Nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn của nguyễn huy thiệp - Pdf 32

Khoá luận tốt nghiệp

Lời cảm ơn
Trong quá trình triển khai khoá luận này, chúng tôi đã nhận được sự
hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Nguyễn Thị Kiều Anh, các thầy cô
trong tổ bộ môn Lí luận văn học, khoa Ngữ văn và các bạn sinh viên.
Nhân khoá luận hoàn thành, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết hơn đối với
các thầy cô giáo và các bạn sinh viên.
Do hạn chế về thời gian, khả năng bước đầu tập nghiên cứu khoa học,
nên không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự
đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Vũ Thị Huân

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
1


Khoá luận tốt nghiệp

Lời cam đoan.
Tôi xin cam đoan: Đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học: “Nghệ thuật kể
chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” là kết quả của riêng tôi,
không trùng với kết quả của các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Vũ Thị Huân

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn

Phần nội dung

Chương 1. Cơ sở lí luận

8
8

1.1. Quan niệm về nghệ thuật kể chuyện

8

1.2. Các yếu tố tạo thành nghệ thuật kể chuyện

9

1.2.1. Hình thức kể chuyện.

9

1.2.2. Các biện pháp nghệ thuật thể hiện

10

1.2.3. Lời văn nghệ thuật

13

Chương 2. Nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn của

15

Phần kết luận

71

Tài liệu tham khảo

73

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
3


Khoá luận tốt nghiệp

Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn đi đầu trong công cuộc đổi mới văn học
Việt Nam. Các sáng tác của ông như một “ngọn gió lạ” từng làm dậy sóng
trên văn đàn một thời và đến nay vẫn còn là đối tượng của nhiều cuộc tranh
luận, bàn cãi… Cái lạ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã tác động
đến nhiều nhà văn đương thời những suy nghĩ mới về nhìn nhận và sáng tạo
văn chương. Và hơn thế nữa, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp mang tới
cho độc giả một thứ văn chương mới, tuy lạ nhưng rất độc đáo và hiện đại.
Từ trước tới nay, đã có rất nhiều bài viết, luận văn,… tiếp cận truyện
ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ở những phương diện khác nhau. Dù tiếp cận ở
phương diện nào thì cũng đi tới hai cực đối lập nhau, đó là khẳng định và phủ
định, khen và chê. Nhưng nhìn chung, dù khen hay chê, khẳng định hay phủ
định, mọi người hầu hết đều thừa nhận khi đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp đều bị cuốn hút bởi chính cái khó hiểu, mơ hồ và lấp lửng. Chính vì

hiện trên các báo chí đến nay đã có rất nhiều công trình, bài viết, luận văn tốt
nghiệp, luận án thạc sĩ đề cập đến truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Năm
2001, tác giả Phạm Xuân Nguyên đã tập hợp những bài viết tiêu biểu về
Nguyễn Huy Thiệp mà ông ước tính chỉ là 1/3 số bài viết đã đăng trên các
báo, tạp chí khắp nơi thành cuốn: Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. Trong đó có
nhiều bài khen, chê khác nhau nhưng dường như những bài khẳng định những
đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp vẫn nổi trội. Trong số đó có nhiều bài đã đề
cập đến các khía cạnh có liên quan đến nghệ thuật kể chuyện trong truyện
ngắn của ông.
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết trên các tạp chí, các trang website
văn học… đề cập đến các khía cạnh có liên quan đến nghệ thuật kể chuyện
Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
5


Khoá luận tốt nghiệp
trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Trong đó phải kể đến bài: Cuốn theo chiều
văn Nguyễn Huy Thiệp, tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã đề cập đến một vài
khía cạnh trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật của Nguyễn
Huy Thiệp.
Còn Nguyễn Văn Đông với bài Lời tác giả trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp lại khẳng định lời tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
khá đa dạng và phong phú với nhiều loại khác nhau.
Trong khi đó Nguyễn Thị Bình lại chứng minh Nguyễn Huy Thiệp là
một cây bút tích cực trong sự đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu. Qua bài: Đổi
mới ngôn ngữ và giọng điệu thành công đáng chú ý của văn xuôi sau 1975,
nhà nghiên cứu đã nhận xét: “Đó là lối nói “cộc lốc” sắc bén và hàm súc, câu
văn ngắn gọn dồn dập, hạn chế tối đa sự miêu tả và bình luận chứa một năng
lượng bùng nổ dữ dội và trước hết, làm rung chuyển lối văn mực thước, trang
trọng hoặc rào đón đưa đẩy” (15,tr353).

Là phương pháp tách đối tượng nghiên cứu thành những yếu tố nhỏ khi
đã tiến hành chia tách đối tượng lớn. Điều này thể hiện ở việc tách các biện
pháp nghệ thuật thể hiện thành bảy yếu tố và nó cũng là việc xem xét mối
quan hệ tương tác giữa các yếu tố nhỏ với nhau.
4.2. Phương pháp so sánh hệ thống
Phương pháp này nhằm giúp người nghiên cứu tìm ra đặc trưng cũng
như sự độc đáo giữa hai hệ thống được đối chiếu. Qua đó, làm rõ sự tương
quan cũng như nét đối lập của từng yếu tố cùng loại giữa hai hệ thống.
Phương pháp này được áp dụng cho từng cấp độ của tác phẩm, cho toàn tác
phẩm cũng như nhóm tác phẩm.
5. Đóng góp và cấu trúc của khoá luận

Khoá luận hoàn thành nhằm khẳng định những đóng góp của Nguyễn
Huy Thiệp trong nghệ thuật kể chuyện của truyện ngắn Việt Nam.
Khoá luận gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
7


Khoá luận tốt nghiệp
Chương 2: Nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp.

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
8


Khoá luận tốt nghiệp


Khoá luận tốt nghiệp
mô tả hành động bao gồm cả tả cảnh, tả tình, tả ngoại hình, nội tâm…”
(15,tr315).
Như vậy các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến vấn đề kể chuyện. Và
chúng ta thấy rằng: Để tạo nên phong cách riêng cho các tác phẩm của mình,
các nhà văn phải tạo dựng được nghệ thuật kể chuyện riêng của mình. Và
nghệ thuật kể chuyện chính là phương thức kể, mà được xây dựng lên bởi lời
kể, lời nhân vật… được thể hiện bằng các biện pháp nghệ thuật phục vụ cho
việc kể.
1.2. Các yếu tố tạo thành nghệ thuật kể chuyện
1.2.1. Hình thức kể chuyện
Để phục vụ cho việc tạo ra nhân vật kể chuyện trong sáng tác các tác
giả đã sử dụng các hình thức khác nhau. Có khi đó là người đứng hoàn toàn
bên ngoài tác phẩm nhưng cũng có khi đó là nhân vật xưng tôi. Nhà nghiên
cứu Tz Todozov tuyên bố: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc tạo
thế giới tưởng tượng… không thể có trần thuật mà thiếu người kể chuyện
“(15,tr116). Những quan niệm này góp phần khẳng định vai trò của hình thức
kể chuyện trong nghệ thuật kể chuyện.
1.2.1.1. Tác giả kể chuyện
Là hình thức kể chuyện mà người kể ở đây đứng hoàn toàn ngoài tác
phẩm, không để lại bất cứ một dấu ấn nào về hình dáng, tính cách, lứa tuổi,
giới tính. Ưu điểm của hình thức này là tạo ra sự tự do tối đa cho người nghệ
sĩ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, từ đó tạo được nhiều tình tiết ly kỳ hấp
dẫn, có thể bao quát rộng hơn. Nhưng hình thức này cũng có hạn chế đó là
không tạo ra nhiều điểm nhìn cho câu chuyện mình kể.
1.2.1.2. Nhân vật kể chuyện
Đó chính là một nhân vật trong truyện chứng kiến các sự kiện đứng ra
kể. Nhân vật này đứng ở ngôi thứ nhất và xưng là tôi. Kể chuyện theo ngôi
Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn


Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
11


Khoá luận tốt nghiệp
Trong truyện độc thoại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện
đời sống bên trong của nhân vật.

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
12


Khoá luận tốt nghiệp

1.2.2.2. Biện pháp đối thoại
Đối thoại trong văn chương là hình thức nhà văn để các nhân vật trò
truyện, trao đổi thậm chí tranh luận gay gắt với nhau về một vấn đề nào đó.
Các mối quan hệ giữa các nhân vật càng đa dạng, các nhân vật càng đối thoại
nhiều thì càng bộc lộ được những đặc điểm thuộc về tính cách, cá tính, nghề
nghiệp, giai cấp, lứa tuổi, giới tính… của mình. Sự bộc lộ đó qua cả nội dung
lời đối thoại, qua cả cách nhân vật đối thoại. Biện pháp này giúp bạn đọc như
nghe thấy nhân vật, nói năng với lối tư duy và ứng xử riêng trong những tình
huống cụ thể. Đôi khi lời đối thoại còn được tác giả giới thiệu kèm theo giọng
nói, cách nói.
Với mỗi loại văn, biện pháp này được sử dụng đậm đặc hay thưa thớt là
rất rõ rệt. Thơ trữ tình hầu như không có đối thoại, còn truyện lại xuất hiện
khá nhiều. Tuy nhiên mức độ xuất hiện còn phụ thuộc vào sở thích của từng
nhà văn và từng nội dung của truyện và ý muốn xây dựng tính cách của nhân
vật. Qua ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật, biện pháp nghệ thuật này có tác

dựng một cách đa dạng, đó là một trạng thái tình cảm cao độ, một nghịch
cảnh trái ngang, một tình huống éo le, trớ trêu hay sự hiểu lầm mà dẫn đến
mâu thuẫn. Mâu thuẫn xung đột có thể từ trong chính bản thân nhân vật, có
thể giữa các nhân vật với nhau hoặc giữa nhân vật với hoàn cảnh. Qua cách
nhân vật đối diện với tình huống ấy và giải quyết tình huống để thoát khỏi
xung đột, chúng ta sẽ nhìn nhận được bình diện nào đó tính cách của nó.
Biện pháp thể hiện nghệ thuật này triệt để sử dụng mâu thuẫn, để làm
nguyên tắc xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật trong tác
phẩm truyện thì việc xây dựng những mâu thuẫn có thể xuất hiện đậm hoặc
nhạt khác nhau, tập trung hoặc dàn trải, nhiều hoặc ít.
1.2.2.6. Biện pháp tả
Biện pháp này là một hoạt động sáng tạo trong đó đòi hỏi người nghệ sĩ
phải khéo kết nối các danh từ với các tính từ, vị từ, khéo kết nối các kiểu câu
Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
14


Khoá luận tốt nghiệp
sao cho hiệu quả biểu đạt cuối cùng là làm cho đối tượng được miêu tả hiện
lên trước sự hình dung của bạn đọc càng nhiều giác quan càng tốt. Biện pháp
thể hiện này rất hữu dụng trong việc cụ thể hoá đối tượng. Nó không chỉ cho
người đọc hình dung về hình thức vẻ bề ngoài của đối tượng mà cùng với
dụng ý của nhà văn còn hé mở cả những điều thầm kín sâu xa, cái bản chất
bên trong của đối tượng.
Tuy nhiên với từng loại văn, từng kiểu nhân vật, đặc biệt với từng dụng ý
nghệ thuật và từng tài năng sáng tạo riêng, mỗi nhà văn lại có cách sử dụng biện
pháp thể hiện nghệ thuật này ở mức độ và hình thức khác nhau. Song mục đích
cuối cùng của biện pháp tả là để cho ngoại hình nhân vật, dáng vẻ và hành động,
cử chỉ của nó, môi trường thiên nhiên - xã hội bao quanh hiện lên cụ thể trước sự
hình dung, tưởng tượng bằng cả năm giác quan của bạn đọc.

nghệ thuật khác nhau.
Lời người kể chuyện khá phổ biến ở các tác phẩm tự sự (ở đây là lời tác
giả hay nhân vật kể) là phương diện hết sức cơ bản để bộc lộ chủ đề tư tưởng
của tác phẩm, nêu bật tính cách của nhân vật. Nó tạo nên ở bạn đọc một thái
độ nhất định đối với vấn đề được nói tới. Ngôn ngữ người kể chuyện đóng vai
trò chủ yếu trong việc dẫn dắt câu chuyện từ những manh nha của mâu thuẫn
xung đột đến từng bước đi giải quyết chúng trong tác phẩm. Còn “lời nói trực
tiếp” của nhân vật (là lời nhân vật đối thoại hay độc thoại) thường mang đầy
đủ những đặc điểm riêng về bản chất, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính, lứa
tuổi, cá tính, đặc điểm địa phương…
ở tác phẩm văn chương, mỗi yếu tố của lời nói nghệ thuật này có ý
nghĩa khác nhau, vai trò khác nhau để cùng đạt tới dụng ý nghệ thuật của tác
giả. Lời nói trực tiếp của nhân vật có vai trò khắc hoạ những đặc điểm, thuộc
tính của nhân vật. Nó lại được thể hiện qua ngôn ngữ của tác giả. Và chính
ngôn ngữ người kể chuyện có tác dụng kết hợp đưa lại tính hoàn chỉnh và
thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật.

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
16


Khoá luận tốt nghiệp

Chương 2
Nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn

của Nguyễn Huy

Thiệp


Vừa nực cười nhưng cũng rất đáng thương cho nhân vật Hạnh bởi hành động
vừa trơ tráo nhưng cũng rất dại khờ của hắn. Câu chuyện được mở đầu bằng
buổi lễ sinh nhật Thoa và được tác giả kể cho đến khi Hạnh cướp đoạt được
cái vé số của mẹ con bà Thiều. Nhưng kết thúc của câu chuyện lại hết sức bất
ngờ, tác giả không kể liền mạch mà lại tách ra thành đoạn kết riêng và đoạn
kết này phát huy tối đa vai trò của người kể chuyện. Chính vì vậy mà câu
chuyện càng thêm hấp dẫn hơn và phù hợp hơn với các chi tiết li kỳ trong câu
chuyện.
Còn Vàng lửa một truyện ngắn thuộc mảng huyền thoại và lịch sử
cũng được xác định thuộc dạng tác giả kể chuyện. Sở dĩ như vậy là do những
căn cứ vào nội dung của câu chuyện. Câu chuyện có thể xác định bắt đầu từ
đoạn nói về Nguyễn Phúc ánh, còn đoạn trước đó được coi như lời giới thiệu
cho xuất xứ của câu chuyện này. Trong đoạn giới thiệu đó cũng xuất hiện một
nhân vật xưng tôi: “Ông Quách Ngọc Minh, ngụ ở Tu Lí, huyện lị Đà Bắc
viết thư cho tôi… Về Hà Nôi, tôi viết truyện ngắn này. Khi viết, tôi có tự ý
thay đổi một vài chi tiết phụ và sắp xếp, chỉnh lí lại các tư liệu để hợp với việc
kể chuyện” (16,tr149). Nhưng theo chúng tôi đây không phải là một nhân vật
ngôi thứ nhất đóng vai trò người kể chuyện, mà là lời xuất hiện trực tiếp của
tác giả. Theo Nguyễn Văn Đông lời tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp có thể khái quát thành 3 dạng cơ bản: Dạng lời tác giả lộ diện trực tiếp,
dạng lời tác giả trong hình thức trần thuật trung tính, dạng lời tác giả mượn
hình thức lời kể dân gian. Nhà nghiên cứu cũng cho rằng: “Dạng lời tác giả lộ
diện trực tiếp thường là dạng lời nằm ngoài cốt truyện. Dạng lời này thường
mang nội dung giải thích về quan hệ chi tiết, sự kiện trong truyện với hiện
Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
18


Khoá luận tốt nghiệp
thực hoặc minh định cho một vấn đề tư tưởng, hoặc tâm sự trữ tình, hoặc thú

Khoá luận tốt nghiệp
truyện ngắn đa dạng về hình thức. Ông coi mười truyện trong Những ngọn
gió Hua Tát là truyện ngắn “giả cổ tích” (1,tr351). Xét ở góc độ nào đó, quả
đúng như nhiều người nhận xét, Nguyễn Huy Thiệp học rất nhiều cách viết
của người xưa: “Học xưa để làm mới nay cũng là một lối sáng tạo phổ biến”
(Nguyễn Văn Đông) (3,tr20). Lời tác giả trong Những ngọn gió Hua Tát
mang lại một văn phong vừa cũ vừa mới. Cũ ở cách thức kể chuyện nhưng lại
mới ở ý tưởng, lối kể chuyện làm cho người đọc không thể nhầm lẫn giữa
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp với truyện cổ tích của các nhà sưu tầm
dân gian được. Và tác giả đã sử dụng tối đa ưu điểm của hình thức tác giả kể
chuyện mà tạo ra được một hệ thống truyện khác nhau nhưng cùng nằm trong
một đề tài chung qua lời giới thiệu rất trữ tình về bản Hua Tát.
Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng nhiều giọng điệu khác nhau, lời văn
mang đậm chất sử ký, chất giả sử, giả cổ tích, lối folklore hiện đại đã tạo nên
một văn phong độc đáo. Nó khiến ông trở thành một trong những gương mặt
đầy ấn tượng của nền văn xuôi Việt Nam đương đại. Có lúc lối kể chuyện
tương đối khách quan, có lúc lại mượn giọng điệu kể chuyện cũ nhưng
Nguyễn Huy Thiệp vẫn sáng tạo nên những truyện ngắn hết sức hiện đại. Như
vậy có thể nói Nguyễn Huy Thiệp có vai trò rất quan trọng góp phần xây
dựng nền văn học Việt Nam sau 1975 rất sôi động.
2.1.2. Nhân vật kể chuyện
Trái lại với hình thức tác giả kể chuyện, hình thức nhân vật kể chuyện
chỉ có 13 trong tổng số 37 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng hình
thức kể chuyện này lại có vai trò hết sức quan trọng góp phần hoàn thiện cho
lối kể chuyện của ông. Trong giáo trình: Văn học Việt Nam thế kỷ XX do
Phan Cự Đệ chủ biên đã khẳng định: Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nổi tiếng
với lối kể chuyện “khách quan lạnh lùng” (1,tr363). Đặc biệt với các tác phẩm

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
20

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
21


Khoá luận tốt nghiệp
giọng lạnh lùng khách quan, và người kể chuyện để cho các nhân vật hiện lên
tự nhiên mà không hề có sự đánh giá đẹp xấu, đúng sai, yêu ghét.
Trong truyện: Những bài học nông thôn người kể chuyện lại là một
cậu bé mới lớn tên là Hiếu. Hiếu ở thành phố về quê chơi với gia đình Lâm,
cậu đã nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống nơi đây và có phần còn yêu mến
nơi đây hơn thành phố mình đang sống. Nguyễn Huy Thiệp đi sâu khai thác
đời sống nội tâm của nhân vật “tôi” đặc biệt sau khi gặp nhân vật Triệu.
Trong truyện ngắn này người kể chuyện xưng “tôi” khác với người kể chuyện
trong hai câu chuyện trước. Nếu như “tôi” trong Tướng về hưu và Những
người thợ xẻ không có mấy lời nhận xét về các nhân vật khác thì “tôi” ở
truyện ngắn này luôn có mối giao hoà với các nhân vật khác: “Tôi nhìn anh
thương xót, tự dưng nước mắt tôi ứa cả ra. Tôi úp mặt xuống bờ cỏ để anh
khỏi thấy rằng tôi đang khóc… Và cái chết của anh Triệu mang lại nhiều suy
tư cảm phục cho tôi” (16,tr134).
Qua đó, chúng ta thấy nhân vật “tôi” là người rất giàu tình cảm và luôn
có những trăn trở về cuộc đời. Và với truyện ngắn này chứng tỏ rằng Nguyễn
Huy Thiệp không bỏ rơi nhân vật của mình mà luôn sát cánh cùng nhân vật.
Ông cũng trăn trở, suy tư khi nhân vật của mình có những khúc mắc trong
tâm hồn. Cùng với hai truyện trước, cho thấy Nguyễn Huy Thiệp vừa có cái
nhìn lạnh lùng khách quan qua ngòi bút nhưng trong lòng lại chất chứa bao
tình cảm.
Như vậy, chúng ta có thể kết luận các truyện ngắn mà có nhân vật xưng
“tôi” là người đứng ra kể chuyện đều tập trung vào những câu chuyện viết về
nông thôn và thành thị. Nhân vật tôi kể về các nhân vật khác và kể về quãng
đời của chính mình. Tất cả đều có sự gắn bó mật thiết với nhau. Do đó nên

- Nguyễn Huy Thiệp sử dụng nhiều hình thức kể chuyện khác nhau, sự
đa dạng hoá về giọng điệu, lời văn, có lúc học tập từ truyền thống, từ lối kể
chuyện cổ tích, lối folklore… nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra được một

Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
23


Khoá luận tốt nghiệp
phong cách cho riêng mình. Mà ai đọc cũng bị cuốn hút và đọng lại nhiều
suy tư.
2.2. Các biện pháp nghệ thuật thể hiện
Để phục vụ cho nghệ thuật kể chuyện, các biện pháp nghệ thuật đóng
vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng nên cốt truyện, nhân vật và giá trị
của tác phẩm. Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu lần lượt các biện pháp
nghệ thuật để thấy được những nét độc đáo trong văn phong của Nguyễn
Huy Thiệp.
2.2.1 Biện pháp độc thoại nội tâm
Độc thoại là một biện pháp nghệ thuật thể hiện khá quan trọng. Lời độc
thoại xuất hiện vừa phải gắn với các hoàn cảnh khác nhau và nó đã thực sự
cho người đọc thấy được những niềm sâu kín bên trong của nhân vật làm
nhân vật hiện lên đúng với bản chất của nó. Biện pháp này được Nguyễn Huy
Thiệp sử dụng khá nhiều trong mảng truyện ngắn viết về nông thôn. Những
độc thoại ở đây thường sâu sắc chứa chất tình cảm dồn nén của nhân vật. Bên
cạnh đó, những truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp viết về thành thị thường là
những độc thoại ngắn và gắn với cuộc sống phồn hoa của con người nơi thành
phố. Độc thoại nội tâm một mặt làm nhân vật bộc lộ được tâm sự của mình,
mặt khác cũng làm cho nhân vật bộc lộ được những nhận xét của mình về các
nhân vật khác, về cuộc đời và về xã hội.
Trong Tướng về hưu độc thoại tập trung ở nhân vật Thuần. Trước hết

giỏi giang về mặt chuyên môn. Ngọc học đại học nhưng vì thi trượt tốt nghiệp
nên phải nghỉ ở nhà để năm sau thi lại. Thời gian đó Ngọc theo một toán thợ
xẻ lên miền núi làm ăn mà người đứng đầu là Bường. Qua độc thoại bạn đọc
hiểu được bản chất con người lãng mạn của anh mặc dù công việc anh đang
làm và những người anh tiếp xúc không có gì là lãng mạn. Sau lần gặp Quy,
Ngọc có bao nhiêu suy nghĩ: “Người dưng ơi, người dưng, một triệu người
gặp trong đời có ai là máu của máu tôi? Là thịt của thịt tôi? Có ai sẽ sống vì
tôi và chết vì tôi? Có ai không? Có ai là Hoàng đế của tôi? Ai là tâm phúc với
Vũ Thị Huân - K29E Ngữ Văn
25


Trích đoạn Biện pháp kể Nhân vật kể chuyện Các biện pháp nghệ thuật thể hiện 1 Biện pháp độc thoại nội tâm Biện pháp để các nhân vật vào các xung đột kịch tính Lời văn nghệ thuật 1 Lời tác giả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status