Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC SƯ PHạM Hà NộI 2
TH LNH
TH GII NHN VT TRONG TRUYN NGN CA
A.P. SấKHP
LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam
Hà nội, 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS. TS
Phạm Thành Hưng- người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và chu
đáo để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo, bạn bè, người
thân đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Cũng qua đây, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới trường THPT
Quang Minh, tổ Ngữ văn trường THPT Quang Minh đã tạo mọi điều
kiện về thời gian cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2013
2. Lịch sử vấn đề………………………....................................
2
2.1. Tình hình dịch thuật tác phẩm Sêkhốp tại Việt Nam……...
2
2.2. Tình hình nghiên cứu Sêkhốp……………………………….
3
2.2.1. Tình hình nghiên cứu Sêkhốp ở Nga……………………..
3
2.2.2. Tình hình nghiên cứu Sêkhốp ở Việt Nam……………….
7
3. Mục đích nghiên cứu…………………………………………..
12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………….
12
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………
22
1.2.1. Giai đoạn đầu những năm 80……………………………..
22
1.2.2. Giai đoạn cuối những năm 80…………………………….
26
1.3. Ảnh hưởng của truyện ngắn Sêkhốp với dòng văn học
hiện thực Nga……………………………………………………...
26
Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN SÊKHỐP……………………………………………….
29
2.1. Khái niệm nhân vật truyện………………………………….. 29
2.2. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Sêkhốp……………...
30
2.2.1. Kiểu nhân vật con người nhỏ bé………………………….
30
65
3.1.3. Ngôn ngữ người kể truyện………………………………..
67
3.1.4. Nghệ thuật tạo tình huống……………………………......
72
3.2. Mối quan hệ giữa hình tượng nhân vật với kết cấu
truyện………………………………………………………………
75
3.2.1. Nhân vật và cốt truyện…………………………………….
76
3.2.2. Tính biểu tượng và khả năng đối thoại của nhân vật
cùng độc giả..........................................................................
89
3.2.3. Thiên nhiên Nga và tính cách Nga trong truyện ngắn
Sêkhốp..................................................................................
96
thức dậy trong lòng họ một khát vọng về một sự đổi thay lớn lao cần
phải có.
Sáng tác của Sêkhốp được bạn đọc khắp năm châu yêu mến và
đón nhận. Ông là một trong những tác giả cổ điển được đọc nhiều
nhất thế kỉ XX. Nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành
phim. Theo kết quả khảo sát của tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Ogonhek Nga), Sêkhốp nằm trong số 10 tác gia văn học kinh điển của thế giới
có các tác phẩm được đưa lên màn bạc và truyền hình nhiều nhất, với
287 lần, ngang bằng với số lần các tác phẩm được dựng phim của
Charles Dickens và chỉ ít hơn William Shakespeare (Báo Văn nghệ,
số 10, ngày 6/3/2010).
2
Ở Việt Nam, độc giả làm quen với những tác phẩm của nhà
văn Nga vĩ đại này từ hơn nửa thế kỉ nay. Kể từ đó, Sêkhốp luôn là
một trong những nhà văn nước ngoài được đọc nhiều nhất, được yêu
quý nhất ở Việt Nam bởi sự gần gũi với mỗi trái tim độc giả. Những
sáng tác tiêu biểu của ông được đưa vào chương trình đại học và
chương trình ngữ văn lớp 11.
Sáng tác nghệ thuật của Sêkhốp giữ một vị trí, vai trò đặc biệt
trong sự phát triển của văn học Nga và văn học thế giới. Hệ thống thi
pháp của ông có tác động mạnh mẽ tới sáng tác của nhiều thế hệ các
nhà văn.
Chúng tôi nhận thấy rằng ở Việt Nam đã có nhiều người
nghiên cứu về tác phẩm của ông. Tuy nhiên, cho đến nay có một
thực tế cả người học và người nghiên cứu gặp nhiều khó khăn về tư
liệu và hướng tiếp cận. Trong bối cảnh đó, chọn đề tài: Thế giới
nhân vật trong truyện ngắn của Sêkhốp chúng tôi rất mong sẽ góp
phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận thể loại truyện ngắn và những
năm 1886, Grigôrôvich gửi cho Sêkhốp một bức thư nổi tiếng, nó có
ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc đời viết văn của nhà văn trẻ . Nhà văn
lão thành khâm phục “tính chính xác, chân thực tuyệt vời trong việc
miêu tả nhân vật và thiên nhiên” của Sêkhốp, khẳng định ở ông có
“tài năng đích thực”, khen ngợi “khả năng phân tích nội tâm chính
xác”, “tài nghệ trong miêu tả”, “khả năng tạo hình”, và tin tưởng
Sêkhốp thuộc số những người viết được những tác phẩm xuất sắc,
những tác phẩm nghệ thuật thực sự. Grigôrôvich nghiêm khắc đề
nghị nhà văn trẻ tôn trọng “tài năng hiếm có của mình”, “giữ gìn ấn
tượng cho những tác phẩm đã được cân nhắc kĩ, được viết ra không
phải bằng một hơi, mà là trong những giờ phút hạnh phúc của trạng
thái tinh thần”. Bức thư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
4
Sêkhốp. Nó vừa khích lệ tinh thần vừa như thức tỉnh nhà văn có ý
thức, trách nhiệm hơn đối với tài năng và những sáng tác của mình.
Đại văn hào L.Tônxtôi yêu mến Sêkhốp – con người “tuyệt vời,
đáng mến”có “trái tim nhân hậu”, một người “rất, rất Nga”, “con
người tuyệt mĩ, chân thành và trung thực”. Tônxtôi ca ngợi tài năng
Sêkhốp và tiếp nhận nghệ thuật của ông như một hiện tượng độc đáo
và xuất sắc. Cảm phục kĩ thuật viết của nhà văn thuộc thế hệ đàn em,
đại văn hào không ngần ngại so sánh ông với “mặt trời của thi ca
Nga”, xem ông là “Puskin trong văn xuôi” và khẳng định: “giống
như Puskin, ông đã đẩy hình thức lên phía trước, và đây là một công
lao lớn” . L.Tôixtôi cho rằng Sêkhốp là một trong số ít các nhà văn
có thể “đọc đi đọc lại nhiều lần” và đã chọn ra 30 truyện của Sêkhốp
mà ông cho là hay nhất. Đại văn hào rất thích truyện ngắn Đusechka
và viết lời bạt năm 1905, trong đó thể hiện cách tiếp cận khá thú vị
Nga thời kì đó. Hai bài viết rất quan trọng của Gorki về sáng tác của
Sêkhốp đều được viết năm 1900, sau sự xuất hiện của truyện ngắn
Người đàn bà có con chó nhỏ (1899) và truyện vừa Trong khe núi
(1900). Gorki nhấn mạnh “sức mạnh khủng khiếp” của tài năng
Sêkhốp nằm ở việc ông viết sự thật, “không bao giờ tự bịa đặt ra bất
cứ cái gì”. Bác bỏ ý kiến của Mikhailôpxki cho rằng ở Sêkhốp không
có thế giới quan, tác giả khẳng định ở nhà văn “ có một cái gì lớn
hơn cả thế giới quan”. M.Gorki đặc biệt nhấn mạnh sự đổi mới căn
bản trong chủ nghĩa hiện thực Sêkhốp, trong cách viết của Sêkhốp:
“Anh đã giết chết chủ nghĩa hiện thực. Và anh sẽ giết chết nó rất
nhanh, chết hẳn trong một thời gian dài…”. Và như thế, cả hai nhà
văn vĩ đại đều khẳng định Sêkhốp là người tạo nên đời sống mới cho
chủ nghĩa hiện thực Nga.
6
Tác giả Pauxtôpxki trong “Một mình với mùa thu” viết năm
1953 có bàn về chất thơ của văn xuôi “Thứ văn xuôi có sức lay động
sâu xa nhất – đó là thứ văn xuôi cô đúc, trong đó loại bỏ tất cả
những gì thừa ra, những gì có thể không nói, chỉ để lại những gì nhất
thiết phải nói”, “Tôi cảm thấy rằng chính đó là bí quyết của khả năng
có thể dựng lại chỉ bằng đôi ba nét chân dung sinh động, dường như
có thể sờ mó được của một người nào đó như Sêkhốp đã làm được
một cách tuyệt diệu”.
Một số nhà nghiên cứu đã thử nghiệm tiếp cận sáng tác Sêkhốp
từ góc độ thi pháp học. Đó là công trình : “Thi pháp Sêkhốp”của A.
Truđacôp một chuyên gia về Sêkhốp ở Nga đã mở ra hướng nghiên
cứu mới đóng góp nhiều cho việc nghiên cứu Sêkhốp. Dựa vào đặc
điểm của cấu trúc trần thuật, Truđacôp chia sáng tác Sêkhốp thành 3
pháp tạo khoảng trống.
Đó là một số thông tin chọn lọc về tình hình nghiên cứu
Sêkhốp ở Nga mà chúng tôi biết được qua một số tài liệu dịch tiếng
Việt.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu Sêkhốp ở Việt Nam
Có thể nói, so với nhiều nhà văn nước ngoài, Sêkhốp và những
tác phẩm của ông đến với bạn đọc Việt Nam khá sớm. Tác giả Trần
Thị Quỳnh Nga cho biết: vào những năm 40 thế kỉ XX một số truyện
Sêkhốp đã được dịch ra tiếng Việt: Nỗi lòng ai tỏ, Tuổi già. Theo
nhà văn Nguyễn Tuân thì ngay từ lúc mới xây dựng chính quyền
cách mạng, năm 1946, ở Việt Nam đã xuất hiện bản dịch Cái chết
của một viên chức. Sau đó, một số tác phẩm của Sêkhốp đã đến tay
đọc giả Việt Nam, lúc đầu qua những bản dịch tiếng Pháp, tiếng
Anh, sau là các bản dịch từ tiếng Nga.
8
Một trong những tên tuổi hàng đầu của văn học Việt Nam- nhà
văn Nguyễn Tuân rất yêu mến Sêkhốp bởi “cái phần cốt cách” trong
con người nhà văn đến từ nước Nga xa xôi này. Năm 1957, nhà văn
Nguyễn Tuân đã viết bài nghiên cứu đầu tiên về những sáng tác của
ông. Có thể nói ngay từ năm đó, với tâm huyết, sự trân trọng và
khâm phục đối với tài năng của nhà văn hiện thực Nga vĩ đại, với
khả năng phân tích, cảm thụ văn học sâu sắc, Nguyễn Tuân đã phát
biểu những nhận xét rất tinh tế về thế giới nghệ thuật của Sêkhốp.
Trong bài viết của mình, Nguyễn Tuân chỉ ra một số đặc điểm
của phong cách nghệ thuật Sêkhốp mà đến nay chúng ta vẫn tiếp tục
nghiên cứu. Tác giả nhận xét về phong cách kể chuyện của Sêkhốpphong cách khách quan, không chen vào giải quyết vấn đề mà trông
cậy, tin tưởng vào tính tích cực của độc giả; nhận xét về thế giới
trong thể loại truyện ngắn và kịch. Tác giả khẳng định: “Sự thật- đấy
là khẩu hiệu và vũ khí mà văn sĩ tự xác định cho mình”. Nhận xét về
thế giới nghệ thuật Sêkhốp, tác giả viết: “Quả là một bức hoạ văn
học lớn lao, do hàng trăm bức tiểu hoạ tạo thành, trong đó văn sĩ
biểu hiện mọi khía cạnh của cuộc sống Nga đương thời, bủn xỉn, chật
chội”. Khẳng định Sêkhốp tiếp tục khuynh hướng hiện thực chủ
nghĩa của Gôgôn và Xantưcôp-Sêđrin, Hoàng Xuân Nhị nhấn mạnh
“tính chiến đấu” không khoan nhượng trong những sáng tác của
Sêkhốp với “chất bùn” nhơ nhuốc tanh hôi của bao nhiêu điều tuy
vụn vặt mà khủng khiếp, làm cho cuộc sống phải biến chất, phải tiêu
ma.
Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Nga (tái bản lần thứ ba năm
2001), phần viết về Sêkhốp, tác giả Đỗ Hồng Chung phát biểu nhiều ý kiến
thống nhất với các nhà biên soạn các giáo trình trước, đồng thời nhấn mạnh
một trong những đặc điểm cơ bản của thi pháp Sêkhốp, đó là sự tồn tại “hai
10
bình diện”, hay “dòng chảy ngầm”, “cái sau văn bản”, “ý tại ngôn ngoại” trong
sáng tác của nhà văn: “Hai bình diện này (bình diện đời sống sinh hoạt bên
ngoài và bình diện đời sống tư tưởng, tình cảm bên trong) đan kết hoà quyện
vào nhau. Từ bình diện thứ nhất phát hiện bình diện thứ hai, khi đó cuộc đời tẻ
nhạt, vô vị được soi sáng sẽ hiện ra những màu sắc mới, ý nghĩa mới”.
Năm 1987, trong cuốn “Nghệ thuật dân tộc và quốc tế” đăng
bài “Sêkhốp nhà văn vĩ đại của nhân dân Nga” của Mai Thúc Luân,
tác giả xác định truyện của Sêkhốp là “loại truyện với chủ đề sinh
hoạt mang tính chất trữ tình tâm lí” và chỉ ra những đặc điểm cơ bản
trong thi pháp nghệ thuật của nhà văn, đó là sự ngắn gọn , tính hàm
súc của các tình tiết, là nghệ thuật miêu tả nhân vật “từ bên trong”,
tân nghệ thuật của Anton Chekhov” của Đào Tuấn Ảnh, “Tchekhov,
nhà văn xuôi tự sự, nhà viết kịch” của Phạm Vĩnh Cư, “Sekhov và
Nam Cao - nhìn từ hai nền văn học” của Phong Lê, “Antôn Sêkhôpngười thuật truyện điềm tĩnh tài hoa” của tác giả Nguyễn Trường
Lịch.
Một số khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn chương tìm hiểu về
Sêkhốp như "Bước đầu tìm hiểu phong cách truyện ngắn A.Sêkhốp"
của Nguyễn Thị Vân Anh K35 ĐH Tổng Hợp Hà Nội (1994), "Thiên
nhiên trong truyện ngắn A.P. Sêkhốp" của Trần Thị Thu Hương K50
Trường ĐH Sư Phạm Hà Nội, Khoa Ngữ Văn (2004), "Không gian và
thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của A.P. Sêkhốp" của Đỗ Lan
Anh K26 Trường ĐH Sư Phạm Hà Nội II, Khoa Ngữ Văn (2004),
"Kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn của A.P. Sêkhốp" của
Nguyễn Thu Trang K28 ĐH Sư Phạm Hà Nội II, Khoa Ngữ Văn
(2006). Luận văn thạc sỹ "Hình tượng người thuật truyện trong
truyện ngắn của A.P. Sêkhốp" của Trần Thị Hồng Trường ĐH Khoa
Học Xã Hội và Nhân Văn, Khoa Văn học (2006), "Thế giới nghệ
12
thuật truyện ngắn Sêkhốp" của Lê Thị Hoài Giang trường ĐH Vinh
(2007).
Như vậy, điểm qua các bài viết nghiên cứu về Sêkhốp ở Việt
Nam dù còn khiêm tốn nhưng những gì mà giới nghiên cứu văn học
dành cho ông là rất đáng quý. Ông xứng đáng được coi là nhà cách
tân vĩ đại ở hai thể loại truyện ngắn và kịch, là nhà văn nhân đạo sâu
sắc.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ nghiên cứu tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện
ngắn Sêkhốp trên một số phương diện cơ bản nhất. Để thực hiện mục
NỘI DUNG
Chương 1
TRUYỆN NGẮN SÊKHỐP GIỮA DÒNG VĂN HỌC
HIỆN THỰC NGA
1.1. Văn học hiện thực Nga nửa sau thế kỷ XIX
1.1.1. Bối cảnh xã hội Nga
Cùng với sự kế thừa và phát huy những thành tựu xuất sắc của
văn học Nga nửa đầu thế kỉ, nền văn học Nga nửa sau thế kỉ XIX đã
đạt tới đỉnh cao, góp phần cống hiến quan trọng vào kho tàng văn
hoá nghệ thuật nhân loại. Nội dung văn học giai đoạn này được đánh
dấu bởi những biến cố lịch sử lớn lao.
Điều đáng chú ý là sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh
Crưm (1854- 1856) nước Nga càng lúc càng lún sâu vào cuộc khủng
hoảng không thể cứu vãn. Những khó khăn do các cuộc khởi nghĩa
của nông dân, do sự suy sụp về kinh tế, do những thất bại quân sự…
đã buộc Nga hoàng phải tiến hành cải cách từ trên xuống và chính
quyền chuyên chế buộc lòng phải huỷ bỏ chế độ nông nô vào ngày
19.2.1861 giải phóng hàng chục triệu người.
Tuy nhiên, thực chất đây là một cuộc cải cách không triệt để.
Chính giai cấp phong kiến thống trị đã cấu kết với giai cấp tư sản
nhằm lẩn tránh các cuộc bạo động của quần chúng. Sau cuộc cải
cách, số phận của hàng chục triệu nông dân vẫn không hề được cải
thiện. Ðiều này đã dẫn đến sự bùng nổ của hàng chục ngàn cuộc bạo
động của nông dân trên khắp nước Nga.
Tuy có những hạn chế như vậy, nhưng việc bãi bỏ chế độ nông
nô vẫn là một bước ngoặt trong quá trình phát triển xã hội Nga. Nó
đã tạo cơ sở tốt cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh
16
lớn: một bên là phái tự do chủ nghĩa nổi bật vào những năm 18601870, một bên là phái dân chủ cách mạng. Hai phái này được xem là
những người đại diện cho hai xu hướng lịch sử quyết định trong cuộc
đấu tranh giải phóng của nông dân Nga.
Phái tự do chủ nghĩa muốn giải phóng nước Nga ra khỏi tình
trạng bế tắc, khủng hoảng nhưng họ không muốn hủy bỏ chế độ nông
nô mà chỉ nhượng bộ theo tinh thần của thời đại. Thực chất đây là
phái của những nhà tư tưởng thuộc giai cấp tư sản. Họ không chấp
nhận chế độ nông nô nhưng lại sợ cách mạng và phong trào của quần
chúng lật đổ chế độ quân chủ. Ðại biểu cho khuynh hướng này trong
văn học là Tuôcghênhep, Ôxtrôpxki, Gônsarôp.
Phái dân chủ cách mạng phần lớn thuộc trí thức bình dân. Họ
chủ trương tiêu diệt chế độ nông nô Nga hoàng bằng vũ lực, đưa xã
hội Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội thông qua công xã nông thôn. Mặc
dù họ chỉ dừng lại ở chủ nghĩa xã hội không tưởng nhưng họ cũng đã
góp phần thức tỉnh, giáo dục tư tưởng cách mạng cho nhân dân, đặc
biệt là tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ. Ðại biểu cho khuynh hướng
này
trong
văn
học
là:
Bêlinxki,
cách mạng đương thời. Nhóm này gồm những tên tuổi tiêu biểu như
Bêlinxki, Secnưsepxki, Ðôbrôliubôp, Pixarep, Nhêcraxôp.
Nhóm thứ hai bao gồm những người không trực tiếp hoạt động
cách mạng nhưng họ lại giương cao ngọn cờ lí tưởng tự do bằng cách
phát ngôn cổ vũ cho những tư tưởng tiên tiến qua các tác phẩm của
mình. Ðại diện cho nhóm này là: Xantưcôp, Xêđrin, Glep Uxpenxki,
Kôrôlenkô.
Nhóm thứ ba bao gồm những nhà văn như Lep Tônxtôi,
Ðôxtôiepxki, Tuôcghênhep, Ôxtrôpxki, Nhêcraxôp, Sêkhôp.. Những
nhà văn này không tìm được phương hướng giải quyết, không nhìn
thấy tương lai nước Nga nhưng với lòng nhân đạo cao cả họ đã miêu
tả chân thật nỗi khổ triền miên của nhân dân, đặt ra những câu hỏi
18
cấp bách cho thời đại, nói lên những khát vọng mơ ước cháy bỏng
của nhân dân lao động.
Càng về cuối thế kỷ, văn học nghệ thuật càng trở thành một
diễn đàn văn học mà những nhà văn phải là những người công dân
đấu tranh cho sự nghiệp thiêng liêng. Kể từ đây hàng loạt các nhà
văn đã bị Nga Hoàng bắt giam, lưu đày, sát hại. Secnưsepxki phải
chịu 20 năm khổ sai; Ðôxtôiepxki, Sêkhôp, Kôrôlenkô bị lưu đày
hàng chục năm ở Xibiri ; Ghecxen, Tuôcghênhep phải bỏ ra nước
ngoài; G. Uxpenxki bị điên loạn vì quá uất ức trước đau khổ của
nhân dân.
Tuy nhiên, nhìn chung các nhà văn trí thức tiến bộ trong thời
kỳ này còn quá xa rời nhân dân. Họ chỉ dừng lại ở niềm say mê nhiệt
thành mà chưa chịu thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần
chúng lao động.
tìm hiểu tính cách con người thời đại và các quan hệ xã hội phức tạp
đương thời.
Thành tựu quan trọng nhất khẳng định sự toàn thắng của chủ
nghĩa hiện thực Nga thời kỳ này là việc khẳng định được vị trí của
con người nhỏ bé trong xã hội, nhìn thấy được vẻ đẹp bên trong của
lớp người đó cùng với việc bóc trần mọi thứ xấu xa của xã hội, đồng
thời tố cáo mạnh mẽ thế lực của đồng tiền đã chà đạp lên luân
thường đạo đức. Lúc này, các nhà văn như Tônxtôi, Ðôxtôiepxki đã
tái hiện những thân phận hèn mọn bị sỉ nhục, bị lăng mạ của đông
đảo quần chúng lao động, đồng thời miêu tả họ với những vẻ đẹp,
với hình tượng của nhân dân kỳ diệu, quần chúng lao động. Song
song với việc miêu tả con người nhỏ bé bằng tấm lòng nhân đạo cao
cả, các nhà văn còn tố cáo gay gắt xã hội, tố cáo chủ nghĩa tư bản
Nga đang mưu sắp xếp lại xã hội, điều khiển xã hội bằng quyền lực
20
và sức mạnh của đồng tiền. Những vấn đề này, nhất là vấn đề thế lực
và sức mạnh đồng tiền được các nhà văn Ðôxtôiepxki, Ôxtrôpxki
hình tượng hóa vào các tác phẩm của mình một cách chân thật và
sinh động.
Văn học Nga nửa sau thế kỷ XIX nổi bật lên với vấn đề xây
dựng nhân vật tích cực. Ðây là một thành tựu quan trọng của chủ
nghĩa hiện thực Nga trong việc gắn liền văn học với phong trào cách
mạng. Nó thể hiện sự tiến bộ của văn học. Lúc này, các nhà văn dân
chủ cách mạng đã dũng cảm xây dựng những nhân vật tích cực sinh
động hoàn chỉnh mà lịch sử văn học nhân loại hàng ngàn năm về
trước chưa hề đạt tới. Ðó là hình ảnh : những con người mới từ hiện
thực cuộc sống đấu tranh đã bước vào văn học với tư thế hiên ngang