BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ HỒNG SƠN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH GIÁ HẠNH KIỂM HỌC SINH
TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số
: 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. PHAN VĂN KHA
2. TS. NGUYỄN KIM DUNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Đọc là
CBQL
Cán bộ quản lý
CB
Cán bộ
CL
Công lập
CSVC
Cơ sở vật chất
HCM
Hồ Chí Minh
HS
Học sinh
Giáo viên chủ nhiệm
NV
Nhân viên
ĐTB
Điểm trung bình
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp
TT
Thông tư
TT58
Thông tư 58/TT-BGDĐT
Trong nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường trung học phổ thông
(THPT) nói riêng, hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục là một trong những
khâu quan trọng của hoạt động giáo dục tổng thể. Kiểm tra, đánh giá không chỉ
nhằm đánh giá kết quả quá trình học tập, rèn luyện của học sinh, khuyến khích, tạo
động lực cho học sinh, giúp học sinh tiến bộ không ngừng mà còn cung cấp thông
tin phản hồi giúp nhà quản lý, giáo viên hiểu rõ thực trạng chất lượng giáo dục, từ
đó có những điều chỉnh thích hợp cho hoạt động giáo dục. Không những thế, đánh
giá kết quả giáo dục còn giúp cơ quan giáo dục, các nhà quản lí và hoạch định chính
sách có được các số liệu, thông tin về chất lượng và trình độ của hệ thống giáo dục
các cấp để có những điều chỉnh, bổ sung và chỉ đạo kịp thời. Hoạt động đánh giá
hạnh kiểm của học sinh ở các trường THPT là một trong những bộ phận quan trọng
trong hoạt động đánh giá kết quả giáo dục nói chung. Trong đó, đánh giá hạnh kiểm
học sinh ngoài tính chất quan trọng còn thể hiện nét đặc thù về đối tượng được đánh
giá - là nhân cách, đạo đức của học sinh. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, xuất
phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, sự giáo dục của nhà trường và gia đình, đạo đức
của thanh niên, học sinh nói chung trong đó tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM)
nói riêng, có một số biểu hiện xuống cấp nghiêm trọng như tính ích kỷ, vô cảm, lối
sống thực dụng, hưởng thụ… Những biểu hiện này đặc biệt được xã hội quan tâm
trong đó có vai trò của các nhà làm công tác giáo dục. Nhiệm vụ chung của giáo
dục phổ thông, bên cạnh trang bị tri thức cho học sinh thì việc giáo dục đạo đức,
nhân cách cho học sinh là mục tiêu cơ bản của các nhà trường cần thực hiện. Trong
8
đó, về giáo dục đạo đức, cùng với việc tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh thì việc đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức là khâu thiết yếu góp
phần kịp thời tác động, uốn nắn học sinh theo hướng tích cực về đạo đức, hạnh
kiểm.
Ở trường THPT, hạnh kiểm được xem như là đạo đức. Vì thế hoạt động đánh
kỷ, thói quen hưởng thụ, quá xem trọng cá nhân, nạn bạo lực trong xã hội đe dọa
môi trường trong lành của học đường...”. Thực tiễn này khiến xã hội và ngành giáo
dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống cho HS trong các nhà
trường nói chung và hoạt động đánh giá hạnh kiểm, đạo đức của học sinh THPT nói
riêng.
Công tác quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm, đạo đức của học sinh ở các
trường THPT tại Tp.Hồ Chí minh đã được thực hiện theo các quy chế, thông tư,
hướng dẫn của Bộ GDĐT, Sở GDĐT và đã đạt được những kết quả nhất định, góp
phần phản ánh chất lượng giáo dục phẩm chất, nhân cách học sinh. Tuy nhiên,
trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, công tác này bộc lộ
nhiều bất cập, hạn chế. Báo cáo tổng kết năm học 2012-2013 đã nhận định: “Công
tác quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS THPT tại Tp.HCM còn chưa đồng
bộ, chưa chặt chẽ từ khâu lập kế hoạch, tổ chức đến việc thực hiện và kiểm tra
đánh giá hoạt động đánh giá hạnh kiểm trong nhà trường THPT”.
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức, hoạt động giáo dục đạo
đức, hạnh kiểm học sinh trong nhà trường, song nghiên cứu sâu về hạnh kiểm của
HS, hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS, đặc biệt quản lý hoạt động đánh giá hạnh
kiểm cả về lý luận và thực tiễn theo đối tượng HS của từng cấp học, trong đó có học
sinh THPT thì hầu như còn ít công trình trong thời gian qua.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm học sinh trong các trường trung học
phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý đánh giá hạnh kiểm HS THPT, khảo sát,
đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS THPT tại Tp.HCM,
từ đó xây dựng các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS
trong các trường THPT tại TP.HCM phù hợp với tình hình phát triển của xã hội.
10
11
giá hạnh kiểm HS tại các trường THPT công lập trên địa bàn Tp.HCM thuộc Sở
GDĐT Tp.HCM quản lý.
- Về nội dung các biện pháp: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp
quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS ở cấp trường THPT, cấp Sở GDĐT
không tính đến các biện pháp cấp Bộ GDĐT.
- Về phạm vi thực nghiệm: Chỉ thực nghiệm một biện pháp về quản lý nhằm
phát triển, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS trong
trường THPT phù hợp với tình hình phát triển xã hội hiện nay.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu hoạt động, thu thập số liệu
khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2014.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Tiếp cận hệ thống
Luận án tiếp cận theo quan điểm hệ thống để nghiên cứu về đánh giá hạnh
kiểm và quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS THPT. Hoạt động đánh giá hạnh
kiểm là một thành tố trong hệ thống quản lý giáo dục nói chung và quản lý chất
lượng HS nói riêng. Hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS có mối liên hệ chặt chẽ với
các hoạt động đánh giá giáo dục khác.
7.1.2. Tiếp cận thực tiễn
Luận án tiếp cận theo quan điểm thực tiễn để nghiên cứu về đánh giá hạnh
kiểm và quản lý họat động đánh giá hạnh kiểm HS THPT. Mọi thay đổi của đời
sống, văn hóa, xã hội đều có tác động rất lớn đến hành vi, thái độ, cách ứng xử và
đạo đức của con người. Giáo dục đạo đức, hạnh kiểm cho HS cũng như đánh giá
hạnh kiểm của HS phải phù hợp với sự phát triển chuẩn mực đạo đức của xã hội
hiện đại.
7.1.3. Tiếp cận lịch sử-logic
Luận án tiếp cận theo quan điểm lịch sử - logic. Những yêu cầu về phẩm
chất đạo đức, hạnh kiểm HS THPT luôn phải đáp ứng với sự vận động thay đổi của
đánh giá hạnh kiểm HS THPT.
Nội dung: Phỏng vấn cụ thể về mục đích, nội dung, qui trình, kết quả đánh
giá hạnh kiểm HS THPT. Phỏng vấn về những khó khăn và thuận lợi trong quá
13
trình thực hiện việc đánh giá hạnh kiểm của HS THPT theo Thông tư 58 và Thông
tư 08 của Bộ GDÐT.
Xây dựng công cụ phỏng vấn là phiếu phỏng vấn CBQL, GV (Phụ lục 3),
phiếu phỏng vấn cha mẹ HS (Phụ lục 4), phiếu phỏng vấn HS (Phụ lục 5).
7.2.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu về những hoạt động
quản lý cấp Bộ, cấp Sở, cấp trường về đánh giá hạnh kiểm HS THPT thông qua các
văn bản chỉ đạo, những qui định, nội qui nhà trường, báo cáo tổng kết, xếp loại học
sinh…
Nội dung:
- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tất cả văn bản qui phạm pháp luật chỉ đạo
từ các cơ quan quản lý cấp Bộ GDĐT, Sở GDĐT về đánh giá hạnh kiểm HS THPT
trong những năm gần đây.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng hợp tất cả các hồ sơ xử lý vi phạm
kỷ luật HS của trường THPT.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng hợp nội dung, tiêu chí đánh giá hạnh
kiểm HS THPT.
- Nghiên cứu phân tích, đánh giá việc dạy môn Giáo dục Công dân (GDCD)
và thực hiện lồng ghép đánh giá hạnh kiểm HS qua kết quả môn GDCD theo Thông
tư 58 của Bộ GDĐT.
- Nghiên cứu phân tích, đánh giá việc xét khen thưởng và vi phạm của HS
theo thông tư 08 của Bộ GDĐT.
7.2.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
hành vi cụ thể của HS.
7.2.2.8. Phương pháp thực nghiệm
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm chứng minh tính khả thi và tính
cần thiết của biện pháp được lựa chọn để thực nghiệm, góp phần khẳng định tính
đúng đắn của giả thuyết khoa học.
Nội dung: Tiến hành tổ chức thực nghiệm giải pháp “bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ của giáo viên và cán bộ quản lý về hạnh kiểm và đánh giá hạnh kiểm HS
tại Tp.HCM”.
15
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Luận án sử dụng kỹ thuật thống kê toán học để thống kê, phân tích số liệu
trong các bảng hỏi, và các số liệu, thông tin thu thập được từ các phương pháp
nghiên cứu khoa học đã sử dụng trong luận án.
8. Đóng góp mới của luận án
8.1. Về lý luận
Luận án góp phần phát triển những vấn đề lý luận về hoạt động đánh giá hạnh
kiểm và quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm cho HS THPT. Trong đó luận án đã
đi sâu phân tích làm sáng rõ và phân biệt 2 khái niệm đạo đức và hạnh kiểm học
sinh; xây dựng lý luận về hoạt động đánh giá hạnh kiểm HS THPT bao gồm mục
đích đánh giá, tiêu chí đánh giá, quy trình đánh giá, phương pháp và kỹ thuật đánh
giá, sử dụng kết quả đánh giá hạnh kiểm học sinh THPT. Trên cơ sở tiếp cận mục
tiêu quản lý và chức năng quản lý, luận án xây dựng lý luận về quản lý hoạt động
đánh giá hạnh kiểm HS THPT thông qua các khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,
chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện hoạt động đánh giá hạnh kiểm
HS THPT. Luận an đã xây dựng 8 biện pháp quản lý hoạt động đánh giá hạnh kiểm
HS THPT.
8.2. Về thực tiễn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ
HẠNH KIỂM HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1. Nghiên cứu về giáo dục đạo đức ở một số nước trên thế giới
Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người không thể tránh khỏi một quy luật
tất yếu là họ phải có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau để sinh tồn và phát
triển. Quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và cộng đồng ngày càng
phức tạp và phong phú, đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xử,
điều chỉnh thái độ, hành vi sao cho phù hợp với lợi ích chung của mọi người. Giáo
dục đạo đức cho con người nói chung và cho HS nói riêng, luôn được các quốc gia
trên thế giới coi trọng và đưa vào chương trình giáo dục phổ thông.
Giáo dục đạo đức cho HS ở Mỹ: Mục tiêu giáo dục đạo đức cho HS ở Mỹ
là cung cấp cho học sinh những kiến thức và cơ hội thực hành, vận dụng để xây
dựng được một nền tảng tính cách bền vững, hài hòa dựa trên ba mục tiêu lớn của
cuộc đời. Giáo dục học sinh trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và
có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nước. Nội dung giáo
dục đạo đức cho HS ở Mỹ bao gồm 6 trụ cột: Trụ cột thứ nhất: Sự tin cậy; Trụ cột
thứ hai: Tôn trọng; Trụ cột thứ ba: Tinh thần trách nhiệm; Trụ cột thứ tư: Công
bằng; Trụ cột thứ năm: Quan tâm; Trụ cột thứ sáu: Bổn phận công dân. Phương
pháp giáo dục đạo đức cho HS ở Mỹ bao gồm các cách cơ bản như: Nêu gương;
Giải thích; Cổ vũ, khích lệ; Bảo đảm môi trường đạo đức; Trải nghiệm; Kỳ vọng
vào sự ưu tú [128]
Giáo dục đạo đức cho HS ở Thái Lan: Mục tiêu của giáo dục đạo đức cho
HS ở Thái Lan là giúp HS nhận thức được điều tốt, quan tâm đến điều tốt, làm điều
tốt. Nội dung bao gồm: Đáng tin cậy – trung thực và nói sự thật; Tôn trọng – lịch sự
18
19
của mỗi địa phương. Từ đó ít có điều kiện liên hệ thực tiễn và tìm ra những giải
pháp thích hợp.
Mục tiêu giáo dục đạo đức học sinh cần tập trung nhấn mạnh những điểm
nào là cần thiết nhất, nhưng phải gắn với mục tiêu giáo dục cấp học, với mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra. Ngoài mục tiêu chung
cho giáo dục phổ thông, mỗi cấp học cần cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đạo đức cho
học sinh phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, với vùng miền.
Giáo dục đạo đức học sinh được thực hiện qua nhiều con đường, cách thức,
phương pháp cụ thể. Nhà trường Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong việc vận
dụng các phương pháp giáo dục đạo đức khác nhau, tuy nhiên còn hạn chế và nghèo
nàn về hình thức giáo dục. Kinh nghiệm của ba nước nói trên cho thấy, cần phải lựa
chọn những phương pháp. Đó phải là những phương pháp có trọng tâm trọng điểm,
gắn với đặc điểm lứa tuổi, với điều kiện của từng trường, của mỗi địa phương. Chỉ
có làm như vậy mới phát huy được tính sáng tạo của giáo viên trong quá trình giáo
dục đạo đức học sinh.
Sử dụng các phương tiện giáo dục đạo đức cũng là một vấn đề được các
nước quan tâm. Truyền thống nhà trường, truyền thống cách mạng của địa phương,
các tấm gương sáng trong học sinh và trong cộng đồng,…đều là những phương tiện
giáo dục đạo đức có hiệu quả. Điều quan trọng là vận dụng như thế, vào những bài
học nào, những nội dung nào thì sẽ phát huy được hiệu quả của các phương tiện đó.
1.1.1.2. Nghiên cứu về hoạt động đánh giá đạo đức, hạnh kiểm, hành vi
của học sinh
A. Clair Harding (1978) trong luận án tiến sĩ Moral values and theirs
assessment: A personal construct theory approach (Giá trị đạo đức và cách đánh
giá: Một lý thuyết tiếp cận cá thể) tại Đại học Hồng Kông đã trình bày kỹ về cách
đánh giá đạo đức của mỗi cá nhân đều thông qua hành vi cụ thể của từng người
trong từng hoàn cảnh điển hình của cá nhân đó [80].
Peter F. Oliver (2006) trong công trình Developing The Curriculum (Xây
vận dụng vào cuộc sống. Theo Tyler, đánh giá người học trong quá trình giáo dục là
cần thiết vì nó liên quan đến việc kiểm tra mức độ tối đa có thể đạt được các mục
tiêu chương trình.
21
Các mục tiêu
Trải nghiệm học tập
Đánh giá người học
Sơ đồ 1.1. Trình bày quá trình giáo dục theo Tyler
(Nguồn: The International Encyclopedia of Educational Evaluation.)
Đây là sơ đồ đa chiều, được đánh dấu bằng mũi tên hai chiều để nối các
thành phần với nhau. Bắt đầu từ mục tiêu, mũi tên chỉ về trải nghiệm học tập biểu
thị rằng các mục tiêu chỉ dẫn cho việc chọn lựa các trải nghiệm học tập. Mũi tên
hướng từ mục tiêu sang đánh giá người học biểu thị điểm chú ý đầu tiên của đánh
giá là tập trung vào các bằng chứng mở rộng của mục tiêu cần đạt được. Mũi tên chỉ
từ trải nghiệm học tập sang đánh giá người học biểu thị trải nghiệm học tập là các
minh chứng cho việc đánh giá. Hai mũi tên từ đánh giá người học sang mục tiêu và
trải nghiệm học tập là đặc biệt quan trọng. Mũi tên từ đánh giá người học tới mục
tiêu cho biết những thông tin mà mục tiêu cần đạt tới, đồng thời cũng cung cấp
những thông tin có giá trị để hình thành hoặc xóa bỏ một số mục tiêu. Mũi tên từ
đánh giá người học tới trải nghiệm học tập đưa ra hai thông tin quan trọng. Thứ
nhất, chỉ có hoạt động đánh giá mới cung cấp thông tin để biết được trải nghiệm học
tập là tốt hay không tốt, có những thông tin cần chỉnh sửa và có những thông tin cần
loại bỏ. Thứ hai là, các nhiệm vụ, các bài tập và các vấn đề nảy sinh do các chuyên
gia đánh giá đưa ra có thể là đề xuất cho các kinh nghiệm học tập mới. Mũi tên cuối
Hà Thế Ngữ (1986), chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước “Nâng cao chất lượng
giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cho học sinh phổ thông” – ký hiệu A3 [59] đã
đề cập một cách toàn diện về tất cả các phương diện khác nhau của vấn đề đạo đức,
đã chỉ ra phương hướng của việc nâng cao chất lượng của việc giáo dục đạo đức.
Phát triển kết quả của đề tài này, trong hai năm 1987-1988, Đặng Vũ Hoạt, chủ
nhiệm đề tài “Xây dựng nội dung và phương pháp giáo dục tư tưởng, chính trị đạo
đức cho học sinh phổ thông”(đề tài cấp Nhà nước,ký hiệu A5) đã đưa ra được các
phương pháp, biện pháp cải tiến công tác giáo dục đạo đức chính trị trong tình hình
23
mới của đất nước; Xây dựng dựng đồng bộ các chương trình về môn Đạo đức; Xây
dựng một số tài liệu hướng dẫn các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Đề tài đã
cụ thể hóa nội dung và phương pháp và phương pháp giáo dục đạo đức cho HS phổ
thông [32].
Phùng Khắc Bình và các cộng sự (2000) với Nghiên cứu việc phân loại đạo
đức sinh viên – Thực trạng và tiêu chí đánh giá (đề tài cấp Bộ - mã số B99-52-41)
đã phân tích tổng hợp những lý luận về giáo dục con người toàn diện và mục tiêu
đào tạo đại học. Công trình nghiên cứu đã phân tích sâu về nhân cách của sinh viên.
Nhân cách của sinh viên như một cấu tạo hoàn chỉnh, trong đó đạo đức với tư cách
là một thành tố, một nội dung cơ bản của nhân cách. Đánh giá đạo đức của sinh
viên là một thành tố trong quá trình giáo dục. Công trình nghiên cứu đã trình bày
quan điểm, mục tiêu và nội dung, phương pháp đánh giá đạo đức sinh viên. Công
trình đã đề xuất bộ tiêu chí và kỹ thuật, quy trình đánh giá đạo đức sinh viên. Xếp
hạng, phân loại việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức của sinh viên sẽ góp phần thúc đẩy
sinh viên hoàn thiện nhân cách, đáp ứng mục tiêu giáo dục [4].
Võ Xuân Đàn (2003) với Quan điểm đạo đức và lối sống của sinh viên
trường đại học Sư Phạm Tp. HCM (đề tài cấp Bộ – mã số B2001-23-11) đã đi sâu
vào tìm hiểu một số quan niệm về đạo đức và lối sống của các nhà giáo dục và các
đổi mới, phổ biến vẫn là kiểm tra kiến thức, chưa chú trọng đánh giá năng lực. Mặt
khác, bài viết cũng nêu lên thực trạng là khi thực hiện Thông tư 58, do số lượng
giáo viên dạy đạo đức – GDCD trong mỗi trường chỉ có 1-2 người nên không
khiêm nỗi việc đánh giá hạnh kiểm cho HS toàn trường. Tác giả cũng đã đưa ra
hàng loạt các giải pháp như xây dựng chương trình môn đạo đức- giáo dục công
dân, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới dạy và học, bồi dưỡng giáo viên. Đặc biệt là
các giải pháp về kiểm tra đánh giá môn đạo đức – giáo dục công dân[66].
Hà Nhật Thăng (2013) có tham luận “Những việc cần làm để phát huy vai
trò của môn giáo dục công dân đối với sự hình thành, phát triển nhân cách HS phổ
thông” được trình bày tại Hội thảo quốc gia về giáo dục đạo đức – công dân trong
giáo dục phổ thông Việt Nam. Nghiên cứu này đã đề cao ý nghĩa và vai trò của môn
giáo dục công dân, mối quan hệ của dạy học GDCD với quá trình giáo dục phẩm
chất đạo đức, giá trị văn hóa cho HS phổ thông. Môn GDCD vừa là một môn học
vừa là một bộ phận của quá trình giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục văn
25
hóa con người. Đánh giá kết quả học tập môn GDCD là đánh giá quá trình hình
thành đạo đức, hạnh kiểm, nhân cách của HS phổ thông. Ngoài ra, nghiên cứu này
cũng đề cập đến giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục công
dân, giáo viên chủ nhiệm từ cơ sở đào tạo khối ngành sư phạm. Nghiên cứu này
khẳng định, nâng cao hiệu quả môn GDCD cũng chính là nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện nhân cách HS phổ thông [64].
Đỗ Thị Lệ Hằng (2013) có nghiên cứu “Căng thẳng của học sinh trung học
phổ thông”, luận án Tiến sĩ Tâm lý học – Học viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam. Luận án đã đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh như lý luận về căng thẳng và
hành vi ứng phó với căng thẳng trong tâm lý học, những khuynh hướng nghiên cứu
cũng như khả năng ứng dụng kết quả những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới
và Việt Nam vào quản lý, giáo dục và rèn luyện trên bình diện xã hội. Ngoài ra,