Phát triển thị trường khoa học công nghệ Việt Nam nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội - Pdf 32

Tạo lập v phát triển thị trờng khoa học
v công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
x hội v đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Mục lục
I. thực trạng còn sơ khai của thị trờng khoa học v công nghệ
(KH&CN) ở việt nam

1. Nhận thức hiện nay về thị trờng KH&CN ở Việt Nam
2. Những việc đã lm đợc v những việc có thể lm m cha lm đợc về
tạo lập thị trờng KH&CN ở Việt Nam
3.Thuận lợi v khó khăn trong việc tạo lập v phát triển thị trờng KH&CN

II. Tạo lập v phát triển thị trờng KH&CN ở Việt Nam

1. Nhận dạng khái quát thị trờng KH&CN ở Việt Nam
2. Thúc đẩy cầu v cung trên thị trờng KH&CN
3. Phát huy tác dụng của việc gia nhập WTO đối với sự tạo lập v phát triển
thị trờng KH&CN của Việt Nam
4. Các chính sách của Nh nớc khởi xớng, khuyến khích, trợ giúp sự tạo
lập v phát triển thị trờng KH&CN
5. Gợi ý về bớc đi v khâu đột phá trớc mắt để tạo lập v phát triển thị
trờng KH&CN ở Việt Nam

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

3


I. thực trạng còn sơ khai của thị trờng khoa học v
công nghệ (KH&CN) ở việt nam


tự nhiên, xã hội và t duy 1 thì khó có thể hình dung ra một thị trờng cho khoa
1

Luật Khoa học và Công nghệ (2000), Điều 2.

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

4


học. Với bản chất tri thức, khoa học có một thuộc tính của hàng hoá công cộng,
nhng lý do cơ bản khiến thị trờng khoa học không tồn tại là việc không có cơ
chế xác định quyền sở hữu đối với khoa học. Hơn nữa, mục tiêu tối thợng của
khoa học là phát triển kho tri thức của loi ng i về thế giới xung quanh, rồi tìm
cách truyền đạt các tri thức đó cho mọi ngời, nghĩa là mục tiêu văn hoá và giáo
dục. Vì vậy, nhiều ngời cho rằng, nói đến khoa học trớc hết là nói đến văn hoá,
chứ không phải hàng hoá, việc chạy theo mục tiêu hàng hoá trong khi coi nhẹ mục
tiêu văn hoá tức là thủ tiêu nguồn động lực quan trọng c a khoa h c. Lấy thị
trờng làm thớc đo ảo tức là đã bỏ qua thớc đo thật của các công trình nghiên
cứu khoa học, đó là tính khám phá, tính chính xác khoa học.
Từ những lập luận trên đây, một số nhà khoa học cho rằng cần phải làm rõ
nội hàm của thuật ngữ thị trờng KH&CN để từ đó đa ra một định nghĩa chuẩn
xác về thị trờng KH&CN, nếu không chỉ nên dùng khái niệm thị trờng công
nghệ. Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu, chẳng hạn nh của Viện
Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ơng và Viện Chiến lợc và Chính sách
KH&CN, các nhà nghiên cứu cho rằng nên hiểu thuật ngữ khoa học và công
nghệ nh một từ gộp, dùng để chỉ hoạt động KH&CN (bao gồm các hoạt động:
nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và
công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, và các hoạt
động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ2). Bởi lẽ, trên thực tế, hoạt

t c l núi n khoa h c và cụng ngh , cú c ph n khoa h c ó c c th hoỏ
thnh cụng ngh . Về bản chất, hai cách gọi này đều bao hàm một loại hình sản
phẩm và hoạt động, nhng nếu sử dụng cách gọi là thị trờng KH&CN thì rất có
thể dẫn đến những suy diễn không phù hợp.
Mặc dù vẫn còn những tranh cãi và những điều cha thống nhất nêu trên,
song thuật ngữ thị trờng KH&CN ngày càng đợc chấp nhận phổ biến, với hàm
ý là một thị trờng cho k t qu cuối cùng của chuỗi hoạt động nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ, chấp nhận cụm từ khoa học và công nghệ là một
cách gọi tắt. Về thực chất, đây chính là thị trờng cho k t qu c a toàn bộ chuỗi
hoạt động đổi mới. Trong chuyên đề này, khái niệm thị trờng KH&CN đợc
nói đến với hàm ý nh trên. Một điều hoàn toàn không gây tranh cãi, hàng hoá
KH&CN là một loại hàng hoá đặc biệt, cho nên các nguyên tắc thị trờng truyền
thống không thể đợc áp dụng mỏy múc đối với thị trờng KH&CN, và Nhà nớc
có vai trò quan trọng. Vì lẽ đó, việc tạo lập và phát triển thị trờng KH&CN ở
nớc ta đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu, xem xét, cả về lý luận và thực tiễn.
I.2. Những việc đã làm đợc và những việc có thể làm mà cha làm đợc về
tạo lập thị trờng KH&CN ở Việt Nam
Với cách hiểu về thị trờng KH&CN nh trên, đánh giá một cách khái quát,
thị trờng KH&CN l m t b ph n c a n n kinh t th tr ng Vi t Nam, nh n nh
h ng c a nh ng thnh qu v ch u tỏc ng c a nh ng y u kộm c a n n kinh t
th tr ng Vi t Nam. V ph n mỡnh, th tr ng KH & CN tuy cú t m quan tr ng
r t l n song hi n nay ch mới manh nha. Điều này đợc thể hiện rõ ở thực trạng
của các yếu tố cấu thành thị trờng nh: cung và cầu hàng hoá; quyền sở hữu đối
với hàng hoá; giá cả hàng hoá; thể chế, luật lệ điều tiết thị trờng; các dịch vụ hỗ
trợ thị trờng .... Phân tích sâu hơn những yếu tố này sẽ cho thấy những việc Việt
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

6



năm). Điều này có đóng góp quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nền kinh tế nớc ta.
- Thứ ba, các chủ thể tham gia cung, cầu hàng hoá trên thị trờng KH&CN
nhiều và đa dạng hơn, bao gồm cả các tổ chức và các cá nhân, nhờ vậy việc phát
huy vai trò sáng tạo và đổi mới của các doanh nghiệp và các cá nhõn trong m t
ch ng m c no đã đợc chú trọng hơn.
Về phía cầu, các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, r i n ng
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

i nụng
7


dõn, bên cạnh đó là Chính phủ. áp lực cạnh tranh trên thị trờng đã khiến cho nhu
cầu đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới của các doanh nghiệp ngày càng
trở nên cấp bách. Theo báo cáo của các doanh nghiệp cú v n u t n c ngoi,
về nguồn huy động các yếu tố đợc coi là quan trọng đối với vận hành thành công
tại Việt Nam, thì có tới 72% tri thức, 78% máy móc thiết bị và 78% nhãn hiệu là
dựa vào công ty mẹ. Chuyển giao KH&CN ở các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài còn đợc thực hiện thông qua đào tạo đội ngũ lao động. Đối với các doanh
nghiệp trong nớc, nhu cầu hàng hoá KH&CN tập trung chủ yếu vào công nghệ
hoàn chỉnh, công nghệ quy trình, trong đó máy móc thiết bị chiếm vị trí trung tâm;
còn công nghệ cha hoàn chỉnh, ở quy mô la-bô, hay ở mức sáng chế rất ít đợc
quan tâm.
Ngoài các doanh nghiệp, phải kể đến một chủ thể bên cầu quan trọng nữa là
ngời nông dân, bộ phận chiếm phần lớn dân số cả nớc. Với sự phát triển của
nông nghiệp và kinh tế nông thôn nói chung, đặc biệt là sự phát triển của thị
trờng nông sản, nhu cầu công nghệ của các hộ nông dân đã gia tăng. ở những nơi
quy mô sản xuất còn manh mún, chính quyền địa phơng đóng vai trò là ngời đại
diện cho lợi ích của nông dân, đứng ra tổ chức và mời cán bộ kỹ thuật của các cơ

thành một nguồn cung cấp hàng hoá KH&CN trên thị trờng, giải pháp cho những
vấn đề rất đặc thù, phát sinh trong thực tiễn hết sức đa dạng.
Ngoài các tổ chức KH&CN và các nhà sáng chế độc lập, các doanh nghiệp
cũng tham gia thị trờng với t cách là bên cung hàng hoá. Mặc dù các doanh
nghiệp đóng vai trò là ngời sử dụng và mua sản phẩm KH&CN nhiều hơn là
ngời tạo ra và bán sản phẩm KH&CN, nhng số doanh nghiệp tổ chức thực hiện
R&D, tạo ra và bán sản phẩm KH&CN cú tăng lờn. Những đổi mới về cơ chế,
chính sách trong những năm gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh
nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và bán các sản
phẩm KH&CN trên thị trờng.
- Thứ t, ó xu t hi n cỏc t ch c trung gian cung cấp các dịch vụ nh thông
tin KH&CN, môi giới mua bán, t vấn pháp lý, giám định, tài chính, trọng tài,
quảng cáo, hội chợ triển lãm Nhìn chung, các tổ chức này còn ở trình độ phát
triển sơ khai, tuy nhiên đây là những yếu tố không thể thiếu trong cấu trúc của một
thị trờng KH&CN. Các tổ chức này hỗ trợ quá trình tơng tác giữa ba loại chủ thể
trong tam giác liên kết sáng tạo, bao gồm: (1) tổ chức sản xuất - kinh doanh và
thiết kế kỹ thuật, là ngời sử dụng công nghệ cuối cùng tạo ra hàng hoá, dịch vụ;
(2) tổ chức R&D có chức năng tạo ra công nghệ (nội sinh); và (3) tổ chức đào tạo
và nghiên cứu có chức năng hình thành phơng pháp luận, kỹ năng, kiến thức cơ
bản.
- Thứ năm, Nhà nớc đã ban hành m t s văn bản quy phạm pháp luật, tạo
điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, khuyến

3

Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Công nghệ và phát triển thị trờng công nghệ ở Việt Nam,
NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr. 82.

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u


Việt Nớc
Việt Nớc Tổng Việt Nớc Tổng
Tổng
Nam ngoài
Nam ngoài
Nam ngoài
1990 11
3
14
23
23
91
9
100
1991 14
13
27
44
1
45
219
5
224
1992 19
16
35
23
1
24
433

85
711
Văn bằng bảo hộ
sáng chế (pa-tăng)

Văn bằng bảo hộ
giải pháp hữu ích

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

Văn bằng bảo hộ
nhãn hiệu hàng hoá
Việt
Nam
423
1525
1487
1395
1744
1627

Nớc
ngoài
265
388
1821
2137
2342
2965


620
776
2342

62
111
348
225
630
783
2436

5
8
3
6
10
17
174

6
12
14
12
13
9
94

11
20

6541 16466 21494 37960

Nguồn: Cục Sở hữu Công nghiệp (2002).

ở cấp độ quốc tế, Việt Nam đã tham gia Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
(WIPO), góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức này là thúc đẩy
việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới, hài ho hoá những quy
định luật lệ của các quốc gia thành viên liên quan đến sở hữu trí tuệ, giám sát các
hoạt động này của các quốc gia thành viên, hợp tác với các thể chế quốc tế khác về
những vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, trao đổi thông tin về sở hữu trí tuệ trên
thế giới Việt Nam cũng đã tham gia ký kết một số hiệp ớc quốc tế quan trọng
liên quan đến sở hữu trí tuệ, chẳng hạn nh Công ớc Paris về Bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ, Công ớc Berne về Bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, Thoả ớc
Madrid liên quan đến Đăng ký nhãn hiệu hàng hoá quốc tế, Hiệp ớc hợp tác
Patent, Hiệp định khung ASEAN về sở hữu trí tuệ. Khi gia nhập Tổ chức Thơng
mại Thế giới (WTO), Việt Nam sẽ phải tham gia Hiệp định về Quyền sở hữu trí
tuệ liên quan đến thơng mại (TRIPS), trong đó có nêu những quy định về việc
bảo hộ quyền sở hữu đối với các sản phẩm trí tuệ khi đợc trao đổi trên thị trờng
quốc tế. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, ở cấp độ song phơng cũng nh đa
phơng, vấn đề sở hữu trí tuệ luôn luôn có ý nghĩa quan trọng, vì vậy việc tham gia
vào các tổ chức, hiệp định và tuân thủ các quy định quốc tế liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ có tác động quan trọng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam.
Bên cạnh thể chế về sở hữu, thể chế về chuyển giao công nghệ cũng sớm
đợc Nhà nớc Việt Nam quan tâm, gắn liền với sự ra đời của Luật Đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam (1987) và Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ (1988) (Pháp lệnh
này và các văn bản pháp luật liên quan đã đợc thay thế bằng các quy định mới về
chuyển giao công nghệ trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và nhiều văn bản pháp luật
khác). Giống nh ở nhiều quốc gia khác, các thể chế về chuyển giao công nghệ ở
Việt Nam nhằm vào thực hiện ba mục tiêu chính: (1) khuyến khích các tổ chức,

lớn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng nh của sản
phẩm và dịch vụ. M t s doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại, hộ gia đình nuôi
trồng thuỷ sản, mặc dù ít có khả năng tự đổi mới công nghệ, song với sự trợ
giúp của Nhà nớc đã bớc đầu tiếp cận đợc với công nghệ mới, chẳng hạn nh
công nghệ sinh học, công nghệ nuôi trồng và công nghệ bảo quản mới.
Qua những phân tích trên đây, có thể đa ra nhận định khái quát rằng thị
trờng KH&CN ở Việt Nam ch m i manh nha. Nh ng kết quả đạt đợc cho đến
nay sẽ là tiền đề để Việt Nam tạo lập và phát triển một thị trờng KH&CN sôi
động trong tơng lai.

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

12


I.2.2. Những việc có thể làm nhng cha làm đợc
Tính chất manh nha của thị trờng KH&CN Việt Nam thể hiện ở sự yếu
kém của các yếu tố cấu thành thị trờng cũng nh sự kém hoàn thiện của hệ thống
thể chế hỗ trợ thị trờng. Qua gần 20 năm đổi mới, ở nhiều mặt và nhiều khía
cạnh, sự tiến bộ đạt đợc là rất hạn chế và các bớc cải thiện diễn ra rất chậm
chạp. Chính vì có những yếu kém nh vậy, nên đa số ý kiến cho rằng ở Việt Nam
thị trờng KH&CN hoạt động còn yếu, thậm chí có ý kiến cho rằng Việt Nam
thực sự cha có thị trờng KH&CN (Bảng 2).
Bảng 2: Kết quả điều tra về sự hiện diện của thị trờng KH&CN Việt Nam
Những lý do cho rằng Việt Nam đã có thị trờng KH&CN

Đã có các hình thức tổ chức mua bán sản phẩm KH&CN
Đã có những công ty t vấn và môi giới mua bán công nghệ
Đã có các văn bản quy định về trao đổi, mua bán công nghệ
Đã có mua bán patent, li-xăng tuy có thể dới hình thức các hợp


32,22
28,89
43,33
31,11
26,67
ý kiến đồng ý
(% đợc hỏi)

86,05
13,95
0,00

Nguồn: Viện Chiến lợc và Chính sách KH&CN (2003).

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

13


Có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, dẫn đến thực trạng yếu
kém của thị trờng KH&CN, nhng nguyên nhân cơ bản đợc xác định là do sự
chậm thay đổi về thể chế. Đây là nguyên nhân mang tính chất chủ quan hơn là
khách quan. Có nhiều việc chúng ta có thể làm nhng cha làm đợc.
- Thứ nhất, cơ chế bao cấp trong nghiên cứu khoa học còn nặng nề. Tỷ trọng
chi ngân sách nhà nớc cho KH&CN đã đợc tăng lên mức 2% tổng chi ngân sách
nhà nớc từ năm 2000 (so với mức hơn 1% trớc đó), nhng việc đầu t còn dàn
trải, thiếu tập trung và hiệu quả sử dụng nguồn vốn không cao. Theo đánh giá
chung của xã hội, đóng góp của KH&CN cha tơng xứng với nền kinh tế, có tới
hơn một nửa số công trình nghiên cứu khoa học đợc đánh giá xuất sắc bị chết

Nh đã phân tích ở trên, chính sách đầu t của Nhà nớc cho KH&CN cha đảm
bảo tính hiệu quả, đầu t còn bình quân, dàn trải, thiếu một chiến lợc rõ ràng,
đồng thời cha khuyến khích phỏt tri n th tr ng KH&CN. Các chính sách u đãi
về thuế, tài chính, tín dụng đối với doanh nghiệp cha phát huy tác dụng rõ rệt, do
quá trình thực thi gặp nhiều vớng mắc và có sự phân biệt đối xử giữa các doanh
nghiệp nhà nớc lớn với các doanh nghiệp dân doanh nhỏ. Những năm gần đây,
Nhà nớc đã dành nguồn ngân sách hàng năm cho việc đào tạo cán bộ KH&CN ở
nớc ngoài, tuy nhiên kết quả đạt đợc là cha đủ để đáp ứng yêu cầu đổi mới
công nghệ. Hơn nữa, cơ chế quản lý cán bộ KH&CN hiện nay là không hiệu quả
và không hợp lý, không khuyến khích tính chủ động và sáng tạo của họ.
- Thứ ba, các thể chế về sở hữu trí tuệ rất chậm đợc đổi mới. Trên thế giới,
trong khoảng 10 năm trở lại đây, diễn ra xu thế kinh phí đầu t cho nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ là do nhà nớc cấp, thỡ quyền sở trớ tu đợc trao
cho các tổ chức KH&CN hoặc các nhà nghiên cứu, nhờ vậy các chủ thể này có
nhi u khả năng h n tham gia vo th tr ng KH&CN và nhà nớc sẽ đợc
hởng lợi từ điều này. Tuy nhiên, ở Việt Nam, cách tiếp cận nh vậy cha đợc áp
dụng, nên vấn đề chủ sở hữu sản phẩm KH&CN do nhà nớc cấp kinh phí là cha
rõ ràng, không rõ chủ sở hữu là Nhà nớc, tổ chức KH&CN hay cá nhân. Đây là
một nguyên nhân cơ bản gây cản trở quá trình mua bán, trao đổi sản phẩm
KH&CN trên thị trờng. Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay, ý thức tôn trọng quyền
sở hữu trí tuệ trong xã hội còn quá kém, những ngời có khả năng tạo ra tri thức
cũng cha hình thành đợc thói quen đăng ký quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản
phẩm KH&CN của mình. Nguyên nhân chủ yếu là chính sách hiện hành cha
khuyến khích những ngời sáng tạo ra tri thức đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ. Bên cạnh đó, chi phí để đợc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam còn cao,
những thủ tục để xác nhận quyền sở hữu tơng đối phức tạp, tốn nhiều thời gian,
đòi hỏi những quy trình và kỹ năng nhất định trong khi loại hình dịch vụ để hỗ trợ
cho quá trình này cha phát triển. Thêm vào đó, hiệu lực của các quy định pháp
luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thấp, làm triệt tiêu động lực tham gia đăng
ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của những ngời có các công trình sáng tạo.

KH&CN
Phân tích về những việc đã làm đợc và ch a lm c trên đây đã cho thấy
phần nào những thuận lợi và khó khăn trong việc tạo lập và phát triển thị trờng
KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới. Đánh giá một cách khái quát, những
thuận lợi và khó khăn ấy thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau đây:

I.3.1. Thuận lợi
- Thứ nhất, con đờng phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa ở nớc ta ũi h i v tạo môi trờng thuận lợi cho quá trình hình thành
đồng bộ và hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trờng, trong đó có thị trờng
KH&CN. Văn kiện Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ: Khẩn trơng tổ chức thị trờng
KH&CN, thực hiện tốt bảo hộ trí tuệ; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin,

CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

16


chuyển giao công nghệ 4 . Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 9 (khoá IX) nh n
m nh: Phát triển mạnh thị trờng KH&CN để góp phần nhanh chóng nâng cao
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp; có cơ chế, chính sách để sản phẩm khoa học
thực sự trở thành hàng hoá Đổi mới cơ bản quản lý nhà nớc về KH&CN theo
hớng hỗ trợ phát triển thị trờng KH&CN, khuyến khích, tôn vinh các nhà khoa
học trong nớc và ngời Việt Nam ở nớc ngoài thực sự có tài, có đóng góp cho
đất nớc 5 . Ngoài ra, trong nhiều văn kiện và văn bản quan trọng khác, cũng đề ra
nh ng ch chủ trơng, chính sách cơ bản mở đờng cho việc phát triển thị trờng
KH&CN.
- Thứ hai, công cuộc cải cách kinh tế trong nớc và tiến trình hội nhập kinh
tế qu c t của nớc ta đang đợc đẩy mạnh và đợc làm sâu sắc hơn. Cải cách
tơng đối toàn diện đã làm cho thị trờng mở rộng và phát triển hơn, cạnh tranh

17


Nhận thức về thị trờng KH&CN còn nhiều điều cha sáng tỏ, cha thống nhất,
ảnh hởng đến việc thực hiện chủ trơng tạo lập và phát triển thị trờng KH&CN.
- Thứ hai, cơ cấu sở hữu của khu vực doanh nghiệp không hỗ trợ cho phát
triển thị trờng: các doanh nghiệp nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn về tài sản và năng
lực nhng còn mang nặng tính độc quyền và đợc hởng khá nhiều u đãi, quá
trình cải cách doanh nghiệp nhà nớc diễn ra rất chậm chạp, trong khi đó các
doanh nghiệp dân doanh tuy số lợng lớn nhng yếu ớt, kém phát triển. Đầu t từ
ngân sách nhà nớc cho hoạt động KH&CN đã tăng lên mức 2% tổng chi ngân
sách nhà nớc, tuy nhiên vẫn còn thấp so với các nớc khác trong khu vực và trên
thế giới, vì vậy cha có tác dụng thực sự đáng kể trong việc nâng cao tiềm lực
KH&CN của đất nớc. Cơ cấu công nghiệp của đất nớc cũng không kích thích
nhu cầu hàng hoá KH&CN và việc đáp ứng nhu cầu. Nhi u ngnh công nghiệp s
d ng nhi u lao ng tay ngh th p, phần lớn làm gia công cho nớc ngoài, cho
nên nhu cầu và khả năng đổi mới công nghệ là hạn chế.
- Thứ ba, chất lợng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp, nền giáo dục
bất cập trớc đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng với hàm lợng sử dụng tri thức,
KH&CN ngày càng cao, trong khi đó đầu t cho phát triển nguồn nhân lực còn
nhỏ và cha tơng xứng với yêu cầu phát triển. Các chính sách nhằm khuyến khích
khả năng sáng tạo, đổi mới của nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa cha đợc thực hiện
một cách có hiệu quả. Ràng buộc này có ảnh hởng trực tiếp đến nhu cầu và việc
đáp ứng nhu cầu về hàng hoá KH&CN cũng nh việc ứng dụng các tiến bộ
KH&CN vào thực tiễn.
II. Tạo lập v phát triển thị trờng KH&CN ở Việt Nam

II.1. Nhận dạng khái quát thị trờng KH&CN ở Việt Nam
Sản phẩm KH&CN đợc mua bán có nhiều dạng khác nhau, đợc thực hiện
thông qua nhiều kênh khác nhau và dựa vào các vật mang công nghệ và tri thức

- Doanh vụ gắn với nhãn hiệu hàng hoá, thiết kế, kiểu dáng, bao gồm: bán
đứt, chuyển quyền sử dụng thông qua hợp đồng li-xăng, kinh tiêu.
- Doanh vụ gắn với các dịch vụ có nội dung kỹ thuật, bao gồm: nghiên cứu
kỹ thuật và công trình (thiết kế dự án và chuẩn bị đa dự án vào hoạt động), hỗ trợ
kỹ thuật nói chung (vận hành công nghiệp, bảo dỡng).
- Thực hiện dịch vụ R&D thơng mại.
- Thực hiện các dịch vụ KH&CN nh thông tin KH&CN, môi giới mua bán,
t vấn pháp lý, giám định, tài chính, trọng tài, quảng cáo, hội chợ triển lãm
nhằm tạo dễ dàng cho việc tạo ra sản phẩm KH&CN và cho việc lu thông những
sản phẩm này trên thị trờng.
Với các dạng thức hàng hoá và các phơng thức giao dịch đa dạng nh vậy,
số các chủ thể tham gia thị trờng cũng đa dạng và sẽ ngày càng đợc mở rộng.
Xét theo yếu tố cấu thành thị trờng, thì trên thị trờng KH&CN Việt Nam bao
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

19


gồm những chủ thể chính sau đây:
- Bên cung, bao gồm: các tổ chức KH&CN (tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ
chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trờng đại học, học viện,
trờng cao đẳng, tổ chức dịch vụ KH&CN); các nhà sáng chế độc lập; và các
doanh nghiệp.
- Bên cầu, bao gồm: các doanh nghiệp; các tổ chức KH&CN; các cá nhân,
điển hình là những ngời nông dân; v Chớnh ph .
- Các tổ chức trung gian: các cơ quan thông tin t vấn KH&CN; các tổ chức
cung cấp dịch vụ pháp lý về sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ; các cơ
quan giám định KH&CN; các cơ quan tổ chức hội chợ, quảng cáo KH&CN; các tổ
chức cung cấp dịch vụ tài chính; các cơ sở đào tạo, bồi dỡng về KH&CN
Giống nh các loại hình thị trờng khác, để thị trờng KH&CN vận hành

đẳng hoá môi trờng kinh doanh, bình đẳng hoá trong đối xử của Nhà nớc đối với
tất cả các loại hình doanh nghiệp để tạo sức ép cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp
phải tìm tới, phải gia nhập, tham gia nhiều hơn, mạnh hơn vào thị trờng KH&CN.
M t chủ thể có nhu cầu mua hàng hoá KH&CN quan trọng nữa là ngời
nông dân. Để thúc đẩy cầu hàng hoá KH&CN của ngời nông dân, phải thực hiện
có hiệu quả các chính sách, giải pháp tăng cờng áp dụng khoa học, kỹ thuật và
công nghệ để tăng năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn một cách bền vững. Đây là những chính sách, giải
pháp quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh
tế nông thôn ở nớc ta. Cần khuyến khích doanh nghiệp hoá các trang trại trên cơ
sở sử dụng rộng rãi những công nghệ tiên tiến và công nghệ cao.
Trên thị trờng KH&CN, việc thúc đẩy cầu của Chính phủ phải gắn với tiến
trình hiện đại hoá nền hành chính nhà nớc, theo đó các cơ quan nhà nớc có trang
bị tơng đối hiện đại, tăng cờng áp dụng các hệ thống thông tin điện tử trong bộ
máy Chính phủ. Ngoài việc mua hàng hoá KH&CN để phục vụ cho hoạt động của
bộ máy công quyền, Chính phủ còn mua công nghệ để đáp ứng hàng hoá công
cộng hoặc để hỗ trợ các đối tợng c n h tr trong xã h i. Vấn đề đặt ra là cần
tăng cờng tính cạnh tranh trong quá trình mua hàng hoá KH&CN của Chính phủ.
- Thứ hai, để thúc đẩy cung, định hớng chính sách then chốt là cần tăng
cờng năng lực của các tổ chức KH&CN nhằm nâng cao số lợng và chất lợng
của các sản phẩm KH&CN, đồng thời tăng cờng khả năng thơng mại hoá những
sản phẩm này. Theo đó, cần đa dần các tổ chức nghiên cứu KH&CN do Nhà nớc
thành lập về các doanh nghiệp, hoạt động nh một thành phần tổ chức của doanh
nghiệp; chuyển dần các tổ chức KH&CN thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng
và phát triển công nghệ hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về kết quả và hiệu quả hoạt động của mình theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, cần tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ, tăng cờng đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ KH&CN trình độ
cao, và gắn kết hoạt động KH&CN với hoạt động kinh tế, xã hội, làm cho yêu cầu
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

lệ quốc tế, và thực hiện các hiệp định quan trọng trong khung khổ WTO. Trong
đó, việc thực hiện Hiệp định TRIPS sẽ có tác động trực tiếp đến sự tạo lập và phát
triển thị trờng KH&CN ở Việt Nam. Trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO,
Việt Nam đã xây dựng Chơng trình hành động thực hiện Hiệp định này tập trung
vào việc ban hành mới và/hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản phỏp lu t v pháp quy
hiện hành nhằm: (i) bảo đảm đối xử quốc gia trong việc xác lập, duy trì, thực thi
quyền sở hữu trí tuệ; (ii) bảo đảm áp dụng các điều ớc quốc tế về quyền tác giả;
(iii) mở rộng phạm vi bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá theo quy định của Hiệp định
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

22


TRIPS; (iv) hớng dẫn thi hành các quy định về chỉ dẫn địa lý; (v) mở rộng danh
mục các loài thực vật đợc bảo hộ; (vi) quy định chi tiết thủ tục xác lập quyền sở
hữu trí tuệ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật; (vii) củng cố các
biện pháp chế tài và thủ tục tố tụng đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
(viii) tăng cờng năng lực của các cơ quan đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Tác động tổng thể đến việc tạo lập và phát triển thị trờng KH&CN là rất
quan trọng, do những hệ quả đến thơng mại, đầu t và các lĩnh vực khác sẽ kích
thích cung và cầu trên thị trờng và thúc đẩy cải thiện thể chế hỗ trợ thị trờng. Để
tăng cờng những tác động tích cực, ngoài việc phải thực hiện có hiệu quả các giải
pháp, đã đợc đề cập trong các Phần II.2 và II.4, cũng nh Chơng trình hành
động thực hiện Hiệp định TRIPS đã nêu trên đây, Việt Nam cần xây dựng và thực
hiện một Chơng trình hội nhập và hợp tác quốc tế về KH&CN. Chơng trình này
phải đề ra lộ trình hội nhập thích hợp của từng lĩnh vực KH&CN, đồng thời đề ra
một số giải pháp hợp tác quốc tế quan trọng nh: tăng cờng mối liên kết quốc tế
của các chơng trình KH&CN quốc gia; tăng cờng mức độ tham gia của các nhà
khoa học và tổ chức KH&CN nớc ngoài vào các chơng trình KH&CN quốc gia;
thúc đẩy đầu t nớc ngoài vào KH&CN

hữu trí tuệ, tạo thói quen trong xã hội về thực hiện theo pháp luật các giao dịch về
công nghệ, chuyển giao công nghệ.
Nhà nớc cần ban hành các văn bản pháp luật t o d dng v khuy n khớch
hoạt động của các chủ thể tham gia thị trờng KH&CN, điều ch nh thớch ỏng
hành vi của họ trong quá trình mua bán với các quy định về các vấn đề nh: các
giao dịch, hợp đồng mua bán, chuyển giao sản phẩm KH&CN; xác định giá cả
hàng hoá KH&CN; xác định và phân chia lợi nhuận của sản phẩm KH&CN; góp
vốn bằng sản phẩm KH&CN; các dịch vụ thị trờng KH&CN Đồng thời, những
quy định này cần bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trờng, bảo đảm
cạnh tranh lành mạnh.
- Thứ hai, xây dựng và thực thi các chính sách thúc đẩy cầu và cung trên thị
trờng KH&CN.
+ Tạo sức ép đổi mới công nghệ và ứng dụng tiến bộ KH&CN của các
doanh nghiệp nhà nớc bằng cách kiểm soát độc quyền, xoá bỏ bao cấp, đặc
quyền đặc lợi của các doanh nghiệp này, buộc chúng phải cạnh tranh bình đẳng
trên một sân chơi chung với các loại hình doanh nghiệp khác.
+ Tăng cờng sự hỗ trợ của Nhà nớc, các thể chế tín dụng, ngân hàng, hiệp
hội đối với những đối tợng có nhu cầu lớn về đổi mới công nghệ và ứng dụng
tiến bộ KH&CN nhng gặp phải nhiều ràng buộc về năng lực và điều kiện, điển
hình là các doanh nghiệp nhỏ và vừa và ngời nông dân. Những hỗ trợ này cần tập
trung vào: tài chính; kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất; đào tạo, bồi dỡng nguồn
nhân lực; tiếp cận với các nguồn lực KH&CN quốc gia; thông tin KH&CN;
khuyến nông
+ Thành lập mới và tăng cờng hiệu quả hoạt động của các quỹ của Nhà
nớc hỗ trợ phát triển thị trờng KH&CN. Theo đó, Quỹ hỗ trợ phát triển cần dành
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

24



thị KH&CN. Triển khai xây dựng mạng lới thông tin KH&CN và đổi mới công
nghệ ở trung ơng và địa phơng để phục vụ các chủ thể tham gia thị trờng, kết
nối các dịch vụ môi giới và tiếp thị hàng hoá KH&CN trên tầm quốc gia. Xây
dựng quy chế điều chỉnh hoạt động giám định công nghệ, tạo điều kiện cho các tổ
CIEM- Trung tõm Thụng tin T li u

25


chức giám định quốc tế có thể hoạt động thuận lợi tại Việt Nam, đồng thời khuyến
khích hoạt động của các tổ chức giám định công nghệ trong nớc. Xây dựng quy
chế hoạt động của chợ công nghệ, trong đó đặt ra những yêu cầu đối với chất
lợng hàng hoá đợc mang đến chợ và có các biện pháp khuyến khích các doanh
nghiệp tham gia với t cách là bên cung công nghệ.

II.5. Gợi ý về bớc đi và khâu đột phá trớc mắt để tạo lập và phát triển
thị trờng KH&CN ở Việt Nam
Do thị trờng KH&CN là một lĩnh vực rất mới mẻ, cả về lý luận và thực tiễn
ở Việt Nam, cho nên để tạo lập và phát triển thị trờng này, đòi hỏi phải có sự
chuẩn bị, bớc đi và lộ trình thích hợp. Quá trình này sẽ đảm bảo cho Việt Nam
tạo lập đợc đồng bộ các yếu tố của thị trờng KH&CN, đồng thời cũng đảm bảo
sự đồng bộ trong mối quan hệ với các loại hình thị trờng khác, phù hợp với tiến
trình phát triển kinh tế thị trờng nói chung và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam nói riêng. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Đề
án Phát triển thị trờng KH&CN giai đoạn 2005- 2010. Tuy còn có những ý kiến
khác nhau, song cần nhanh chóng hoàn thiện Đề án này để tạo cơ sở cho sự nhận
thức thống nhất về thị trờng KH&CN, đặc biệt là tạo cơ sở cho việc xây dựng,
ban hành v th c hi n các thể chế nhằm tạo lập và phát triển thị trờng KH&CN.
Để đẩy nhanh quá trình tạo lập và phát triển thị trờng, nhất thiết cần thực
hiện một số giải pháp mang tính đột phá nhằm tác động đến những khâu yếu của


42,86

3,79
26


Miễn thuế cho các loại dịch vụ thông tin, mua bán
công nghệ
Nhà nớc hỗ trợ cho doanh nghiệp trong thông tin và
mua bán công nghệ bằng các dịch vụ cho không, đào
tạo miễn phí
Tổ chức tốt hơn các hội chợ công nghệ
Tăng cờng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công
nghiệp

22,09

2,81

14,77

2,88

14,12
57,65

2,87
3,96





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status