Khoá luận tốt nghiệp đặc trưng thể loại trữ tình hiện đại với việc đọc hiểu thơ trữ tình tố hữu trong nhà trường THPT - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRỮ TÌNH
HIỆN ĐẠI VỚI VIỆC ĐỌC - HlỂU THƠ
TRỮ TÌNH TỐ HỮU TRONG
NHÀ TRƯỜNG THPT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC








Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học
ThS.GVC vũ NGỌC DOANH

HÀ NỘI - 2010


MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại là một vắn đề được
đặt ra từ lâu trong thực tiễn giảng dạy văn học ở trường phố thông. Và trong
một thời gian dài, nó vẫn thường là băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi của phần lớn

học nêu vấn đề, phương pháp phát vấn trong giờ học văn. vấn đề là một thời
gian dài chúng ta dạy văn trên cơ sở lí thuyết hình tượng, chỉ ra các chi tiết,
mâu thuẫn tiêu biểu thể hiện tư tưởng tác pham. Trong lí luận, đó là vấn đề
văn bản văn học- đối tượng trực tiếp của sự đọc- hiểu chưa được coi trọng
đúng mức. Lí luận dạy học hiện đại đặt vấn đề đọc- hiểu văn bản lên hàng
đầu. Trước khi có hình tượng, học sinh phải làm việc với văn bản. Từ THCS
phương pháp đọc- hiếu đã được GS Nguyễn Khắc Phi đề xuất và vận dụng
một cách chính thức- đó là “Phương pháp dạy học sinh làm việc với văn bản
văn học từ ba phương diện: đọc theo dòng chữ, đọc giữa dòng chữ, đọc ngoài
dòng chữ. Ba cấp độ đó ứng với ba cấp độ của cấu trúc văn bản: ngôn từ, hình
tượng, ý nghĩa. Đó là tư tưởng sâu sắc” (SGV Ngữ văn 12 (thí điếm)(2004),
NXB Giáo Dục, tr. 176).
Mặt khác, mỗi tác phẩm văn chương lại tồn tại dưới một thể loại nhất
định (tự sự, trữ tình, kịch). Mỗi thể loại có đặc trưng riêng nên hướng tiếp cận
cũng khác nhau, v ấn đề giảng dạy theo đặc trưng thể loại được đánh giá là
phương pháp có nhiều triển vọng. Nó vừa tránh được những bất cập mà các
phương pháp khác tồn tại vừa đáp ứng được yêu cầu bức xúc đặt ra trong việc
giảng dạy tác phấm văn chương trong nhà trường.
Tố Hữu là nhà thơ xuất sắc và tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng. Thơ
ông gắn chặt với cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc ta suốt mấy chục năm
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh những nét lớn trong đời sống


tinh thần của dân tộc ở một thời kì đã diễn ra nhiều biến cố trọng đại và đổi
thay to lớn của lịch sử Việt Nam trong thế kỉ XX. Thơ Tố Hữu đã có sức cảm
hóa, chinh phục đông đảo quần chúng nhân dân trong một thời kì dài suốt
mấy mươi năm. Với vị trí và sức mạnh của mình, thơ Tố Hữu đã có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến những đặc điếm và xu hướng vận động của nền thơ ca.
Việc giảng dạy thơ hiện đại nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng trong nhà
trường phổ thông hiện nay vẫn còn nhiều bất cập khi cách dạy truyền thống

-“Đọc văn hiểu văn” của Trần Đình Sử.
-“Hiểu văn dạy văn” của Nguyễn Thanh Hùng.
Vấn đề đọc - hiểu tác phẩm trữ tình
Được nghiên cứu tập trung trong các công trình sau:
-“Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường” của
Nguyễn Thị Khánh Dư.
-“Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” của Trần Thanh
Đạm.
Song, qua khảo sát cho thấy hầu hết các công trình nghiên cứu trên chỉ
đưa ra một cách chung nhất về vấn đề đọc - hiểu các tác phẩm trữ tình mà
chưa chỉ rõ phương pháp giảng dạy tác phẩm trữ tình theo đặc trưng loại thể
vận dụng vào bài học thơ Tố Hữu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Thông qua việc trình bày những tri thức cơ bản về đặc trưng của thế loại
trữ tình, đặc trưng của thơ Tố Hữu, người viết muốn vận dụng vào việc tố
chức dạy học các tác phẩm thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ văn THPT.
Qua đó giúp học sinh tiếp nhận được cái hay, cái đẹp của các tác phẩm thơ Tố
Hữu.


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu, khảo sát các tài liệu về thể loại, đặc điểm về thể loại và thể
loại trữ tình, phương pháp đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại.
- Trên cơ sở đặc trưng đó và lý thuyết giảng dạy tác phẩm văn chương
trong nhà trường vận dụng đọc - hiếu các tác phấm thơ trữ tình Tố Hữu trong
chương trình THPT.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Lí thuyết tiếp nhận văn chương, vấn đề thể loại, đặc trưng thể loại trữ

3.1. Giáo án 1: Từ ấy - Tố Hữu.
3.2. Giáo án 2: Việt Bắc - Tố Hữu.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VÁN ĐỀ CHUNG
1.1. C ơ SỞ LÍ LUẬN.
1.1.1.vấn đề thể loại.
1.1.1.1.

Thể loại (Loại thể)

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thể loại:
- Theo “Từ điến Tiếng Việt” thì thế loại là hình thức sáng tác văn học,
nghệ thuật phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn
ngữ.
Theo các nhà lí luận, khái niệm thế loại được hiếu là: “Thế loại tác phấm
văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một
nội dung nhất định có hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức
chỉnh thể”[ 12,339]
Thực chất, khái niệm “thể loại” được hiểu là: sự gộp lại của hai khái
niệm “thể” và “loại”
“Loại” (loại hình): từ thời cổ đại, Aristot đã đề xuất khái niệm này. Loại
là phương thức nhà văn sử dụng để nhận thức, khám phá đời sống khách
quan, để tái hiện đời sống và sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật. Thông qua
hình tượng nghệ thuật ấy đế biếu hiện tư tưởng, tình cảm. Bao gồm ba loại
hình tiêu biểu cho ba phương thức sáng tác:
- Loại hình tự sự với phương thức tự sự
- Loại hình trữ tình với phương thức trữ tình
- Loại hình kịch với phương thức tạo xung đột và kịch tính

thức phản ánh và biếu hiện đó quy định. Neu hình tượng thiên về mặt biếu


hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ tình. Neu hình tượng
thiên về mặt biểu hiện con người, sự vật trong cuộc sống ta sẽ có tác phấm tự
sự. Tác phấm tự sự tập trung, cô đọng đến mức độ bản thân nhân vật, sự việc,
câu chuyện có thế tự mình bộc lộ trên trang sách hoặc trên sân khấu, không
cần sự “dẫn chuyện” của tác giả, như thế ta sẽ có tác phẩm kịch. Tự sự, trữ
tình, kịch là ba phương thức cơ bản nhất của sự phản ánh hiện thực cuộc sống
và biểu hiện nội tâm tác giả, ba phương thức cơ bản của sự cấu tạo hình
tượng, kiến trúc tác phấm văn học. Đồng thời đó cũng là ba loại cơ bản nhất
trong lòng mỗi loại và trên biên giới của mỗi loại sẽ nảy sinh rất nhiều các thế
khác nhau của sự sáng tác văn học.
Từ ba thể loại trên có thể chia nhỏ:
- Tự sự:
+ Tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện
cười.
+ Tự sự trung đại và hiện đại: truyền kì, tiểu thuyết, kí, truyện.
- Trữ tình:
+ Trữ tình dân gian: ca dao, câu đố.
+ Trữ tình trung đại và hiện đại: thơ cố thế truyền thống, thơ tự do.
- Kịch:
+ Kịch dân gian: chèo, tuồng, múa rối.
+ Kịch hiện đại: bi kịch, hài kịch.
Ở khóa luận này, người viết chỉ tập trung nghiên cứu thể loại trữ tình.
Tác phấm trữ tình là tác phấm phản ánh hiện thực đời sống thông qua
cảm xúc và tâm trạng. Cho nên các đặc trưng của tác phẩm trữ tình thường
tập trung thể hiện các chiều hướng cảm xúc, các trạng thái tình cảm, thông
qua đó đế tái hiện đời sống. Và bạn đọc chỉ có thể nhận ra đời sống thông qua
tâm trạng, cảm xúc của nhà văn được trình bày và sắp xếp theo một trật tự kế


Tiếp nhận văn học được hình thành từ Mĩ học tiếp nhận - một trong
những thành tựu của ngành xã hội học nghệ thuật với các nhà khoa học Tiệp
Khắc như Đônxen và Micô đã nghiên cứu khái niệm “Lí thuyết ngôn ngữ và
hoàn cảnh giao tiếp văn học”. Các nhà nghiên cứu văn học Ba Lan Ingacđen
đã tìm hiểu những khả năng khác nhau để lĩnh hội, lí giải tính chân thật của
tác phẩm văn học hoặc Glôvinxki, Hanđơke, Slavinxki, Bansêđan, ... trong số
các công trình nghiên cứu đó, công trình “Người tiếp nhận trong cấu trúc tác
phẩm văn học” Glôvinxki đã nghiên cứu phương thức xác định người nhận tin
trong tác phấm văn học và những yêu cầu của người nhận tin đã ảnh hưởng
đến tác phẩm. Tư tưởng khoa học của Glôvinxki được đánh giá là điểm xuất
phát của những công trình khoa học sau này tiếp tục nghiên cứu sự phân loại
độc giả và phân tích những điều kiện mà giao tiếp văn học xảy ra.
Tiếp nhận văn học có rất nhiều quan điếm và cách hiếu khác nhau. Theo
giáo trình “Lí luận văn học” (Nxb ĐHSP): tiếp nhận văn học là giai đoạn
hoàn tất quá trình sáng tác, giao tế của văn học. Người nghệ sĩ sáng tạo tác
phẩm văn học là truyền đạt những cảm nhận khái quát về cuộc đời cho người
đọc. Chỉ khi được bạn đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo mới được hoàn tất.
Thực chẩt của quá trình này là chuyến cảm xúc đến bạn đọc cộng hưởng cảm
xúc đó.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” : “tiếp nhận văn học là hoạt động
chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thấm mĩ của các tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự
cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan
niệm nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách
hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng của hoạt động sáng tạo, bản dịch,
chuyển th ể,...” [5,325].
Trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương”, GS. Nguyễn Thanh Hùng
quan niệm: “tiếp nhận văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng



độc đáo của những phát hiện, chân lí của những sự phản ánh, trọng lượng của
những xung đột, đặc trưng thi pháp thế loại, quan niệm nghệ thuật về con
người ở tác giả.
Tác phẩm văn học được sáng tác ra để bạn đọc thưởng thức, tiếp nhận.
Quy luật của tiếp nhận tác phẩm văn học là cảm thụ tác phẩm trên tổng thể,
trên chỉnh thế. Tác phẩm văn học bằng mọi chi tiết của nó, sáng tạo ra một thế
giới riêng, một xã hội riêng, một nhân loại riêng với tính hệ thống và những
quy luật của nó. Vì vậy, tiếp nhận văn học chính là sự phân ra được những
quy luật ấy. Nó đòi hỏi người đọc trước hết phải tri giác, cảm thụ tác phẩm
phải hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thế loại để có thể cảm nhận hình
tượng trong sự toàn vẹn các chi tiết các liên hệ. Sau đó, người đọc tiếp xúc
với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự
kết tinh sâu sắc tư tưởng và tình cảm của tác giả. Ở cấp độ tiếp theo, người
đọc phải đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm đời sống của
mình để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng nâng cấp, lí giải tác phẩm trong
lịch sử, văn hóa tư tưởng, đời sống và truyền thống, hiếu được vị trí tác phấm
trong lịch sử văn học, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật. Quá
trình tìm ra cách giải thích ý nghĩa tượng trưng của văn bản và ý định chủ
quan của tác giả chính là quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học.
Như vậy, sáng tác tác phẩm văn học là một quá trình. Tiếp nhận chân lí
nghệ thuật cũng là một quá trình. Tiếp nhận tác phẩm văn học vì thế thực sự
là một quá trình lâu dài có nhiều cấp độ, thực chất đó là một hoạt động tái tạo
và sáng tạo mới hình tượng nghệ thuật dựa theo đặc điểm cá nhân và cảm xúc
của từng người. Đó là quá trình tri giác tác phẩm cụ thể hóa, khái quát nghệ
thuật để hiểu được giá trị đích thực của tác phẩm.


Quá trình sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm văn chương mặc dù tồn tại độc
lập nhưng thống nhất và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Quá trình sáng
tạo chỉ kết thúc khi quá trình tiếp nhận được diễn ra và khi quá trình tiếp nhận

phải bao giờ cũng trùng khít với hiện thực ngoài đời sống vì văn học là hình
bóng của cuộc đời chứ không phải bản thân cuộc sống. Bởi cuộc sống trong
tác phấm văn chương là cuộc sống đã được chắt lọc qua lăng kính chủ quan
của người nghệ sĩ, đã được nhào nặn và sáng tạo lại. Nó vừa giống lại vừa
khác với cuộc đời thực. Hơn thế nữa, văn học cũng không chỉ là sự phản ánh
giản đơn của cấu trúc xã hội mà ở đó vai trò của nhà văn cùng cá tính sáng tạo
rất quan trọng. Theo TS. Nguyễn Trọng Hoàn đó là một quá trình tư duy ngôn
ngữ thầm lặng, là cả một quá trình gian khố tìm tòi ý tưởng, thối hồn vào từng
câu chữ ví như người lọc quặng Radium đầy khổ luyện và công phu thông
qua khả năng cảm thụ đời sống, sự hồi tưởng, óc tưởng tượng phong phú .
1.1.2.3.2. Cơ chế của hoạt động tiếp nhận

.

Hoạt động sáng tạo của nhà văn là một quá trình, vì vậy hoạt động tiếp
nhận cũng phải theo một quy trình nhất định và theo các bước sau:
a) Đoc (văn bản).
Đọc là sự khởi đầu cho tiếp nhận văn học. Đọc được coi là con đường
đặc trưng không thể thay thế trong việc tiếp nhận văn học. Bởi tác phẩm văn
học tồn tại dưới dạng văn bản văn học, đó là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ
trong đó chứa đựng thông tin. Chúng ta chỉ có thế tiếp nhận các thông tin ấn
chứa trong đó bằng phương pháp đọc. Đọc là con đường, là cách thức tiếp
nhận thông tin làm giàu sự hiểu biết, phục vụ cho học tập và cuộc sống. Đọc
chính là quá trình chuyến tải các kí hiệu ngôn ngữ ở dạng văn bản viết sang
những kí hiệu âm thanh. Đọc chính là quá trình khôi phục lớp vỏ âm thanh


trong tác phẩm. Đọc được coi là con đường đặc thù không thể thay thế. Với
mỗi bạn đọc khác nhau với đặc điếm tâm sinh lí lứa tuối, thời đại, nghề
nghiệp khác nhau sẽ có cách hiếu khác nhau. Đó thực sự là quá trình độc giả

Dạy tác phẩm văn chương làm rõ nghĩa và sự phong phú của ý. Nó được
bắt đầu từ dạy ý nghĩa của chi tiết, hình ảnh để tiến tới việc cắt nghĩa hình
tượng và cao hon là cắt nghĩa tác phấm. Mỗi tác phấm văn chương có ý nghĩa
nhất định. Nhưng mỗi cá nhân đọc hiếu về tác phấm lại có một cách cắt nghĩa
riêng. Chính điều đó tạo ra cái nhìn đa chiều của tác phẩm.
d) Bình giá tác phẩm.
Đây là bước cuối cùng trong tiếp nhận tác phấm. Bình là công việc mang
tính chủ quan của người đọc đưa ra ý kiến đánh giá, bày tỏ thái độ của mình
đối với tác phẩm .
Lời bình phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận, thái độ, quan hệ của người đọc
đối với tác phẩm và nhà văn.
Khái quát lại bình chính là đi giải quyết các câu hỏi được đặt ra xung
quanh tác tác phấm: Tác phấm có đóng góp gì đặc sắc? VỊ trí của tác phấm
trong nền văn học dân tộc thời đại? Tác phẩm còn hạn chế ở phương diện
nào?
1. ỉ.2.3.3. Những khó khẫn khỉ tiếp nhận tác phẩm vãn học.
Tác phẩm văn học tồn tại dưới dạng văn bản, đó là tập hợp các kí hiệu
ngôn ngữ. Việc tiếp nhận tác phẩm trước hết là tiếp xúc với tập hợp ngôn ngữ
đó. Chính vì vậy việc tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học gặp không ít khó
khăn mà người ta gọi là khoảng cách chuyên chế. Bao gồm các khoảng cách:
-

Khoảng cách về ngôn ngữ: trong tác phẩm văn học dù là lời kế chuyện

hay của nhân vật thì đó đều là ngôn ngữ của tác giả. Giữa ngôn ngữ độc giả


và ngôn ngữ tác giả không bao giờ trùng khớp, đó là khoảng cách bạn đọc
phải phá bỏ đế đến với tác phấm.
- Khoảng cách tâm lý: Phụ thuộc vào tâm lý của tác giả, tâm lý của người

Chẳng hạn “Truyện kiều” của Nguyễn Du, ngay nhan đề đã cho biết tác
phẩm này thuộc thể loại tự sự. Nhưng khi tìm hiểu tác phẩm này nếu chỉ dừng
lại ở việc tìm hiếu nhân vật, cốt truyện, các chi tiết biến cố trong cuộc đời
nhân vật Kiều thì sẽ không thấy hết giá trị của tác phấm. Mà bên cạnh tìm
hiểu những đặc trưng đó của thể loại, chúng ta phải tìm hiểu nghệ thuật sử
dụng ngôn từ của tác phẩm, phân tích những hình ảnh do ngôn ngữ gợi ra.
Tuy nhiên cùng một loại thế nhưng với những tác phấm khác nhau lại có
những cách giảng dạy và kết hợp những phương pháp khác nhau. Có như vậy
việc giảng dạy mới đạt kết quả. Và để nói về vấn đề này, Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã kêu gọi: “Phải xem xét lại cách dạy văn của chúng ta, chúng ta
phải suy nghĩ rất nhiều, rất kĩ, rất sâu để tìm ra cách dạy tốt hơn”. Thủ tướng
cụ thế: phải xem cần phải dạy như thế nào? dạy cái gì ? gợi cho học sinh cái
gì ? nhằm mục đích gì? ở đây chúng ta bàn đến vấn đề dạy tác phấm theo đặc
trưng thể loại, lẽ dĩ nhiên phải nắm chắc các đặc trưng của từng thể loại xem
nó là cái gì? ở thời kì nào? dân tộc nào?.
Đe góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng yêu cầu và mục
đích dạy văn trong thời đại hiện nay: Thầy giữ vai trò định hướng, điều khiển
lấy học sinh làm trung tâm và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh,
người viết đưa ra một hướng tiếp cận theo đặc trưnng thể loại.
1.3. VẤN ĐÈ ĐỌC - HIỂU
1.3.1. Khái niệm đọc - hiếu.
1.3.1.1. Đọc.


Theo “Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc”, quyển “Giáo dục” cho biết:
“Đọc là một quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu
ngôn ngữ được in hay viết” (SGK Ngữ văn 12(thí điểm) (2004), Nxb GD, H).
Xét về mặt triết học, đọc có bốn nội dung sau:
Một, đọc là một quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải
hiếu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ thế loại, ngôn ngữ

là hiểu nghĩa.
1.3.2. Mối quan hệ giữa đọc-hiểu.
Giữa đọc và hiểu có mối quan hệ khăng khít qua lại. Đọc luôn gắn liền
với hiếu. Theo Nguyễn Trọng Hoàn, đó là mối quan hệ nhân quả. Đọc hiểu
văn học là hoạt động đọc văn một cách nghiêm túc, cảm xúc, nghiền ngẫm,
tưởng tượng, liên tưởng.
Khái niệm đọc hiếu mang những định hướng dạy học cụ thể, tích cực
hơn so với khái niệm phân tích hay tìm hiếu. Nó đòi hỏi sự tích cực, chủ
động, sáng tạo của người đọc.
1.3.3. Đọc hiếu là con đường đặc trưng trong tiếp nhận văn học.
Lí luận dạy văn học hiện đại đặt vấn đề đọc hiểu văn bản lên hàng đầu.
Trước khi có hình tượng, người đọc phải làm việc với văn bản, tức là phải đọc
với ba phương diện: đọc theo dòng chữ, đọc giữa dòng chữ và đọc ngoài dòng
chữ. Ba cấp độ đó tương ứng với ba cấp độ trong cấu trúc văn bản : ngôn ngữ,
hình tượng, ý nghĩa.
Đọc là hoạt động giao tiếp giữa bạn đọc và nhà văn qua văn bản. Đọc là
hoạt động văn hóa đặc trưng của con người vãn minh. Đọc để tiếp nhận thông
tin và làm giàu vốn sống. Đọc để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ và giao tiếp. Đọc
là phương pháp lĩnh hội tri thức với các môn học, các khoa học. Đọc có vai
trò đặc biệt, nó là phương pháp đặc trưng trong dạy tác phấm văn học vì tác
phẩm văn học là nghệ thuật ngôn từ.


CHƯƠNG 2:
ĐẶC TRƯNG THẺ LOẠI TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI VỚI VIỆC ĐỌC HIẺU THƠ TRỮ TÌNH TÓ HỮU TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT

2.1- ĐẶC TRƯNG THO TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI
2.1.1. Khái niệm thơ trữ tình hiện đại
2.1.1.1. Thơ trữ tình là gì ?
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thế loại trữ tình.

Jacôpsơn khi nghiên cứu về trữ tình đã cho rằng: “Thơ là gì ? đó là sự lắp đặt
đều đặn các đơn vị tương đương trên chuỗi kế cận hay thơ là sự chiếu nguyên
lí của trục lựa chọn lên trục phối hợp. Các đon vị tương đương có thế thuộc
về một bình diện ngôn ngữ : âm vị, âm tiết, ngữ âm ,...” (Trịnh Bá Đĩnh
(2002), Chủ nghĩa cấu trúc văn học, NXBHN).
Trong cuốn ‘Thi pháp hiện đại”, GS Đỗ Đức Hiểu đã đưa ra một quan
điếm rất mới mẻ và trữ tình: “Trên trang giấy thơ có nhiều khoảng trắng trên
không gian trong thơ. Lâu đài thơ là một khối kiến trúc đầy âm vang và mang
trong mình chất nhạc tràn đầy”. Theo ông, đặc trưng của thơ trữ tình là sự
trùng điệp, nhịp điệu, ngữ nghĩa.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: ‘T hơ trữ tình là thuật ngữ cho chung
các thế thơ thuộc loại trữ tình trong đó cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc
nhân vật trữ tình trước các hiện tượng được thế hiện ra một cách trực tiếp
[5,317].
2.1.1.2. Thơ trữ tình hiện đại là g ì?
Thuật ngữ “hiện đại” xét trong phạm vi văn học: nó chính là quá trình
hiện đại hóa của văn học Việt Nam kéo dài từ năm 1932 cho đến nay và trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Thơ trữ tình hiện đại là thể loại trữ tình gắn liền với sự phát triển của nó
là “hiện đại”. Nó được viết dưới hình thức tự do, nằm trong hệ thống từ thế kỉ
XX cho đến nay.


Thơ trữ tình Việt Nam hiện đại được giới hạn bởi tác phẩm thơ trữ tình
thuộc quá trình văn học Việt Nam hiện đại như thơ mới, thơ kháng chiến và
các tác phấm trữ tình sau khi kết thúc kháng chiến chống Mĩ (1975) đến nay.
2.1.2 - Đặc trưng của thơ trữ tình hiện đại.
Thể loại trữ tình gồm 3 đặc trưng cơ bản: nội dung trữ tình, nhân vật trữ
tình, ngôn ngữ trữ tình. Đây là cơ sở lý luận, là lý thuyết chung đế soi chiếu
vào các tác phẩm trữ tình. Căn cứ vào những đặc trưng thể loại nói chung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status