Khoá luận tốt nghiệp thế giới nhân vật trong truyện ngắn của jack london - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN

VŨ THỊ DUYÊN

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA JACK LONDON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoàỉ
Ngưòi hưóTig dẫn khoa học ThS. Đỗ Thị Thạch

HÀ NỘI – 2015

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc của mình tới cô giáo ThS Đỗ Thị Thạch,
người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cho tôi hoàn thành khoá luận này.


Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là
thầy cô giáo trong tổ Văn học nước ngoài và các bạn sinh viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá luậnLỜI
này.CẢM
Mặc dù đã có những cố gắng tìm tòi nhất định, song chắc chắn trong quá trình hoàn thành
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của các thầy cô và tất cả các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Tác giả khoá luận

Vũ Thị Duyên

Tôi cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khoá luận là kết quả nghiên cứu của bản
thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Đỗ Thị Thạch, kết quả nêu trong này là hoàn toàn trung thực

tự nhiên. Chỉ gần 20 năm (1 876-1916) nhưng ông đã để lại cho nhân loại một lượng
tác phẩm khá đồsộ: 12 tiểu thuyết, 17 tập truyện vừa và truyện ngắn (bao gồm 138
truyện) và một vở kịch (theo số liệu thống kê của tác giả Nguyễn Kim Anh). Trong
đó chú ý nhất là mảng truyện ngắn: Con trai của chó sói, Tình yêu cuộc song, Sự im

lặng màu trắng, Ngôi nhà của Mapuhi, Sóng lởn Canaca, Xốlômông quần đảo khủng
khiếp ... Và tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
Có thế thấy nhân vật chính là phương diện chủ yếu của nhà văn khái quát
những quy luật của cuộc sống, khái quát những kiểu tính cách và số phận con người
đồng thời qua đó bộc lộ những quan niệm, tư tưởng của mình muốn gửi gắm trong
tác phẩm đó. Vì thế, xem xét và nghiên cứu nhân vật chính là xem xét một trong
những yếu tố hàng đầu trong cấu trúc tác phẩm văn học.
Đọc truyện ngắn của J. London ta có thể nhận thấy rằng, ông luôn đề cập đến
thân phận của con người, đến những khó khăn nhằm thử thách con người. Ngoài ra,
trong truyện ngắn của J. London còn xuất hiện đầy đủ mọi lớp người:có người già,
trẻ em, đàn ông, phụ nữ, có đông đảo những người lao động thuộc tầng lớp dưới đáy
xã hội và có cả những người thuộc tầng lớp thượng lưu.
Với sức hấp dẫn đó thì tác phẩm của J. London đã thực sự là đề tài cuốn hút
giới nghiên cứu phê bình văn học, và những ai yêu mến văn chương tìm đến nó.Tìm
hiếu “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của J. London”, người viết có cơ hội
được tiếp cận với những sáng tạo độc đáo trong việc xây dựng nhân vật của J.
London và nghệ thuật trong truyện ngắn của ông. Là sinh viên khoa Văn của trường
Sư phạm, sau này đế có thể giảng dạy tốt thì người giáo viên cần có được vốn kiến


thức phong phú cho bài giảng của mình. Vì vậy mà việc tìm hiếu về thế giới nhân
vật trong truyện ngắn của J. London phần nào trang bị cho người giáo viên những
hiếu biết sâu rộng hơn về những sáng tác của các tác gia trên thế giới.
Từ những lí do trên, người viết đã chọn đề tài “Thế giới nhân vật trong truyện
ngắn của J. London” để góp phần hiểu hơn về truyện ngắn của J. London đồng thời


GS. TS Lê Huy Bắc là một trong những người có công lớn nhất trong việc giới
thiệu và nghiên cứu J. London ở Việt Nam. Ông là tác giả của các công trình Vần

học Mỹ, Đặc trưng truyện ngăn Anh Mỹ, và gân đây nhât là công trình Lịch sử văn
học Hoa Kỳ. Trong các công trình này, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái
nhìn khái quát về cuộc đời, con người, tư tưởng và văn nghiệp củaJ. London. Đặc
biệt, trong cuốn sách Vãn học Mỹ [3], tác giả đã dành hẳn một chương đế viết về J.
London. Trong cuốn sách này tác giả khẳng định: “Tác phẩm của J. London hấp dẫn
độc giả ngoài văn phong hoành tráng, bay bống, ngoài các cốt truyện lạ, li kì, cách
khai thác xung đột cũng góp phần quan trọng bậc nhất cho thành công đó.J. London
là bậc thầy xây dựng xung đột” [3, 321]. Cũng trong sách này, tác giả Lê Huy Bắc
đã phân tích một số biếu hiện cơ bản về nhân vật, thiên nhiên, và tính chất giáo
huấn trong tác phẩm của J. London đế chứng minh rằng: “Sáng tác của London rất
gần với ngụ ngôn ở nhiều phương diện” [3, 336].
Năm 2012,học viên Nguyễn Thị Thu Trang đã bảo vệ thành công luận văn thạc
sĩ Tính sử thi trong truyện ngắn Jack London [15]. Luận văn này đã tìm hiểu về tính
sử thi trong truyện ngắn của J. London trên các phương diện: cảm hứng ngợi ca
hùng tráng, hình tượng con người sử thi, và không gian sử thi.
Tác giả Nguyễn Kim Anh có bài báo Lòng khát khao sống và cuộc đấu tranh

sinh tôn trong tác phẩm “Tình yêu cuộc sông” của Jack London [1]. Bài báo cũng
chỉ mới bàn về một chủ đề nổi bật trong sáng tác của J. London, thế hiện trong một
truyện ngắn cụ thể.
3. Đối tưọng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận là Thế giới nhân vật trong truyện
ngắn của Jack London.
Phạm vi nghiên cứu: J. London được xem như là bậc thầy truyện ngắn, các
sáng tác của ông vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên trong khoá luận này,
chúng tôi chủ yếu nghiên cứu đề tài thông qua 21 truyện ngắn được rút ra từ 2 tập

Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Jack London
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT PHONG PHÚ ĐA DẠNG
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA JACK LONDON
1.1 Khái niệm
1.1.1

Khái niệm nhân vật

Nhân vật là khái niệm không chỉ dùng cho văn chương

mà còn

được dùng

nhiều trong các lĩnh vực khác. Có lẽ vì vậy mà lịch sử nghiên cứu văn học có rất
nhiều khái niệm về nhân vật

Theo Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nằng, 2002)
“nhân vật là khái niệm mang hai nghĩa: Thứ nhất, đó là “đối tượng” (thường là con
người) được miêu tả, thê hiện trong các tác phâm văn học nghệ thuật. Thứ hai, đỏ


“người có vị trí quan trọng trong xã hội” [13].


Trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi đề cập

đến khái niệm

‘nhân vật”

vào ý thức sáng tác của nhà văn, và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn học, trong
sáng tác nghệ thuật. Đó là hai mô hình nghệ thuật, có cấu trúc riêng, có quy luật
riêng, tìm hiếu ở đặc điếm con người, tâm lí, thời gian, không gian xuất hiện... gắn
liền với một quan niệm nhất định của chúng về tác phẩm. “Thế giới nhân vật” là
cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn vẹn và sâu sắc của một chủ thế sáng tạo về toàn


bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ, ý
nghĩ, tư tưởng tình cảm của họ trong cách đối nhân xử thế, trong giao lưu xã hội,
với gia đình... “Thế giới nhân vật” vì thế bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân
vật. Con người trong văn học chẳng những không gắn với con người thực tại về tâm
lí, hành động mà còn có ý nghĩa khái quát tượng trưng.
1.2 Bảng khảo sát
Trước khi đi vào tìm hiểu về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của J.
London. Người viết đã đi khảo sát các nhân vật xuất hiện trong mỗi truyện thông
qua số lượng nhân vật, nghề nghiệp, và kiểu nhân vật của ông.


STT

Tên truyện

7
Nghê nghiệp
SốSựlượng khôn

Người

ngoan
nhân


Thiên Loài
nhiên
X

vật
X
X

Cho vay lấy lãi
X đi săn
- Tay

5
- Bác sĩ
Một trạm nghỉ Popôtấc

- Nhân viên

3

19
- Cướp biên
Hội những
12
14
Xôlomông
Ke toán -Cảnh
người già
quần

những mặt trời

5
6

17 A! A! A
12
12/—! A 1 -ATộc
A trưởng
Con trai của Gôbôtô
chó sói
18 Đêm trên đảo
19
Sóng
lớn
Canaca
20

17
13

X

X

X

X

-Thuyền phó


-

Trọng tài

-

Thợ mộc

Agớt thời đại

-

Thợ đốn gỗ

xa xưa

-

Thuỷ thủ

11

X

X

X

X

Mêhicô
21

X

-

Một

X
X

X

số X

giả tạo
9

X

Người giúp việc

- Đào vàng

vàng

X

- Tù trưởng

hiểu

X

X

X

X
X

X

X

X

X

X

X


Qua bảng khảo sát trên, chúng ta có thế nhận thấy thế giới nhân vật trong
truyện của J. London vô cùng phong phú đa dạng có đầy đủ mọi lớp người đang
sinh sống trên lãnh thổ rộng lớn của đất nước. Thế giới nhân vật đông đảo trong
truyện ngắn đã góp phần tạo nên một hiện thực rộng lớn mang tầm bao quát có ý
nghĩa tạo sức hấp dẫn cho truyện ngắn.
1.3 Phân loại


nguyên thuỷ sống trong hang động quyết chiến để dành giật con mái của mình” [10,
223].
Trong truyện ngắn của J. London, nhân vật người hùng không đại diện cho
sức mạnh, trí tuệ và đạo đức của cộng đồng, mà thường là những cá nhân xuất hiện
trong tư thế đơn độc. Hành động của người hùng trước hết và chủ yếu là vì mục đích
thoát khỏi nghịch cảnh đời thường của cá nhân mình. Chẳng hạn, nhân vật người
đàn ông trong truyện Khe núi toàn vàng, lẻ loi giữa không gian rừng rậm bao la cũng
chỉ vì muốn có thật nhiều vàng. Bà lão Nauri trong truyện Ngôi nhà của Mapuhi cô
đơn vật lộn để thoát khỏi cái chết giữa môi trường bão tố. Một số ít nhân vật người
hùng của J. London có hành động vì lợi ích cộng đồng, nhưng hành động của họ
cũng chỉ mang tính chất bột phát, và cộng đồng cũng không trông chờ gì ở hành
động của họ. Chẳng hạn, nhân vật Rivêra trong truyện Người Mehico, ông lão Imbơ
trong truyện Hội những người già, anh chàng Kulau trong truyện “Kulau hủi...Nhân
vật người hùng trong truyện ngắn của J. London xuất hiện ở nhiều dạng khác nhau.
1.3.1.1 Người hùng trong cuộc chiến sinh tồn
J. London không miêu tả người hùng trong bối cảnh đầy thử thách cam go:
hoặc phải đối đầu với môi trường thiên nhiên hoang dã đầy mầm mong của sự chết,
hoặc trong bối cảnh bị xã hội áp bức bóc lột và đè nén một cách tàn nhẫn. Tồn tại
trong những bối cảnh đó, ranh giới giữa tự do và mất tự do, giữa sự sống và cái chết
đối với con người trở nên rất mỏng manh. Trong những bối cảnh đầy tính bi kịch
như vậy, các nhân vật sẽ phải hành động kiên quyết để bảo vệ quyền lợi cũng như
tính mạng của mình. J. London đã tập trung miêu tả rất tỉ mỉ về cuộc đấu tranh của
con người chống lại các thế lực thù địch, và qua cuộc đấu tranh quyết liệt ấy mà các
nhân vật bộc lộ rõphẩm chất của những người hùng: dũng cảm, gan dạ, mạnh mẽ,
kiên quyết và giàu ý chí nghị lực. Chẳng hạn như trong truyện ngắn Tình yêu cuộc

song, nhân vật người đàn ông đã phải vượt qua liên tiếp những cảnh ngộ, nhưng
người đàn ông này không bao giờ chấp nhận đầu hàng cảnh ngộ. Het lần này đến lần
khác, anh ta đuổi bắt chim muông trên cạn, cá dưới khe núi, hoặc phải gồng mình đế

nhưng anh chàng Becti Arơcrait vẫn bất chấp mọi sự đe dọa để đến Xôlômông nhằm
thỏa mãnkhát vọng được đến thăm một bộ lạc nguyên thủy bấy lâu đã quyến rũ trí
tưởng tượng của anh ta. Được sự giúp đỡ của thuyền trưởng Malu, Becti Arơcrait đã
phiêu lưu khắp quần đảo, được chứng kiến cuộc sống man rợ của thổ dân, chứng
kiến biết bao cuộc tàn sát đẫm máu giữa đám thố dân với những người da trắng. Sau
khi rời khỏi Xôlômông, Becti Arơcrait đã thỏa mãn khát vọng phiêu lưu của mình,
đồng thời cũng khiếp sợ cuộc sống đầy bão táp và nguy hiếm trên quần đảo này. Và
trên chuyến tàu trở về đất liền Becti Arơcrait gặp lại những người khách du lịch và
tất cả họ đều nhìn anh ta như một vị anh hùng.
1.3.1.3

Người hùng mang sứ mệnh truyên tải triêt lí và giải mã ỷ nghĩa cuộc đời
Trong truyện ngắn của J. London, dạng nhân vật này xuất hiện khá nhiều,


Người hùng mang sứ mệnh giải mã ý nghĩa cuộc đời cũng được J. London đặt vào
những hoàn cảnh, những tình huống hết sức gay cấn. Đó là một anh chàng giảng
viên đại học bị vợ phụ tình (Giôn Mexnơr trong Một trạm nghĩ), một cô gái bị ép
làm vợ đế gạt nợ cho cha (Enxu trong Sự ranh ma của lão Popôtẩc). Và trong truyện
của J. London những nhân vật bị đặt vào mối tình tay ba (Li Bactơn và Iđa Bactơn
trong Sóng lớn Canaca). Dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn giữ trọn phẩm chất tốt đẹp
của mình. Ngoài những phẩm chất cơ bản của một người hùng như dũng cảm, gan
dạ, giàu ý chí nghị lực và bản lĩnh thì dạng nhân vật này còn có những phẩm chất
cao đẹp khác. Đó là lòng vị tha, nhân ái, tình yêu chân chính, và sự hy sinh cao
thượng... Điếm độc đáo của J. London là ở chỗ ông thường đặt dạng nhân vật này
vào những cảnh ngộ, những tình huống mang tính đời tư, đời thường. Ông để cho
nhân vật tự đấu tranh tâm lí, tự nhận thức và đưa ra những cách giải quyết tình
huống đầy tính, nhân vật Giôn Mexnơr trong Một trạm nghỉ đổ hết số vàng xuống
hố sâu trước lúc từ giã người vợ bội bạc và gã tình nhân “Anh đi xuống sông, dừng
cỗ xe lại gần hố băng và lôi từ trong đống đồ đạc chất trên xe xuống bao đựng cát

Theo thống kê thì trong số 21 truyện ngắn khoá luận này khảo sát thì có tới 15

truyện đề cập đến người phụ nữ. số lượng nhân vật nữ xuất hiện nhiều như thế
phần nào đã thế hiện được tư tưởng dân chủ, bình đẳng trong J. London. Phần lớn
các nhân vật phụ nữ trong truyện của J. London đều thuộc về lớp người lao động
dưới đáy xã hội. Điểm độc đáo không phải ở số lượng, mà là ở quan niệm củaJ.
London về loại nhân vật này. Thông thường,nói đến người phụ nữ là nói đến dáng vẻ
liễu yếu đào tơ, tính cách dịu dàng, yếu đuối, chịu đựng, vất vả... Nhưng J. London
lại nhìn người phụ nữ ở một góc độ khác. Dưới con mắt của ông, phụ nữ là những
nhân vật có phẩm chất gan dạ, dũng cảm, mạnh mẽ chẳng khác gì những đấng nam
nhi. Họ không bao giờ bằng lòng chịu đựng cuộc sống mất tự do. Trước những khó
khăn thử thách trong cuộc sống họ không hề mềm yếu mà ngược lại, họ hết sức
mạnh mẽ trước mọi tình huống. Đồng thời, J. London vẫn không quên ngợi ca vẻ
đẹp nữ tính vốn là đặc tính của loại nhân vật này. Chang hạn, nhân vật Ruth trong
truyện ngắn Sự im lặng màu trắng là một phụ nữ da đỏ điển hình cho kiểu nhân vật
người phụ nữ của J. London. Bình thường, Ruth cũng như bao người phụ nữ khác,
cũng có những mơ ước về cuộc sống gia đình hạnh phúc, cũng rạo rực trái tim trước
những lời nói yêu thương của chồng. Nhưng trước cảnh ngộ Mâysơn (chồng nàng)
bị cây thông đè nặng lên người và đang đứng trên bờ vực của cái chết thì khó ai có
thể tưởng tượng được rằng: “Cô gái da đỏ này chẳng hề ngất đi, hay tuôn những
dòng nước mắt không cần thiết như những người phụ nữa da trắng khác trong trường
hợp này có thể làm,và bình tĩnh lắng nghe tiếng rên của chồng” [9, 14]. Nhân vật đã
không có thái độ sợ hãi hay có vẻ yếu đuối trước tình huống đó mà ngược lại cô gái
lại có thái độ rất bình tĩnh “cô nhanh nhẹn vừa đu cả người lên chiếc gậy đế nâng
thân cây lên” [9, 14].


Hay trong câu truyệnTVgổ/ nhà của Mapuhi tác giả đã xây dựng lên hình ảnh
của một nhân vật đó là bà Nauri biết vượt qua những khó khăn gian khổ, những sóng
gió trong cuộc phiêu dạt vì trận bão đế trở về lại với cuộc sống đời thường.

đã đế anh ấy ôm mà không đẩy anh ấy ra. Đấy là lần đầu tiên và cũng là lần cuối
cùng [10, 196-197].
Dưới ngòi bút của ông, người phụ nữ còn được J. london tái hiện qua những
hình ảnh đẹp về ngoại hình, Enxu với “không phải kiểu xinh đẹp của những người
phụ nữ da trắng và cũng không phải kiểu xinh đẹp của người phụ nữ da đỏ. về
đường nét và diện mạo, Enxu là kiểu người da đỏ chính thống, đôi mắt đen nháy
long lanh và táo bạo, kiêu hãnh và sắc gọt như lưỡi giáo, chiếc mũi thanh tú khoằm
như mỏ đại bàng, đôi gò má cao không cách xa nhau, đôi môi mỏng nhưng không
quá mỏng[9, 261]. Hay người phụ nữ trong truyện Alốha Ôe“cò Đôrôti Xembruc
mới chỉ cách đây một tháng cô còn là một cô bé gầy gò, thế mà bây giờ mắt cô đã
ánh lên rực rỡ, đôi má đỏ ừng vì mặt trời người cô bắt đầu hình thành những đường
nét uyển chuyển, cong cong” [9, 84].
Ngoài ra, trong cái xã hội tư bản ấy, nhân vật người phụ nữ xuất hiện thường

là những nhân vật dưới đáy xã hội, họ không được lựa chọn quyền sống, xã
hội ấy coi con người như một món đồ trao đổi mua bán, họ bị đem ra để bán đấu giá
như nhân vật Enxu trong Sự ranh ma của lão Popotẩc, Enxu được đưa ra bán đấu giá
“Một người giọng tự tin trả giá một trăm đô la, một người da đỏ ở Têdikakat trả một
trăm năm mươi đô la và sau một ít lâu thì một tay chơi bạc đã bị trục xuất khỏi vùng
đất trả giá lên đến hai trăm đô la” [9, 276]. Có thể thấy được thân phận của người
phụ nữ lúc bấy giờ như thế nào. J. London không phải là không có dụ ý khi mà hầu
hết các tác phẩm của ông đều xuất hiện hình ảnh người phụ nữ, tác giả phải chăng
muốn trong xã hội ấy không có sự phân biệt giới.
Người phụ nữ là kiểu nhân vật xuất hiện khá phổ biến trong truyện ngắn
củaJ. London. Ông xây dựng họ với hai nét tính cách nổi bật: vừa mạnh mẽ. gan dạ,
vừa dịu dàng nữ tính, vẻ đẹp nữ tính thì phụ nữ khắp thế gian này đều có, J. London
không làm mờ khuất nét đẹp này; đồng thời ông luôn cố tình làm nổi bật nét tính
cách mạnh mẽ, cứng rắn, gan dạ, dũng cảm của người phụ nữ. Đó là phẩm chất cần
thiết đối với tất cả mọi người trong cuộc chiến sinh tồn.
1.3.3

dòng suối cũng là thứ âm thanh bay lượn. Sự bay lượn của các âm thanh và màu sắc
đó quyện vào với nhau, tạo thành cái gì đó bồng bềnh không sờ thấy được. Đó là
tinh thần của khe núi này. Tinh thần thanh bình. Thanh bình không phải là sự chết
chóc, mà là nhịp đập đều đều của nhịp sống, tinh thần yên tĩnh nhưng không phải là
sự câm lặng [9, 156].
Trong truyện Một điều khó hiếu, thiên nhiên được miêu tả “Xung quanh chỗ
nào cũng thấy hoa, cách xa bờ sông một chút là những bãi cỏ rậm rạp, tươi mơn
mởn, cao bằng đầu người ... Đêm hôm đó, vén một góc lều và ngó nhìn lên các vì
sao đang lấp lánh sau những đường nét đen xám của các ngọn núi” [9, 144]. Ngoài
ra với những làn gió nhẹ trong Sự khôn ngoan của con đường đã tạo nên một khung


cảnh đẹp “Một luồng gió nhẹ thổi từ phương Nam tới làm tê buốt phần hở trên cơ
thể họ và lùa sự giá lạnh, lớp tuyết quanh đó tan thành một vòng tròn ấm”[9, 246],
màn tuyết cũng trở nên nhẹ nhàng trong suốt “Một màn tuyết trong như thuỷ tinh rơi
quanh nhẹ nhàng thành những lớp áo trắng, những lớp mây mù và làm cho bầu
không khí trong sáng”[9, 254].
Thiên nhiên của ông đẹp, thơ mộng là thế với gió, tuyết, trăng , sao... Tất cả
đã tạo nên một bức tranh phong phú đa sắc màu cho truyện ngắn của ông, nhưng

bên cạnh đó thiên nhiên của ông cũng rất hung bạo và khắc nghiệt, nó đe doạ
con người, ảnh hưởng trực tiếp đến con người, đó là thiên nhiên phương Bắc hoang
sơ, thiên nhiên biển phương Nam dữ dội.


Thiên nhiên Miền Bắc
Thiên nhiên Miền Bắc xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm của ông do đây
là vùng đất hết sức quen thuộc với bản thân nhà văn. Vào những năm 1897 - 1898,
J. London đã từng cùng với hàng vạn người hành trình về vùng đất phương Bắc theo
tiếng gọi của cơn sốt vàng. Ông đã trải qua nhiều gian khố ở vùng đất này. Bởi vậy

xuống Nam, xa hút tầm mắt, tuyết trải trắng một màu mênh mang” [9, 268].J.
London không chỉ miêu tả hình ảnh tuyết trắng bằng màu sắc, hình khối, âm thanh
mà còn bằng cả sự cảm nhận. Đặc tính nổi bật của tuyết trong truyện ngắn J. London
là sự tĩnh lặng. Trong truyện ngắn Sự im lặng màu trắng ông viết: “Thiên nhiên có
nhiều cái để nhắc nhở con người về cái chết (...)> nhưng mạnh mẽ hơn và khủng
khiếp hơn tất cả là sự im lặng Màu Trắng trong cái lạnh lùng, hiu quạnh của nó” [9,
12]. Tuyết trắng băng giá và tĩnh lặng gần như tuyệt đối của vùng đất phương Bắc
được J. London miêu tả như một kẻ thù luôn kìm hãm sự sống của con người, đến
nỗi “người nào vượt qua được hai mươi ngày đêm trên những con đường cực Bắc thì
người ấy đáng được cho cả thánh thần ghen tỵ” [9, 13]. Không chỉ kìm hãm sự vận
động “cái lạnh và sự im lặng còn làm đông giá trái tim” con người, biến con người
trở thành “cái phần nhỏ duy nhất của sự sống còn sót lại đang chuyển động giữa một
sa mạc chết trắng buốt.Con người hoảng sợ trước sự liều lĩnh của mình và nhận thức
một cách sâu sắc rằng mình chỉ là một côn con trùng nhỏ không hơn không kém” [9,
12]. Chưa hết, trong rất nhiều truyện ngắn của J. London, con người dù mạnh mẽ
đến đâu nhưng khi đối diện với băng tuyết thì “chỉ cần lệch một tí là có thể gây ra
tai hoạ” [9, 14].
J. London lựa chọn những hình tượng tiêu biểu nhất để thể hiện rõ tính chất
hung bạo của thiên nhiên. Cách khám phá độc đáo ấy đã biến thiên nhiên trở thành
một phương tiện truyền tải tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Nói cách
khác, thiên nhiên trong truyện ngắn của J. London là một kiểu nhân vật đặc biệt
mang ỷ nghĩa biểu trưng cho hiện thực đời sống con người và xã hội. Sóng trong


truyện của J. London, và hiện thực xã hội Mỹ ở thời đại ông đều có chung đặc tính
tàn khốc, hung bạo, dữ dội. Điều đó gợi cho chúng tôi liên tưởng về ý nghĩa biếu
tượng mà J. London gửi gắm qua kiếu nhân vật thiên nhiên của mình.
Trước hết, với đặc tính hoang dã, hung bạo, giữ dằn, tuyết và sóng là biếu
tượng về hiện thực xã hội tư bản nước Mỹ thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Trong xã hội ấy, con người vì lòng tham, sự ích kỉ mà lạnh lùng vô cảm, sẵn sàng bỏ

biển phương Nam trước hết thể hiện ở hình ảnh sóng lớn dữ dội.Neu như khi viết về
miền Bắc J. London tập trung miêu tả hình tượng tuyết trắng, thì khi viết về miền
Nam ông đã chọn hình tượng “sóng lớn dữ dội” để làm nổi bật tính chất hung bạo
của biến. Ông am hiểu về biến một cách tường tận, đến mức có thể phân biệt được
đặc điếm của từng loại sóng. Trong truyện ngắn Sóng lớn CanaCa ông viết:“ớ
Vaikiki có hai loại sóng: sóng lớn, sóng bạc đầu Canaca tức là sóng ông, lồng lộn tít
tận ngoài khơi và sóng nhỏ gọi là sóng Vakhina, nghĩa là sóng bà, vỗ nhẹ vào bờ”
[10, 166].“Những đợt sóng lao quá mạnh vào bờ. Nước do những đợt sóng Canaca
dữ tợn liên tiếp xô vào phía bờ. Trong khi hạ xuống, chúng lại chảy ngược ra khỏi
cùng với dòng chảy nói trên, lẫn xuống bên dưới những đợt sóng dữ tợn khác đang
xô tiếp đến” [10, 168].
Sự hoang dã và hung bạo của thiên nhiên miền Nam còn được hiện lên bởi
những trận bão tố. Trong truyện ngắn Ngói nhà của Mapuhi, sóng và gió được nhà
văn thể hiện như những kẻ thù cùng nhau gia tăng sức mạnh tàn phá môi trường
bình yên của con người: “Gió ào ào tới một cây pandan trên đầu và vèo qua những
cây dừa mé bên kia (...) rồi đến cơn mưa từ đằng xa tiến tới, làm cho nước hồ bốc
lên cuồn cuộn” [9, 55]. Sau một trận cuồng phong cảnh tượng này càng trở nên ghê
sợ hơn:
“Trong số một nghìn hai trăm người sống đêm hôm trước, nay chỉ còn lại ba
trăm. Trong hồ ngổn ngang xác chết. Không một ngôi nhà, một túp lều nào đứng
vững. Trên khắp đảo san hô, không còn lấy hai viên đá nào chồng lên nhau. Một
phần năm mươi số cây dừa còn đứng vững thì cũng đã tả tơi, không cây nào còn lấy
một quả trên cành”[9, 71].
Thiên nhiên miên biên phương Nam còn được nhà văn mô tả qua hình ảnh
những quần đảo hoang sơ, đầy ắp sự chết. Trong truyện ngắn Xôlômồng quần đảo

khủng khiếp J. London viết: “người nào vốn không quen với cuộc sống ở những nơi
cách xa nền văn minh, và mới đặt chân lên hòn đảo, thì có thể tưởng Xôlômông là
một địa ngục thực sự” [10, 7].
Có thể khẳng định rằng, miền biến phương Nam hoang sơ, đầy mầm mong

đề đề cập đến nhân vật con chó, con chó dường như luôn luôn xuất hiện cùng với
con người, trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, loài chó cũng góp phần làm
cho truyện trở nên hấp dẫn hơn. Con chó cũng là loài vật hết sức quen thuộc với văn
thơ truyền thống đặc biệt là ở thế loại ngụ ngôn.
Nhà văn đã sử dụng thủ pháp nhân hóa để biến loài vật này thành những con
vật đội lốt người. Đó là những con chó biết nói tiếng người, biết suy nghĩ và hành
động giống như con người, qua đó phản ánh hiện thực cũng như đề xuất nhiều bài
học giáo huấn cho con người. Dưới ngòi bút của J. London, nhà văn đặc biệt nhấn
mạnh tính chất tự nhiên hoang dã của loài sinh vật này. Ví dụtrong truyện Sự ỉm

lặng màu trắng, “Bầy chó bắt đầu cắn xé lẫn nhau (...)• Những ngọn roi quất mạnh
xuống đầu chúng cũng chẳng ăn thua gì. (...) bất chấp quy luật của chủ, nhảy vào


định ăn phần thức ăn dự trữ (...) và, một tấn bi kịch truyền thống của quy luật sinh
tồn đã diễn ra với tất cả sự dã man của nó” [9, 20].
Con người và con vật quyết chiến để giành phần thắng. Đằng sau tính chất
hoang dã của loài chó, J. London muốn nói đến cái hung dữ tàn bạo của một bộ phận
người trong xã hội tư bản: mạnh được yếu thua, con người vô tình vô nghĩa, cắn xé
lẫn nhau đế tồn tại và giành lợi ích về mình. J. London mượn loài chó để phê phán
và giáo huấn loài người.
Đặc biệt hơn, J. London thường so sánh loài chó sói với con người ở một số điếm
tínhcách. Chẳng hạn trong truyện Hội những người già có đoạn; “Những con chó
của chúng tôi là thuộc loài chó sói, chúng có bộ lông dày và rất ấm, không hề biết
sợ giá buốt và bão tuyết. Và chúng tôi cũng giống chúng - cũng không sợ giá buốt,
bão tuyết, (...)• Những con chó của chúng tôi rất can đảm, chúng tôi cũng rất can
đảm” [9,63].
Trong truyện Tình yêu cuộc sổng nhà văn đã so sánh sự kiên trì của người và
sói: “Sự kiên trì của con sói thật ghê gớm. Sự kiên trì của con người cũng ghê gớm
không kém” [9, 101].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status