Thi pháp thơ đường với việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu các tác phẩm thơ đường trong trường THPT - Pdf 32

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1.

Xuất phát từ yêu cầu về việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn

trong nhà trường phổ thông.
Văn học là môn nghệ thuật ngôn từ. Nó có tác động rất lớn trong quá trình
hình thành tài năng, nhân cách của mỗi con người. Người GV khi dạy học cần
giúp cho các em hiểu đúng văn, yêu văn và quan trọng hơn không phải cung cấp
kiến thức một tiết, một một bài mà cần giúp HS có phương pháp, kĩ năng, nghị
lực tiếp nhận bất cứ tác phẩm nào. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thi
pháp thơ Đường. Với những đặc thù của nó, người GV áp dụng thành tựu nghiên
cứu về thi pháp thơ Đường vào giảng dạy cho HS các tác phẩm thơ Đường trong
nhà trường hứa hẹn nhiều thành công.
Xã hội Việt Nam đang trên bước đường hội nhập với thế giới. Nền giáo
dục gánh trên vai trách nhiệm không nhỏ trong việc tạo ra những con người phát
triển toàn diện, có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ để đưa đất nước
sánh vai các cường quốc năm châu. Vậy làm thế nào để tạo ra những con người
đáp ứng đước yêu cầu của xã hội? Phương pháp dạy học giúp những người GV
thực hiện được mục đích của mình. Bộ Giáo dục đã cải cách SGK theo hướng
tích hợp đòi hỏi tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS khi tiếp nhận
văn học. Từ yêu cầu đó, chúng tôi lựa chọn hướng dẫn HS bằng phương pháp
đọc – hiểu.
Trong điều kiện nhất định, chúng tôi quyết định lựa chọn những tác phẩm
thơ Đường trong SGK Ngữ văn 10 làm đối tượng. Do vậy, chúng tôi hình thành
ý tưởng “Thi pháp thơ Đường với việc hướng dẫn học sinh đọc – hiểu các tác

trong quỹ điểm thi học kì nên đã coi nhẹ, thậm chí bỏ bê. Hầu hết các tác phẩm
văn học nước ngoài được sắp xếp học vào cuối học kì (đặc biệt là các tác phẩm
thơ Đường) nên tình trạng “lướt” khá phổ biến. Nếu có dạy đôi khi cũng không
hiệu quả bởi người GV chưa có phương pháp giúp HS tiếp cận xóa đi khoảng
cách về mặt ngôn ngữ, văn hóa, chưa cho HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp
của nó. Thơ Đường là thành tựu rực rỡ xong cần GV và HS hiểu ngôn ngữ, khơi
ra các dấu hiệu đặc trưng thẩm mĩ nằm ẩn sâu sau lớp ngôn từ.
Từ những vấn đề trên, chúng tôi nhận thấy “ Thi pháp thơ Đường với
việc hướng dẫn học sinh đọc – hiểu các tác phẩm thơ Đường trong trường
THPT” sẽ khắc phục được những yếu kém trên.

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

1.3.

Khóa luận tốt nghiệp

Văn học Việt Nam mà đặc biệt là văn học trung đại có ảnh hưởng sâu

sắc từ thơ Đường Trung Quốc.
Sự gần gũi về văn hóa, sự tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật của các tác
giả Việt khi tiếp cận sản phẩm của những thi nhân đời Đường biểu hiện rất rõ
trong văn học. Đặc biệt với hơn một nghìn năm Bắc thuộc, ngôn ngữ Hán ăn sâu
vào văn hóa người Việt. Văn học trung đại đa phần sáng tác bằng chữ Hán và
tiếp thu thi luật của thơ Đường sâu sắc. Tìm ra đặc trưng thi pháp của các tác

Khóa luận tốt nghiệp

trong thơ Đường, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại và kết
cấu, ngôn ngữ thơ Đường.
Ứng dụng thành tựu của những công trình nghiên cứu về thi pháp thơ
Đường để chúng tôi đưa vào dạy học các tác phẩm thơ Đường trong nhà trường
là hướng đi phù hợp với phương pháp dạy học hiện đại.
2.2.

Những công trình nghiên cứu về thơ Đường trong nhà trường.
Các tác giả như Hồ Sĩ Hiệp, Phan Ngọc đã đi sâu nghiên cứu về các thi sĩ

nổi bật trong thời Đường. Qua đó chỉ ra giá trị của những tác phẩm tiêu biểu mà
Lý Bạch hay Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị để lại.
Những bài viết mang tính chất tham khảo cho GV, HS làm tư liệu trong
quá trình học thơ Đường ở trường THPT được các tác giả như Hồ Sĩ Hiệp thể
hiện trong Thơ Đường ở trường phổ thông, hay GS Nguyễn Khắc Phi cũng
viết về thơ Đường trong công trình Phân tích bình giảng tác phẩm văn học
10… Hầu hết các bài viết đã khai thác được những giá trị nội dung và nghệ thuật
của những thi phẩm được đề cập song còn khó hiểu với HS. Nó chỉ mang tính
chất tham khảo ở một dạng đề như phân tích hay bình giảng chứ không bao quát
tư tưởng chung cho HS có thể ứng dụng vào bất kì dạng đề nào. Chúng tôi muốn
hướng dẫn HS tiếp cận tác phẩm thơ Đường từ góc nhìn thi pháp để HS tiếp
nhận dễ dàng, bài bản và có khả năng vận dụng vào những yêu cầu cụ thể.
2.3.

Những công trình nghiên cứu về đọc – hiểu.
Những năm gần đây, đọc – hiểu đã được quan tâm rất nhiều, được áp dụng

vào giảng dạy bởi đó là một phương pháp dạy học khá tích cực và có hiệu quả.

trình dạy học văn. Đọc – hiểu văn bản chính là tìm hiểu những giá trị nội dung
và nghệ thuật của văn bản ấy.
Trong cuốn Dạy văn - dạy cái hay, cái đẹp của GS Nguyễn Duy Bình, tác
giả nhấn mạnh “Nhiệm vụ then chốt, trước hết của giáo viên văn với học sinh là
giúp các em biết đọc tác phẩm, biết tái hiện để trên cơ sở đó giúp các em biết
phân tích cái hay, cái đẹp của nó”.
Và còn nhiều công trình nghiên cứu khác về vấn đề về đọc – hiểu. Có
thể khẳng định rằng, các công trình ấy đã khảo sát một cách khá đầy đủ và
toàn diện về vai trò của việc đọc văn và vấn đề đọc – hiểu. Đọc – hiểu văn

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

bản chính là bước khởi đầu, là nền tảng, tiền đề, là chìa khoá mở cánh cửa
tìm hiểu tác phẩm văn học, lĩnh hội văn chương.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài:
+ Thi pháp học
+ Thi pháp thơ Đường
+ Lí thuyết tiếp nhận
+ Lí thuyết đọc – hiểu.
- Trên cơ sở đó xác lập cách thức hướng dẫn HS đọc hiểu các tác phẩm thơ
Đường dựa vào thi pháp thơ Đường.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

ứng dụng thi pháp thơ Đường vào việc hướng dẫn HS đọc – hiểu tác phẩm thơ
Đường ở trường THPT giúp HS tiếp nhận tác phẩm một cách bài bản nhất.
Khẳng định vai trò của thi pháp thơ Đường, những công trình nghiên cứu
về thi pháp thơ Đường và cụ thể hóa ở những tác phẩm trong trường THPT, từ
đó hiểu và tìm ra những phương pháp phù hợp cho giờ dạy.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung.
Chương 2: Thi pháp thơ Đường với việc hướng dẫn học sinh đọc – hiểu các
tác phẩm thơ Đường trong trường THPT.

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Cơ sở lí luận
1.1 Thơ Đường và thi pháp thơ Đường.
1.1.1 Vài nét về thơ Đường
Đời Đường trong lịch sử Trung Quốc như một mốc son chói lọi. Nhắc đến
thời Đường, thế giới đương thời coi nó như một quốc gia tiên tiến, văn minh của
nhân loại trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt văn học thời kì này (mà cụ thể là thơ ca)
được ví như đỉnh cao chói sáng của mấy nghìn năm lịch sử văn học Trung Quốc.

trị, kinh tế của nhà Tùy trong những năm đầu tương đối ổn định. Con của Dương
Kiên (Dương Quảng) giết bố cướp ngôi lấy hiệu là Tùy Dưỡng Đế thực sự là tên
bạo chúa. Y tìm mọi cách bòn rút sức lực, tiền bạc của nhân dân nhằm phục vụ cho
lạc thú của mình. Do chế độ cai trị hà khắc, đầu thế kỉ thứ bảy, khởi nghĩa nông dân
nổ ra khắp nơi chống lại nhà Tùy báo hiệu sự diệt vong của vương triều này và sự
xuất hiện của vường triều phong kiến mới. Trong bối cảnh ấy, hai cha con nhà Lý
Uyên và Lý Thế Dân đã dựng cờ khởi nghĩa, tập hợp lực lượng và tấn công vào
kinh đô Tràng An buộc Tùy Dưỡng Đế phải tự sát, xóa bỏ nhà Tùy, lập nên một
vương triều mới lấy quốc hiệu là Đường (618). Bài học dẫn tới sự sụp đổ của nhà
Tùy không thể không trở thành mối quan tâm của các vua chúa đầu đời Đường. Rõ
ràng họ đã nhận ra những mâu thuẫn, những xung đột gay gắt trong lòng xã hội
Trung Quốc đời nhà Tùy để có những đối sách phù hợp, điều hòa các mâu thuẫn
ấy. Những chính sách đổi mới thể hiện qua đối nội và đối ngoại. Nếu như ổn định
dân trong nước bằng chính sách quân điền (lấy đất đai hoang hóa chia cho người
lao động); giảm tô thuế, bãi bỏ tất cả các loại thuế vô lí; bãi bỏ tất cả các hình phạt
hà khắc tạo điều kiện cho nhân dân làm ăn sinh sống, khuyến khích người dân làm
giàu chính đáng, thì phương châm đối ngoại, nhà Đường cho mở cửa biên giới
(điều này vốn có ở đời Hán sau đó bị khống chế gắt gao) để thông thương với kinh
tế nước ngoài góp phần chấn hưng nền kinh tế trong nước. Những chính sách đối
nội, đối ngoại đúng đắn ấy đã kích thích tất cả các ngành kinh tế: thương mại, giao
thông vận tải, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế
nhà Đường duy trì nhịp độ tăng trưởng trong vòng 100 năm liên tục (618 – 742).
Nó đạt được sự cực thịnh vào niên hiệu Khai Nguyên (Đường Huyền Tông 712 –

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

cả các thành tựu kinh tế tạo dựng suốt 100 năm đã bị phá hoại nghiêm trọng,
nông thôn xác xơ, tiêu điều, nhân dân phần thì chết chóc vì đói khổ chiến tranh,
li tán, phần thì sống trong lo âu vì sưu thuế, cơ cực. Những văn nghệ sĩ đương
thời cũng chịu thảm cảnh này cùng nhân dân. Tất cả bức tranh hiện thực ấy
được phản ánh trong các bài thơ Đường. Một xã hội suy thoái song lại là mảnh
đất cho văn học hiện thực nói chung và thơ hiện thực nói riêng phát triển mạnh
mẽ mà cây đại thụ là Đỗ Phủ. Đến đầu thế kỉ thứ IX xuất hiện cả một phong
trào thơ hiện thực do Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn khởi xướng với tên gọi Tân
Nhạc Phủ.
300 năm với những biến cố lúc thăng lúc trầm của lịch sử - xã hội khiến
cho nền thơ ca thời Đường đông đảo về tác giả, đa dạng về đề tài và giàu giá trị
nhân văn.
Đời Đường, chính sách văn hóa tư tưởng cũng cởi mở hơn so với nhà
Hán. Từ Hán tới Đường, chính sách tư tưởng vận động từ chặt chẽ, nghiêm khắc
đến linh hoạt, mềm dẻo. Nếu đời Hán thi hành chủ trương “Bãi truất bách gia,
độc tôn nho học” thì đến đời Đường không chỉ nho giáo mới được coi trọng mà
cả các học thuyết khác cũng được truyền bá trong nước. Sự mở cửa thông
thương về kinh tế cũng là dịp văn hóa nhà Đường được giao lưu, gặp gỡ và chọn
lọc những tinh hoa. Sự đa dạng về tôn giáo ảnh hưởng tới cả tư tưởng tới sáng
tác của giới nghệ sĩ nổi bật như Lí Bạch với Đạo giáo; Đỗ Phủ, Hàn Dũ với Nho

Hội họa cũng là ngành nghệ thuật có quan hệ chặt chẽ với thơ ca, mối
quan hệ tự nhiên và trực tiếp. Ở Trung Quốc hội họa được coi là “vô thanh thi”
(thơ không tiếng). Một tác phẩm hội họa thực sự là một bài thơ bằng đường nét
và màu sắc. Hội họa và chữ viết có chung nguồn gốc. Hội họa là hình thức cụ thể
của chữ viết, chữ viết là hình thức biểu đạt trừu tượng hơn. Dù hội họa Trung
Hoa sử dụng lối vẽ cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết hay lối vẽ phác họa thâu tóm cái thần cốt
thì đều nổi bật ở cái không gian. Đó là khoảng trống, khoảng trắng đầy ắp tinh
thần triết học Trung Hoa. Không gian hội họa ấy ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc
tới việc hình thành không gian trong thơ Đường. Người ta bắt gặp cái mô hình
không gian được gói ghém trong một chữ “không” ở hàng loạt bài thơ: “không
sơn bất kiến nhân”(Lí Bạch); “Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu” (Thôi Hiệu);
“Dạ tĩnh xuân xuân không” (Vương Duy);… Trong tác phẩm hội họa người ta
cũng bắt gặp một đôi câu thậm chí cả bài thơ. Như vậy, hội họa vừa trở thành
nguồn cảm xúc, vừa là nơi lưu trữ thơ ca.

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Ngoài ra đề tài trong thơ Đường cũng ảnh hưởng lớn từ đề tài tranh cổ
điển Trung Hoa: sơn thủy, hoa điểu, chân dung,… trong đó cảm xúc trước thiên
nhiên chiếm một tỉ trọng lớn trong sáng tác của thi nhân đời Đường.
Thơ – nhạc – múa gắn với nhau từ rất sớm. Âm nhạc và múa là đề tài
quen thuộc đối với các nhà thơ đời Đường, còn thơ tăng sức âm vang của mình
nhờ âm nhạc. Những bài thơ viết về nhạc, những bài nhạc lấy lời tự thơ chứng tỏ


khỏi các không khí ủy mị của thơ Lục Triều. Những gương mặt tiêu biểu cho
thời kì đầu là: Thẩm Thuyên Kỳ (? - 714), Tống Chi Vấn (?-712). Thơ
“Thẩm - Tống” tuy nội dung chưa sâu sắc song có công góp phần hoàn chỉnh thơ
Luật. Nổi bật dòng thơ sơ Đường là Vương Tích và nhóm Tứ kiệt (bốn nhà thơ
kiệt xuất: Dương Quýnh (650 – 695?); Lư Chiếu Lân; Lạc Tân Vương (640? ?) và Vương Bột (649 – 676). Nhóm Tứ kiệt đã ghi lại trung thực bằng lời ca
thắm thiết cảnh đau thương trong chiến tranh. Họ là những người hoàn chỉnh thơ
năm chữ. Thơ ca sơ Đường thực sự đổi mới với sự xuất hiện của Trần Tử
Ngang (661 – 701). Ông là người đề xướng cách tân thơ ca, thoát khỏi công thức
hoa lệ, phù phiếm, đưa nó lại gần đời sống hiện thực.
Thời kì thịnh Đường (713 – 765): đây là thời kì rực rỡ nhất của thơ
Đường. Những gì đã được thai nghén và ấp ủ bấy lâu đến giai đoạn này sinh
thành và nảy nở trên một quy mô lớn trên cả bề rộng lẫn chiều sâu. Thơ thịnh
Đường hoàn mĩ cả về nội dung lẫn hình thức. Đội ngũ thơ đông đảo, số lượng
tác phẩm dồi dào; phong cách, khuynh hướng, trường phái phong phú. Bên cạnh
hai khuynh hướng cơ bản là khuynh hướng lãng mạn mà Lí Bạch là con chim
đầu đàn và khuynh hướng hiện thực mà Đỗ Phủ là chủ tướng, người ta còn thấy
các phái thơ tiêu biểu như phái thơ biên tái và phái thơ điền viên sơn thủy.
Thời kì trung Đường (766 – 835): Thơ hiện thực tiếp tục phát triển
mạnh và đẩy lên thành phong trào Tân nhạc phủ do Nguyên Chẩn (799 – 781)
và Bạch Cư Dị (772 – 846) khởi xướng. Bản thân tên của phong trào do hai
ông khởi xướng cũng đã có ý nghĩa nhấn mạnh, đề cao tinh thần hiện thực
trong sáng tác nghệ thuật văn chương. Cùng với hai nhà thơ này còn một loạt
các cây bút nổi tiếng khác như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Mạnh Giao
(751 – 814); Giả Đảo (779 – 843); Lưu Vũ Tích (772 – 842)… Phẩm chất
hiện thực là đặc điểm nổi bật trong thơ Đỗ Phủ ở buổi thịnh Đường, giờ đây

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn

Nếu như trước đây do hoàn cảnh lịch sử mà người ta chưa quan tâm
nhiều đến hình thức tác phẩm văn học (chủ yếu chú trọng vào khía cạnh nội

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

dung) thì gần đây việc nghiên cứu về thi pháp (hình thức tác phẩm) được các
nhà khoa học quan tâm nhiều hơn. Nói cho cùng, một tác phẩm văn học nội
dung chỉ có giá trị khi tồn tại trong một hình thức nhất định. Nội dung và hình
thức là hai yếu tố của chỉnh thể tác phẩm văn học không thể tách rời.
Mỗi một học giả hay một công trình nghiên cứu liên quan đều đưa ra định
nghĩa về thi pháp.
Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao khẳng định: “Thi pháp là tổ
hợp những đặc tính thẩm mĩ - nghệ thuật và phong cách của một hiện tượng văn
học, là cấu trúc bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành tố bên
trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành tố nghệ thuật và mối quan hệ
giữa chúng”.
GS Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt
Nam cho rằng: “Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo
thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp không phải
là nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong vốn có của
sáng tạo nghệ thuật. Nó là mĩ học nội tại của sáng tác nghệ thuật, gắn liền với
sự sáng tạo và một trình độ văn hóa, nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm
nhất định đối với cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu

thống các yếu tố hình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tạo nên một thế
giới nhất định (hệ thống đó bao gồm thể loại, kết cấu, thời gian, không gian, con
người, ngôn ngữ,…).
Đến đây chúng tôi đặt ra một câu hỏi “Thi pháp học là gì?”.
1.1.2.1.2 Thi pháp học
GS Trần Đình Sử trong Thi pháp học hiện đại khẳng định “Thi pháp học
là một bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi
nguyên tắc, phương diện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động, phát triển
lịch sử của chúng”.
Đỗ Đức Hiểu thì khẳng định “Thi pháp học là một ngành khoa học
chuyên nghiên cứu tác phẩm văn học để hướng dẫn cho sáng tác và tiếp nhận
văn học. Thi pháp học đem đến cho diễn đàn nghiên cứu, phê bình văn học,
giảng dạy văn học nhiều thuật ngữ mới, cách diễn đạt mới”.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học mục “Thi pháp học và thi pháp” (Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) định nghĩa:

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

“Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp tức là hệ thống các
phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ
thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống
hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia váo sự tạo thành thế giới nghệ
thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh sáng tác nghệ thuật.

Khóa luận tốt nghiệp

Từ các định nghĩa trên có thể hiểu nếu thi pháp là hệ thống hình thức nghệ
thuật thì thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu hệ thống hình thức đó.
Chúng tôi cũng khẳng định thi pháp thơ Đường thuộc phạm vi thi pháp học
chuyên biệt (thi pháp miêu tả). Một số phương diện của thi pháp thơ Đường sẽ
được chúng tôi tìm hiểu dựa vào những nhận định trên.
1.1.2.2 Các phương diện trong thi pháp thơ Đường.
Trong cuốn Hán văn học sử cương, Lỗ Tấn viết: “Đến thơ Đường, văn
xuôi và thơ Trung Quốc có một sự biến đổi lớn”. Sự đột biến này là kết quả của
một quá trình tích lũy lâu dài những kinh nghiệm nghệ thuật của hơn mười thế kỉ
thơ ca đã đến độ chín muồi. Sự đột biến này thể hiện ở sự tư duy nghệ thuật, một
hệ thống thi pháp mới mẻ, độc đáo, tạo nên dấu mốc quan trọng trên con đường
phát triển của thơ ca Trung Quốc.
Thi pháp thơ Đường rất phong phú, đa dạng. Song với khuôn khổ đề tài để
hướng dẫn học sinh đọc – hiểu các tác phẩm thơ Đường trong nhà trường, chúng
tôi chỉ trình bày một số phương diện tiêu biểu như:
- Thể loại và kết cấu.
- Thời gian nghệ thuật.
- Không gian nghệ thuật.
- Quan niệm nghệ thuật về con người.
- Ngôn ngữ.
1.1.2.2.1. Thể loại và kết cấu.


Thể loại.
Thể loại là một phạm trù thuộc hình thức của tác phẩm văn học, là phương

tiện hình thức phù hợp với nội dung nhất định. Như vậy, thể loại không phải là
tùy tiện mà mang tính quy luật. Arixtốt chia văn học thành ba loại chính: tự sự,

Tuyệt cú (tứ tuyệt) là thể thơ bốn câu, gồm ngũ ngôn tuyệt cú (ngũ tuyệt) và thất
ngôn tuyệt cú (thất tuyệt).
Có người cho rằng “tuyệt” nghĩa là tuyệt đối, tuyệt vời, không thể nào so
sánh được.
Một quan niệm khác cho rằng “tuyệt” nghĩa là đứt, là cắt. Thơ tuyệt cú
được cắt ra từ bài bát cú. Có bốn cách cắt thành bốn dạng thơ tuyệt cú.
Cắt lấy bốn câu đầu: bài thơ sẽ có bốn câu, ba vần (ở cuối câu 1,2,4) và
hai câu sau là “đối liên” (câu 3, 4 đối nhau ).

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Cắt lấy bốn câu sau: bài thơ có hai vần (ở câu 2 và câu 4) và hai câu trước
là “đối liên”.
Cắt lấy bốn câu giữa: bài thơ có hai vần (ở câu 2 và câu 4) và sẽ có hai cặp
đối – câu 2 đối câu 1, câu 4 đối câu 3.
Cắt lấy hai câu đầu ghép với hai câu cuối: bài thơ có ba vần (ở câu 1, 2, 4)
và không có đối liên.
Mặc dù thực tế quả có bốn dạng thơ tuyệt cú trên song về mặt nội dung
mỗi bài thơ tuyệt cú là một tác phẩm hoàn chỉnh, độc lập chứ không đơn thuần là
sự cắt ghép tùy tiện. Ví dụ bài Ô ly hạng - Lưu Vũ Tích (thất ngôn tuyệt cú );
bài Xuân hiểu - Mạnh Hạo Nhiên (ngũ ngôn tuyệt cú).
Cả luật thi và tuyệt cú đều là thơ cách luật. Niêm luật của thơ tuyệt cú
tương ứng với luật thi.

định này thì gọi là thất luật.
Vần (vận): Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống
nhau, dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong thơ Đường luật chỉ cho phép gieo
một vần, tuyệt đại đa số luật thi chỉ dùng vần bằng (vần trắc được dùng nhiều
trong thơ cổ phong). Vị trí vần được tính từ chữ cuối của câu một và chữ cuối
của các câu số chẵn, riêng chữ cuối của câu một có thể thay đổi. Những câu này
được gọi là “vần với nhau”. Nếu trong một bài thơ Đường mà chữ cuối của một
trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi là “thất vận”.
Đối: Đối là một nguyên tắc bắt buộc của luật thi. Người xưa quan niệm
“Phi đối bất thành luật”. Lí thuyết về đối trong thơ Đường luật bắt nguồn từ tư
tưởng mĩ học Trung Hoa cổ đại cái đẹp là sự cân đối hài hòa. Trong một cặp bát
cú thì cặp hai và cặp ba phải đối nhau (liên hai câu 3,4, còn liên ba câu 5,6 tức là
câu 4 đối với câu 3 còn câu 5 đối với câu 6). Xét về hình thức thì có cả thuận đối
và nghịch đối. Một cặp đối được cho là chuẩn khi thỏa mãn ít nhất ba yêu cầu:
đối về loại, về ý, về nhịp. Các nhà nghiên cứu cho rằng đối trong thơ Đường luật
hết sức phức tạp. GS Nguyễn Khắc Phi trong bài viết “Vấn đề đối ngẫu trong
thơ Đường luật” chia thành mười một loại khác nhau. Tác giả Quách Tấn trong
Thi pháp thơ Đường ở bức thư thứ 14 ông trình bày Đối ngẫu đời Đường định
ra Lục Đối( Chính danh đối, đồng loại đối, liên hoàn đối, song thanh đối, điệp
vận đối, song nghĩ đối), Bát đối ( đích danh đối, dị loại đối, song thanh đối, điệp
vận đối, liên miên đối, song nghĩ đối, hồi văn đối, cách cú đối). Song nếu căn cứ

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Đường luật.

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Có ý kiến chia làm bốn phần: 2/2/2/2 (đề, thực, luận, kết), mỗi liên thơ
tương ứng một phần.
Hai câu đầu gọi là đề (câu thứ nhất là phá đề - mở ý đầu của bài ra, câu
thứ hai là thừa đề - tiếp ý của câu thứ nhất để chuyển vào thân bài).
Câu 3, 4 gọi là thực (giải thích rõ ý nghĩa phần đề).
Câu 5, 6 gọi là luận (phát triển ý nghĩa phần đề).
Câu 7, 8 gọi là kết (kết thúc ý nghĩa của toàn bài).
Đây là cách chia, cách gọi tên ở Việt Nam (GS Nguyễn Khắc Phi cho
rằng chưa xác định rõ ai, từ khi nào có cách gọi này). Cách phân chia này tồn tại
phổ biến đặc biệt trong nhà trường phổ thông, GV vẫn áp dụng nó để giảng dạy
một bài luật thi với học sinh.
Có ý kiến lại chia thành ba phần: 2/4/2 do Phơ răng xoa Trình, nhà kí
hiệu học Pháp gốc Trung Quốc đề xuất. Theo ông, ở liên một và liên bốn, trật tự
thời gian chiếm ưu thế; ở liên hai, liên ba, trật tự không gian chiếm ưu thế. Tính
chất họa thể hiện rõ nhất ở bốn câu giữa. Đây là cách chia gần với văn bản hiện
đại (mở bài, thân bài, kết bài).
Có ý kiến chia bài luật thi thành hai phần (4/4). Mô hình này do Kim
Thánh Thán (đời Thanh) đề xuất. Bốn câu trên được Thánh Thán gọi là Tiền
giải ( nặng về cảnh), bốn câu dưới được gọi là hậu giải (nặng về tình).

gian lịch sử, thời gian sinh hoạt và thời gian siêu nhiên. Tác giả Nguyễn Thị
Bích Hải ở mục “Thời gian nghệ thuật” trong Thi pháp thơ Đường đã trình bày
cụ thể hai mô hình thời gian: thời gian vũ trụ và thời gian đời thường.
Thời gian vũ trụ: nói thời gian vũ trụ là nói tới thời gian trong mối quan hệ
biện chứng với không gian. Không gian là cái nhìn thấy được còn thời gian
chẳng ai thấy hình thù bao giờ. Thời gian vô hình song chẳng có cái gì tồn tại mà
không vận động trong thời gian. Trong thơ Đường tồn tại rất nhiều địa danh.
Chính nó cho ta biết về thời gian. Thơ Đường ít bó hẹp trong một khoảng thời
gian nào. Nó vận động trong cái hoài cổ về quá khứ, trẩm tư với hiện tại và mơ
màng đến tương lai. Song thơ Đường ưu tiên cho thời gian quá khứ nhiều chủ
yếu ở hai dạng: thời gian hoài cổ (như bài Bạch đế Hoài Cổ, Vịnh hoài cổ tích,
Xích Bích hoài cổ…) và thời gian kí ức (với bạn cũ, quê cũ, tình cũ: “Tống
Nguyệt Nhị xứ An Tây” – Vương Duy; Dạ vũ kí Bắc – Lí Thương Ẩn…; kính
ngưỡng và biết ơn quá khứ vì thương hiện tại và lo cho tương lai. Đó chính là
căn nguyên sâu xa của thời gian vũ trụ trong thơ Đường. Sự chảy trôi liên tục,

Nguyễn Thị Anh

K35A – SP Ngữ văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status