LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS.
Nguyễn Văn Hồ đã vạch ra những định hướng khoa học và tận tình hướng dẫn tác giả
trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường đại học Thủy Lợi, các bạn học
viên cao học lớp 21C11 về sự giúp đỡ trong suốt thời gian tác giả học tập và nghiên
cứu tại trường.
Xin tỏ lòng biết ơn đến Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế hạ tầng cơ sở đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi, cho phép sử dụng các số liệu đã công bố.
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của
các Quý vị quan tâm và bạn bè đồng nghiệp.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả. Các kết quả
nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một
nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được
thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.
Tác giả luận văn
Lý Quang Diệu
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................ii
2.1.2 Tràn đỉnh rộng:.....................................................................................................................24
2.2 Phân tích một số yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng làm việc của tràn:
............................................................................................................................... 28
2.2.1 Chiều dài đường tràn:..........................................................................................................28
2.2.2 Hình dạng mặt cắt đập tràn:................................................................................................30
iii
2.3 Một số giải pháp kỹ thuật nâng cao khả năng làm việc của tràn xả lũ khi
dung tích hiệu quả tăng lên:................................................................................ 32
2.3.1 Nâng cấp, cải tạo tràn để tăng dung tích hữu ích cho hồ chứa:...........................................32
2.3.2 Nâng cấp, cải tạo tràn xả lũ để tháo được lưu lượng thiết kế mới:......................................42
2.4 Đánh giá lựa chọn giải pháp và điều kiện áp dụng:.....................................53
2.5 Kết luận chương 2:......................................................................................... 54
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO HỒ CHỨA
NƯỚC BỈ TỈNH NGHỆ AN.............................................................................56
3.1 Giới thiệu hồ chứa nước Bỉ:.......................................................................... 56
3.1.1 Điều kiện tự nhiên:..............................................................................................................56
3.1.2 Quy mô:...............................................................................................................................57
3.1.3 Nhiệm vụ:............................................................................................................................59
3.1.4 Hiện trạng hồ chứa Bỉ:.........................................................................................................59
3.2 Tài liệu tính toán hồ chứa nước Bỉ:...............................................................60
3.2.1 Lượng nước dùng:...............................................................................................................60
3.2.2 Tính toán tần suất lượng mưa năm:....................................................................................62
3.2.3 Tính toán quan hệ mưa và dòng chảy:.................................................................................63
vi
1
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của Đề tài.
Biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu đã làm cho thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia
tăng về số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng. Thủy lợi là một trong những lĩnh
vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu. Cùng với quá trình đô thị hoá
và công nghiệp hoá dẫn đến nhu cầu dùng nước gia tăng đột biến trong những năm gần
đây.
Hồ chứa nước có tầm quan trọng đặc biệt lớn đối với công tác phòng chống lũ lụt,
chống hạn hán đảm bảo cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt
động của con người. Về mùa mưa hồ chứa góp phần cắt lũ và làm chậm lũ, về mùa
kiệt nước được tích lại trong lòng hồ để cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt, giữ gìn
môi trường sinh thái... Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho chế độ dòng chảy
thay đổi, mưa lớn tập trung vào mùa mưa làm gia tăng lũ lụt nhưng lại giảm về mùa
khô gây ra hạn hán kéo dài. Nhiệt độ trung bình tăng cao làm cho lượng tổn thất do
bốc hơi mặt hồ cũng tăng theo, đó là nguyên nhân làm cho hồ chứa không còn đáp ứng
được nhiệm vụ như thiết kế ban đầu.
Để ứng phó với ảnh hưởng của biến đổi của khí hậu và nhu cầu sử dụng nước ngày
một tăng. Việc cải tạo, nâng cấp để tăng dung tích hiệu quả cho hồ chứa phục vụ nhu
cầu sản xuất và sinh hoạt là một vấn đề cấp thiết hiện nay.
Cao trình của mực nước dâng bình thường trong hồ tăng lên dẫn đến việc ta phải cải
tạo và nâng cấp các công trình đầu mối cũ để đáp ứng được nhu cầu sử dụng và sự vận
hành an toàn cho hồ chứa. Một trong những hạng mục quan trọng và không thể thiếu
đó là tràn xả lũ. Trước thay đổi của mực nước hồ chứa để đảm bảo khả năng trữ nước
vào mùa khô và thoát nước vào mùa lũ thì cần có những giải pháp nhằm nâng cao khả
năng làm việc cho tràn xả lũ.
3
- Phương pháp nghiên cứu :
+ Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập tổng hợp tài liệu .
+ Phương pháp tiếp cận chuyên gia.
+ Phương pháp nghiên cứu, phân tích lý thuyết.
IV. Kết quả dự kiến đạt được.
- Đưa ra được các giải pháp nâng cấp và sửa chữa đập tràn xả lũ khi dung tích hiệu
quả của hồ chứa tăng lên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước.
- Áp dụng cho công trình hồ chứa nước Bỉ tỉnh ghệ An.
V. Bố cục của luận văn.
Mở đầu
Chương I: Tổng quan chung về tràn.
Chương II: Phân tích các giải pháp nâng cao khả năng làm việc của tràn.
Chương III: Áp dụng kết quả nghiên cứu vào hồ chứa nước Bỉ tỉnh Nghệ An.
Kết luận, kiến nghị.
4
CHƯƠNG 1
1.1
TỔNG QUAN CHUNG VỀ TRÀN.
Tổng quan về tràn xả lũ ở Việt Nam:
Trong cụm công trình đầu mối, tràn xả lũ có nhiệm vụ xả nước thừa về mùa lũ, để
khống chế mực nước thượng lưu không cho vượt quá mức cho phép. Tràn xả lũ ở các
hồ chứa đã xây dựng tại Việt Nam cho thấy rất đa dạng về chủng loại, quy mô, kích
Nhược điểm: Do có cột nước tràn và lưu lượng đơn vị lớn nên công trình nối tiếp tiêu
năng phức tạp hơn; quản lý, bảo dưỡng, vận hành khó khăn hơn và chi phí quản lý lớn.
Điều kiện áp dụng: Với hệ thống công trình tương đối lớn, dung tích phòng lũ lớn, khu
vực ngập ở thượng lưu rộng. Loại tràn này đang được ưu tiên khi thiết kế xây dựng
mới.
6
1.1.1.2 Theo hình thức ngưỡng tràn:
• Tràn xả lũ có ngưỡng đỉnh rộng:
Định nghĩa: Có hình dạng tùy ý, nhưng đỉnh đập tràn phải nằm ngang, chiều dày đỉnh
đập (δ) phải thỏa mãn điều kiện sau đây:
(8÷10)H > δ > (2÷3)H
Hình 1. 3:Mặt cắt ngang tràn xả lũ có ngưỡng đỉnh rộng
Ưu điểm: Thi công dễ dàng. Đỉnh tràn rộng thuận lợi cho việc nâng cấp cải tạo nếu có
sau này.
Nhược điểm: Lưu lượng tháo nhỏ hơn so với đập tràn thực dụng, trong trường hợp
chảy ngập, khả năng tháo giảm đi rất nhiều.
Điều kiện áp dụng: Loại này thường dùng khi địa hình tuyến tràn đủ rộng, cao trình tự
nhiên lớn hơn cao trình ngưỡng tràn; không yêu cầu hệ số lưu lượng lớn.
• Tràn xả lũ có ngưỡng thực dụng:
Định nghĩa: Mặt cắt có thể là hình thang hoặc hình cong có đỉnh đập và mái hạ lưu
lượn theo làn nước tràn. Đập tràn thực dụng có hai loại: có chân không và không có
chân không.
Hình 1. 4: Mặt cắt ngang tràn xả lũ có ngưỡng thực dụng
7
Sơn
Hồ chứa nước Suối
Đuốc
Hồ chứa nước tuyền
lâm
Hồ chứa nước Xạ
Hương
Hồ chứa nước Vực
Mấu
Hồ chứa nước Kẻ Gỗ
Tràn sông Trí
Hồ chứa nước Phú
Vinh
Hồ chứa nước An Mã
Tràn xả lũ Nước Trong
Hồ chứa nước Thuận
Hình thức ngưỡng tràn
hay tràn có cửa
Ngưỡng tràn đỉnh rộng
van
Có cửa van
Ngưỡng tràn thực dụng
Có cửa van
Có cửa van
Tràn tự động
Có cửa van
8
Tràn tự động
TT
Tên công trình
Hình thức ngưỡng tràn
hay tràn có cửa
van
13
14
15
16
17
18
Ninh
Hồ chứa nước Ayun
Hạ
Hồ chứa
nước Camranh
Hồ chứa nước Đạ Tẻh
Hồ chứa nước Tuyền
Có cửa van
Ngưỡng tràn thực dụng
Tràn tự động
Ngưỡng tràn đỉnh rộng
Tràn tự động
Ngưỡng tràn thực dụng
Có cửa van
Ngưỡng tràn thực dụng
Có cửa van
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng dạng
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
WES
Thủy điện Hòa Bình
Thủy điện Trị An
Thủy điện Ialy
Thủy điện Thác mơ
WES
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
34
Thủy lợi Phước hòa
Labyrinth dạng mỏ
WES
Ngưỡng tràn thực dụng dạng
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Thủy điện Hàm thuận
Đập Đá đổ có lõi chống thấm
thực dụng, có
37
38
39
Thủy điện Đồng Nai 3
Thủy điện Đồng Nai 4
Hồ chứa nước Phú Hà
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
Ngưỡng tràn thực dụng
cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Có cửa van
Tràn tự động
40
Hồ chứa sông Móng
Tràn labyrinth
quá lớn, quá đột ngột và kéo dài, đỉnh lũ xuất hiện bất ngờ, tăng lên 6m chỉ trong hai
10
tiếng đồng hồ. Do mất điện trên diện rộng nên công tác vận hành mở cửa van cung xả
lũ không thể thực hiện dẫn đến nước tràn qua đập, gây thiệt hại hư hỏng toàn bộ nhà
máy cuốn trôi hết thiết bị.
Sự cố hư hỏng tràn xả lũ đã xảy ra ở nước ta là không nhỏ và liên quan tới các sự cố
này có nhiều nguyên nhân khác nhau. Qua nghiên cứu cho thấy có 4 nguyên nhân
chính sau:
- Một là, do tính toán thủy văn trước đây không phù hợp với thực tế, do ảnh hưởng bất
lợi của biến đổi khí hậu nên tràn không đủ năng lực làm việc, phải khắc phục bằng
cách cải tạo tràn, làm thêm tràn phụ, tràn sự cố như hồ Phú Ninh (Quảng Nam), hồ
Núi Cốc (Thái Nguyên), hồ Vệ Vừng (Nghệ An), hồ Vực Tròn (Quảng Bình), hồ Tà
Kèo (Lạng Sơn), hồ Núi Một (Bình Định), hồ Liệt Sơn (Quảng Ngãi)... Xu thế chung
hiện nay là ở các hồ lớn đều chú trọng tính toán lại thuỷ văn để xem xét bổ sung khẩu
độ thoát lũ. Còn đối với các hồ loại nhỏ, một điều hết sức đáng lo ngại hiện nay là hầu
hết các tràn không đủ năng lực xả lũ nên dễ dẫn đến vỡ đập.
- Hai là, do cửa van hoặc thiết bị đóng mở tắc kẹt, gãy. Ví dụ như tràn hồ Yên Lập
trong lũ 1994 cả 03 cửa van bị kẹt; Dầu Tiếng: Lũ 1986, 2 cửa van giữa bị đứt vỡ tai
cửa; Vực Tròn: Đứt cáp, gãy cửa van; XạHương: Cửa van bị nứt gãy.
- Ba là, do tính toán thuỷ lực không chuẩn xác, dẫn đến có sự sai khác lớn giữa cột
nước thiết kế và thực tế, hậu quả là tràn bị hư hỏng. Ví dụ ở công trình Nam Thạch
Hãn (Quảng Trị), mực nước trong thực tế lũ năm 1983 là 8,10m, trong khi đó số liệu
tính toán thiết kế là 2,55m, chỉ bằng 31,5% cột nước thực tế.
- Bốn là, do chất lượng vật liệu và chất lượng thi công kém hoặc chưa hợp lý, dẫn đến
các hư hỏng như xói tróc mặt dốc nước, nứt đổ tường, nứt thân tràn, xói vỡ bể tiêu
năng... Ví dụ: Đổ tường dốc nước tràn hồ La Ngà, xói ngưỡng đổ tường bên tràn hồ
Phước Hà (Quảng Nam)... Ở hầu hết các hồ nhỏ do địa phương thiết kế và thi công,
hạng mục tràn đều bị hỏng, trôi, xói, không đủ khẩu độ thoát lũ.
hóa các số liệu quan trắc, các nghiên cứu trong và ngoài nước đến năm 2010. Theo đó
bộ tài nguyên môi trường đã xây dựng các kịch bản về biến đổi khí hậu và nước biển
dâng cho Việt Nam dựa trên các kịch bản phát thải khí nhà kính khác nhau đó là: kịch
bản phát thải thấp (kịch bản B1), kịch bản phát thải trung bình (kịch bản B2) và kịch
12
bản phát thải cao (kịch bản A2). Trong đó đã đưa ra những ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu cho Việt Nam trong thế kỷ 21 như sau [18]:
1.2.2.1 Về nhiệt độ:
Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất cả các vùng khí
hậu trên lãnh thổ Việt Nam. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng nhanh
hơn so với các vùng khí hậu phía Nam.
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các
vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình giai đoạn 1980-1999 khoảng từ
1,6 đến 1,90C, nhưng ở các vùng khí hậu phía Nam tăng ít hơn, chỉ khoảng (1,1 1,4)0C.
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm
có thể tăng lên 2,60C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc, 2,40C ở Đồng bằng Bắc Bộ, 2,80C
ở Bắc Trung Bộ, 1,90C ở Nam Trung Bộ, 1,60C ở Tây Nguyên và 2,00C ở Nam Bộ so
với trung bình giai đoạn 1980 - 1999.
- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các
vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình giai đoạn 1980 - 1999 khoảng 3,1
đến 3,60C, trong đó Tây Bắc là 3,30C, Đông Bắc là 3,20C, Đồng bằng Bắc Bộ là 3,1 0C
và Bắc Trung Bộ là 3,6 0C. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm của các vùng khí hậu
phía Nam là 2,40C ở Nam Trung Bộ, 2,10C ở Tây Nguyên và 2,60C ở Nam Bộ[18].
1.2.2.2 Về lượng mưa:
Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu trên lãnh Việt Nam, đặc
biệt là các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm có
thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu.
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng
nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82cm; thấp nhất ở
khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 49 đến 64cm. Trung bình toàn
Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm.
14
- Theo kịch bản phát thải cao nhất (A1FI): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao
nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến 105cm; thấp nhất ở
khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66 đến 85cm. Trung bình toàn
Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78 đến 95cm. [18]
1.3
Tình hình sử dụng nước ở nước ta hiện nay:
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự
gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh
ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, nhưng phát triển cũng ảnh hưởng tiêu
cực đến chất lượng, trữ lượng nguồn nước. Nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến
việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều. Nhu cầu dùng nước ở nước
ta do tăng dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa… sẽ lên đến khoảng 130-150 tỷ
m3/năm, chiếm tới gần 50% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ nước ta, gần 90% nguồn
nước mùa khô (khoảng 170 tỷ m3). Điều đó cho thấy, nguy cơ thiếu nước là rõ ràng và
ở mức nghiêm trọng.
Đặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần
tổng lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước
cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh
hoạt và sản xuất.[5]
1.3.1 Tình hình sử dụng nước trong các hoạt động kinh tế:
Việt Nam là nước ĐNA có chi phí nhiều nhất cho thủy lợi. Cả nước hiện nay có
75 hệ thống thủy nông với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3500 hồ đập nhỏ 1000
Trong nông nghiệp: Năm 2012, ngành nông nghiệp tuy chỉ đóng góp 22,02 % giá trị
GDP nhưng là ngành sử dụng nước lớn nhất ở nước ta. Mặc dù đóng góp của ngành
nông nghiệp cho GDP quốc gia giảm so với ngành công nghiệp nhưng vẫn tiếp tục
tăng trưởng và tạo ra nguồn việc làm lớn.
Theo đánh giá, nước mặt sử dụng cho tưới tiêu lên đến hơn 66.000 triệu m 3/năm,
chiếm trên 82% tổng lượng nước sử dụng ước tính ở Việt Nam. LVS Mê Công và
LVS Hồng - Thái Bình chiếm khoảng 75% tổng sử dụng nước tưới ở Việt Nam với
mức tương ứng lần lượt là trên 27% và 45%. LVS Mê Công có chỉ số sử dụng nước
tưới trên đầu người ở nông thôn lớn nhất (trên 2.000 m 3/người/năm) trong khi hầu hết
các lưu vực còn lại đều có con số dưới 1.000 m 3/người/năm. Ở hầu hết các lưu vực,
ngoại trừ LVS Đồng Nai và Đông Nam bộ, sử dụng nước tưới chiếm tới ít nhất là 80%
16
tổng sử dụng nước của lưu vực. Theo quy hoạch của chính phủ đến năm 2020 đất nông
nghiệp của cả nước là 26.732 nghìn ha, tăng 506 nghìn ha so với năm 2010 do đó nhu
cầu nước sử dụng cho nông nghiệp sẽ có su hướng ngày một tăng [5].
1.3.2 Tình hình sử dụng nước trong đời sống sinh hoạt:
Đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người sử dụng rất nhiều nước sinh hoạt. về
mặt sinh lý mỗi người cần 1-2 lít nước/ ngày. Và trung bình nhu cầu sử dụng nước
sinh hoạt của một người trong một ngày 10-15 lít cho vệ sinh cá nhân, 20-50 lít cho
làm cơm, 40-80 lít cho giặt bằng máy….
Thời gian qua, dân số nước ta không ngừng tăng nhanh, cho đến hết năm 2011, dân số
toàn quốc đã lên đến 87,8 triệu người, trong đó, số dân thành thị đã lên đến 27,9 triệu
người (chiếm khoảng 31,8% tổng số dân cả nước). Cùng với đó đời sống của người
dân ngày càng được cải thiện thì nhu cầu sử dụng nước trong sinh hoạt cần phải tăng
lên cả về số lượng và chất lượng [5].
1.4
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước tới
dung tích hiệu quả của hồ chứa:
Do đó để đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trước những thay đổi hiện nay thì dung
tích hiệu quả của hồ chứa phải tăng. Vấn đề tăng dung tích hiệu dụng là bao nhiêu
chúng ta cần phải đánh giá một cách kỹ lưỡng để từ đó đưa ra được các giải pháp hợp
lý nhất.
1.5
Kết luận chương 1:
Nội dung chương 1 đã giới thiệu sơ bộ về tình hình xây dựng tràn xả lũ ở Việt Nam.
Khái quát các kịch bản biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến quy mô,
nhiệm vụ cũng như hiệu quả khai thác của hồ chứa. Ngoài ra sự phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây khiến cho nhu cầu sử dụng nước
ngày một tăng cao dẫn đến những thay đổi về nhiệm vụ của hồ chứa hiện nay so với
thiết kế đặt ra ban đầu. Vì vậy việc tăng dung tích hiệu quả cho một số hồ chứa là rất
cấp thiết, khi cải tạo một công trình đầu mối ta phải tiến hành tính toán cải tạo đồng bộ
các hạng mục mà trong đó tràn xả lũ là một hạng mục quan trọng và không thể thiếu.
18
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ
NĂNG LÀM VIỆC CỦA TRÀN
2.1
Cơ sở lý luận tính toán thủy lực tràn:
Tính toán thủy lực là một nội dung quan trọng trong tính toán thiết kế tràn xả lũ. Nó
bao gồm các tính toán sau:
- Tính khả năng tháo để quyết định hình dạng kích thước khẩu độ tràn.
19
Nếu trên đỉnh đập có cửa van, khi không mở hết và nước chảy ở dưới của van
(hình 2.1), lưu lượng tháo qua tràn được tính theo biểu thức
Q=μεBa 2g(H 0 -αa)
(2-2)
Trong đó:
α – hệ số co hẹp đứng do ảnh hưởng của độ mở (Phụ lục 2-1);
a – độ mở cửa van;
μ=0.65-0.186
a
a
+(0.25-0.375) cosθ
H
H
Các ký hiệu xem (hình 2.1)
Khi cửa van mở hết hoàn toàn, biểu thức tính lưu lượng trở về dạng (2-1).
Hình 2. 1: Mặt cắt của đập tràn có cửa van.
Muốn tính Q theo biểu thức (2-1), cần phải xác định được các hệ số σn, ε và m.
Sau đây sẽ trình bày cách xác định các hệ số đó đối với các trường hợp cụ thể.
2.1.1.1 Hệ số ngập σn:
•