành vẫn là một Khổng Ất Kỉ mê muội, suốt đời bị ám ảnh bởi
giấc mộng công danh. Song xét cho cùng Trần Sĩ Thành có phần tiến bộ hơn
Khổng Ất Kỉ ở chỗ ông ta đã ý thức được sự thất bại của mình. Sau mười sáu
lần đi thi không đỗ, Trần Sĩ Thành đã nhận ra “cái mộng tương lai mà bình
nhật ông ta sắp đặt đâu vào đấy như thế, lúc này đổ nhào trong khoảnh khắc
như một cái lâu đài bằng cát trước ngọn thủy triều, chỉ còn trơ lại từng mảnh
vụn” [11, tr.185] và ông ta mong muốn tìm cho mình một tương lai mới tốt
đẹp hơn. Sự tiến bộ trong con người Trần Sĩ Thành cũng chính là sự tiến bộ
trong sáng tác của Lỗ Tấn về nhân vật con người thừa so với nhân vật con
người thừa trong văn học hiện thực phê phán ở các nước phương Tây và nước
Nga thế kỉ XIX. Nếu như chàng thanh niên quý tộc Epghênhi Ônhêgin trong
tác phẩm cùng tên của A.Puskin cam chịu, chấp nhận hiện thực sống thừa, vô
16
vị và thích nghi với cuộc sống đó của tầng lớp thanh niên quý tộc đương thời
thì trái lại Trần Sĩ Thành không chấp nhận cuộc sống thừa mà luôn muốn
vươn lên, thoát khỏi cuộc sống tối tăm. Đó chính là một hướng đi mới, một
dấu hiệu tốt, một luồng ánh sáng chiếu vào cuộc sống tối tăm không lối thoát
uống rượu, theo gái - nhưng từ khi ông ta đăng cái bài: “Nhiệm vụ của quốc dân
là phải chỉnh lí quốc sử” trên tờ Đại trung nhật báo, một bài văn hết sức kêu, đọc
lên hết sức sướng miệng rồi được giấy mời của trường Nữ học Hiền Lương đến
dạy học thì ông ta thấy cái anh Hoàng Tam này quả thật không được cái trò
trống gì, trông có vẻ bần tiện nữa” [11, tr.295]. Vốn học vấn trong đầu Cao Cán
Đinh chẳng được là bao nhưng y lại dám tự cao, tự đại ví mình ngang với một
văn hào Nga là Cao Nhĩ Cơ nên đổi tên mình là Cao Nhĩ Sở. Hơn nữa sự tâng
bốc của mọi người qua một bài báo khiến hắn càng lần tưởng rằng mình giỏi
giang lắm. Tuy nhiên khi đứng giảng bài trước học sinh thì tất cả mọi sự yếu
kém của Cao Cán Đinh đều lộ ra: “Hi hi… Hình như có ai cười trộm ở đâu đây.
Tức thì Cao phu tử thấy mặt mình nóng bừng bừng, ông ta vội vàng nhìn vào
sách…” [11, tr.302], “Ông ta tựa hồ nghe sau lưng có nhiều người đang cười ông
ta và lại phảng phất thấy những tiếng cười đó phát ra từ cái biển mũi sâu thẳm”
[11, tr.303]. Thất bại trước thực tế, Cao Cán Đinh vẫn không nhận ra sự dốt nát
của mình mà lại đổ lỗi cho hoàn cảnh và phong hóa suy đồi:
- “Giả thử như cái ông giáo kia chưa giảng xong đoạn nói về Tam Quốc
thì việc soạn bài của ông ta bây giờ cũng không đến nỗi chật vật như thế này.
Ông ta thuộc nhất là lịch sử đời Tam Quốc” [11, tr.295].
- “Trường nữ học quả không biết còn làm cho phong hóa suy đồi đến
nước nào nữa, tội gì mình lại đi nhập bọn với họ” [11, tr.304].
Và thế là Cao phu tử đã quyết tâm viết đơn từ chức và quay về với việc
đánh mạt chược cùng Hoàng Tam.
Tứ Minh trong Miếng xà phòng là một nhân vật tầm thường đã từng đề
xướng tân học nhưng cuối cùng lại đâm ra hủ bại. Trước kia y từng công kích
cụ Cửu khi cụ ấy phản đối cho con gái đi học. Nhưng về sau y lại tức giận:
“Chúng nó còn bô bô những là tân văn hóa, tân văn hóa”. “Hóa” đến như thế
18
ông mơ thấy mình đã tát vào mặt cái Hà - con gái ông, đến nỗi máu me đầm
đìa vì nó đã tiết lộ sự tính toán trong lòng ông cho mọi người. Giấc mơ là nơi
thể hiện trung thực nhất suy nghĩ của con người nên qua giấc mơ của Trương
Bái Quân, ta thấy Trương Bái Quân hiện lên không chỉ là một kẻ đạo đức giả
mà còn là một người sẵn sàng hành động, ứng xử thô bạo (ngay với cả con
ruột của mình) để che đậy bản chất xấu xa bên trong. Viết truyện ngắn này,
Lỗ Tấn đã vạch trần được sự giả dối, ngụy quân tử của những trí thức cũ do
sự thống trị lâu đời của chế độ tư hữu tài sản gây nên.
Nho sĩ phong kiến trong truyện ngắn của Lỗ Tấn là những con người sinh
ra trong xã hội phong kiến, được xã hội phong kiến nuôi dưỡng, giáo dục nhưng
cuối cùng lại bị chính xã hội phong kiến vùi dập, làm biến đổi cả nhân cách.
1.2.2.2. Hình tượng người trí thức mới (những trí thức xuất hiện từ
sau Cách mạng Tân Hợi)
* Những trí thức tiểu tư sản không có lập trường, lạc lối, buông xuôi
Đây là kiểu trí thức xuất hiện từ sau Cách mạng Tân Hợi. Cách mạng
Tân Hợi (1911) là cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo. Trong buổi
đầu cách mạng, những phần tử trí thức cũng hăng hái tham gia nhưng đây lại
là một cuộc cách mạng nửa vời. Nó mang danh nghĩa chống phong kiến
nhưng nửa chừng lại thỏa hiệp với giai cấp phong kiến. Vì bản chất giai cấp,
những người cách mạng tư sản sợ sức mạnh của quần chúng được phát động
nên đã cấu kết với với giai cấp phong kiến đè nén sự nổi dậy của quần chúng.
Vậy là Cách mạng Tân Hợi không làm tròn nhiệm vụ cách mạng dân chủ của
nó mà chỉ đem lại mỗi cái tên “dân quốc”. Những người trí thức ôm ấp nhiều
hi vọng với nó đã thực sự cảm thấy thất vọng và tinh thần họ rơi vào trạng
thái giằng co, khổ não giữa thất vọng và hi vọng. Chính vì vậy hình tượng
người trí thức trong giai đoạn này có sự dao động ngả nghiêng.
Phương Huyền Xước (Tết Đoan Ngọ) là người cũng có bất bình với xã hội
cũ, thấy những chuyện chướng tai, gai mắt, những chuyện áp bức trong xã hội
một. Những chỗ để trắng thì không tính tiền. Xem bài thơ bằng bạch thoại tôi
làm đây này! Bao nhiêu chỗ để trắng! Chỉ được ba trăm đồng là cùng. Tiền
21
nhuận bút hàng nửa năm mà chẳng có tin tức gì. “Nước xa không cứu được
lửa gần”, ai mà chịu được!” [11, tr.182].
- “Gửi nhà báo à? Ở đây có một tòa báo lớn, và cũng có một anh học trò
cũ trong ban biên tập nể mặt, nhưng một nghìn chữ cũng được mấy đồng thôi!
Dù có viết từ sáng sớm đến nửa đêm, cũng không làm sao nuôi nổi cả nhà
được? Huống chi trong bụng tôi văn chương đâu mà nhiều đến thế!” [11,
tr.182].
Cuối cùng phương án mà Phương Huyền Xước đưa ra chỉ là ngồi ở nhà
đợi đến chiều mồng tám phát lương, thậm chí ông ta còn nghĩ đến cả việc
mua một vé xổ số lớn cầu may. Đây chính là tư tưởng hèn nhát, an phận, thủ
tiêu đấu tranh - khuyết điểm của người trí thức thời kì Cách mạng Tân Hợi.
Có thể nói rằng Phương Huyền Xước đã có thời kì khí phách hiên ngang,
nhưng sau đó thì cho rằng việc gì cũng “một chín một mười”, chẳng tốt,
chẳng xấu, không phải, không trái, dần dần đâm ra tiêu cực, đồi bại.
Lã Vĩ Phủ (Trong quán rượu) là một thanh niên trí thức hoạt bát, nhanh
nhẹn, một chiến sĩ dũng cảm dấn thân vào cuộc đấu tranh chống phong kiến.
Anh đã cùng những người bạn cùng chí hướng của mình “bàn hết ngày này
sang ngày khác phương pháp cải cách nước Trung Quốc hăng đến nỗi có thể
đánh nhau được”. Nhưng sau hơn mười năm gặp lại, Lã Vĩ Phủ dưới mắt
“tôi” là một người hoàn toàn khác. Cái lanh lẹn, hoạt bát xưa kia của Vĩ Phủ
đã bị thay đổi bằng sự mệt mỏi, chán nản, buông xuôi. Đối với anh ta chuyện
chuyển mộ cho đứa em yêu quý của mình cũng dối dá cho xong. Anh ta nhận
thấy rõ sự thay đổi trong con mắt nhìn đời và trong hành động của mình:
“Bây giờ thì tôi thế này đây. Cái gì cũng muốn qua loa cho xong chuyện thì
đối tục lệ cũ qua việc ma chay. Họ vạch định ra cả kế hoạch chi tiết ép buộc
anh phải chấp nhận các điều khoản theo tập tục cũ của địa phương. Những
tưởng anh sẽ phản đối nhưng Ngụy Liên Thù lại hoàn toàn chấp thuận, thậm
chí còn thực hiện một cách khéo léo, chu tất những yêu cầu của mọi người.
Liên Thù thuộc “tân đảng” ghê lắm, thế mà trên giá sách không có tân thư
mấy. Với mọi người anh ta luôn tạo một vỏ bọc ngăn cách nhưng với trẻ nhỏ
anh lại có một niềm tin và yêu mến đặc biệt. Bởi anh nghĩ “trẻ con không có
23
tính xấu của người lớn về sau con người hỏng đi… hoàn cảnh làm cho hư
hỏng đi mà thôi chứ vốn không phải hư hỏng mà chất phác hồn nhiên… Tôi
cho rằng Trung Quốc ta còn có hy vọng là chỉ hi vọng ở chỗ đó…” [11,
tr.314]. Như thế người lớn khiến cho anh ta phải hoài nghi nhưng anh ta lại
tin tưởng tuyệt đối vào những đứa trẻ sẽ lĩnh phần trách nhiệm cho tương lai
Trung Quốc. Do bản chất mâu thuẫn bên trong nên đứng trước hiện thực tàn
khốc, khó khăn, Ngụy Liên Thù dễ hoang mang, dao động, sụp đổ tư tưởng.
Đây cũng chính là nét tính cách thường gặp ở những trí thức tiểu tư sản
đương thời. Nhiệt huyết khô trụi, mất niềm tin anh ta hận đời, chán sống. Có
lúc cũng nghĩ đến cái chết: “Chính tôi cũng cảm thấy mình không đáng sống
nữa” nhưng anh ta không đủ gan để chết và anh phải gượng sống, sống để trả
thù đời. Cự tuyệt với xã hội, quá khứ, tương lai mờ mịt, tạm sống lay lắt, nhân
vật Ngụy Liên Thù tự tìm cách đào thải mình: “như con tằm, anh tự bủa xung
quanh anh một tổ kén, nhốt mình trong đó”, “Tất cả những gì xưa kia tôi thù
ghét, phản đối, bây giờ tôi làm hết. Tất cả những gì xưa kia tôi sùng bái, chủ
trương, bây giờ tôi bỏ hết” [11, tr.320 - 322]. Và cuối cùng anh thực sự là một
kẻ thất bại khi xung quanh anh toàn là những người giả dối mà thôi: “ở đây,
có những ông khách mới, có những lễ lạt mới, những lời tâng bốc mới, những
sự chạy chọt mới, những cái cúi đầu khom lưng mới, những cuộc chơi bài
đánh đố mới, những đêm thức trắng mới và những lúc thổ huyết mới” [11,
ngang để rồi rơi vào bi kịch.
* Những trí thức tiểu tư sản sống ảo tưởng, cá nhân
Vấn đề hôn nhân tự do, giải phóng cá tính là nhu cầu cần thiết của tầng
lớp thanh niên trí thức trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Trong hoàn cảnh
lịch sử xã hội buổi giao thời, họ được tiếp thu nền văn minh phương Tây tiến
bộ nên đòi hỏi phải xóa nhòa tư tưởng bảo thủ, hôn nhân xếp đặt. Họ quan
tâm đến lợi ích của cá nhân hơn nên họ hăng hái đấu tranh để tìm cho mình
tình yêu tự do vượt ngoài những định kiến của xã hội. Vì những lẽ đó vấn đề
trên đã trở thành một vấn đề nóng bỏng mà ngòi bút của Lỗ Tấn không thể bỏ
qua. Tuy nhiên nhà văn đề cập đến vấn đề giải phóng cá tính, hôn nhân tự do
không dựa trên cơ sở phục vụ cho những nhu cầu cá nhân. Theo Lỗ Tấn, tình
25