BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Tâm
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC
TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN GHI NHỚ CÓ
CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Tâm
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC
TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN GHI NHỚ CÓ
CHỦ ĐỊNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
Chuyên ngành : Giáo dục học (Mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM PHƯỚC MẠNH
khóa 23 đã hợp tác và chia sẽ kiến thức.
Cuối cùng, tác giả gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, động viên tác giả
trong suốt quá trình nghiên cứu.
Bình Dương, tháng 9 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Tâm
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ...............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ..................................................................3
5. Giả thuyết khoa học của đề tài .........................................................................4
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu .......................................................................4
7. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................4
8. Đóng góp mới của đề tài ...................................................................................5
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ
CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN GHI NHỚ CÓ CHỦ
ĐỊNH
3.1. Cơ sở định hướng cho việc đề xuất các biện pháp tổ chức trò chơi học tập
nhằm phát triển ghi nhớ có chủ định cho trẻ mẩu giáo 5-6 tuổi ...........................72
3.2. Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm phát triển ghi nhớ có chủ
định cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ..............................................................................73
3.3. Thực nghiệm một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm phát triển ghi
nhớ có chủ định cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ...........................................................83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.............................................................. 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................... 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 110
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
%
Tỷ lệ phần trăm
N
Tần số
ĐC
Đối chứng
TN
Thực nghiệm
GVMN
Bảng 2.2.
Kết quả khảo sát biểu hiện ghi nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi khi chơi trò chơi học tập .......................................................... 41
Bảng 2.3.
Bảng 2.4.
Nhận thức của giáo viên về đặc trưng của trò chơi học tập .................. 45
Nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò của TCHT đối với sự
phát triển ghi nhớ có chủ định cho trẻ 5-6 tuổi ..................................... 46
Bảng 2.5.
Bảng 2.6.
Bảng 2.7.
Bảng 2.8.
Bảng nhận thức của giáo viên mầm non về các yếu tố quan trọng
khi tổ chức trò chơi học tập nhằm phát triển ghi nhớ có chủ định
cho trẻ 5-6 tuổi....................................................................................... 49
Mức độ quan trọng của các khâu trong tổ chức trò chơi học tập
của giáo viên mầm non .......................................................................... 51
Xếp hạng các nguyên nhân ảnh hưởng đến ghi nhớ có chủ định
của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi chơi trò chơi học tập ............................... 53
Một số hạn chế của giáo viên ảnh hưởng đến ghi nhớ có chủ định
của trẻ 5-6 tuổi khi chơi trò chơi học tập .............................................. 57
Bảng 2.9. Những hạn chế của trẻ liên quan đến ghi nhớ có chủ định ................... 58
Bảng 2.10. Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng các biện pháp tổ chức
Biểu đồ 3.4.
Điểm trung bình các tiêu chí đánh giá của nhóm thực nghiệm
trước và sau thực nghiệm ................................................................ 104
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng bậc
GDMN, xác định nhiệm vụ GDMN là thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp Một.
Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi
để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ.
Vì vậy, “Chơi mà học, học mà chơi”, đó là nét đặc trưng trong hoạt động học tập
của trẻ mẫu giáo. Việc chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí cho trẻ học tập ở trường
phổ thông là nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất của giáo dục mẫu giáo, đặt biệt là ở
độ tuổi mẫu giáo lớn. Tính chủ định của các quá trình tâm lí, đặc biệt là trí nhớ có
chủ định giữ một vị trí quan trọng đối với sự chuẩn bị tâm lí cho trẻ MG 5-6T vào
học ở trường phổ thông. Do vậy, phát triển trí nhớ có chủ định ở trẻ MG 5-6T là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mẫu giáo.
Linsovkop - nhà sinh học nổi tiếng của Nga đã từng nói tất cả căn nguyên của
trí tuệ chính là trí nhớ, trí nhớ là “điều kiện căn bản của mọi hoạt độ000ng tâm lí”
[30, tr.226]. Như vậy, trí nhớ là phương thức cơ bản để tích lũy tri thức và
kinh nghiệm, không có trí nhớ hoạt động tri thức của con người cũng không thể
diễn ra. Q I.M.Xêtrênốp cho rằng trí nhớ là “điều kiện cơ bản của cuộc sống tâm lí”,
là “cơ sở của sự phát triển tâm lí”, “nếu không có trí nhớ thì các cảm giác, tri giác
thỏa mãn ngày càng lớn hơn do sự nỗ lực về trí tuệ mang lại. Tính tích cực nhận
thức của trẻ được thể hiện ở sự mong muốn hiểu biết cái mới do chính trò chơi tạo
ra, do người dẫn dắt và chính đứa trẻ độc lập thực hiện nhiệm vụ nhận thức dưới
hình thức chơi vui vẻ, thú vị. Ngay trong TCHT đã chứa đựng những điều kiện cần
thiết để phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, đặc biệt là trẻ MG 5-6T chuẩn bị vào lớp
Một. Chính vì thế TCHT được sử dụng như một phương tiện dạy học có hiệu quả
cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào trường phổ thông.
TCHT bao giờ cũng có mục đích và đem lại kết quả nhất định, nếu mục đích và kết
quả trùng nhau sẽ tạo ra ở trẻ xúc cảm và tình cảm tốt, thúc đẩy tính tích cực của trẻ
do đó giúp trẻ nhớ tốt hơn. TCHT đòi hỏi trẻ giải quyết các nhiệm vụ chơi và tuân
thủ đúng luật chơi, do đó trẻ phải ghi nhớ một cách có chủ định và có được những
3
thủ thuật nhớ nhanh và chính xác. Mặt khác, sự hấp dẫn và tính hài hước của trò
chơi làm cho trẻ say mê và giảm bớt căng thẳng trí óc.
Thế nhưng trong thực tế, ở nhiều trường mầm non hiện nay, mảng TCHT chưa
được khai thác, chưa được đầu tư đúng mức. Các TCHT ở các giờ chơi tự do còn
đơn điệu, nghèo nàn làm cho trẻ không thích loại trò chơi này. Bên cạnh đó, trên tiết
học giáo viên thường sử dụng TCHT như một phương tiện củng cố giờ học nhưng
cũng chưa đảm bảo đầy đủ các yếu tố đặc trưng của trò chơi, chưa chú trọng phát
triển khả năng này của trẻ trong quá trình giáo dục: Việc tổ chức TCHT của giáo
viên cứng nhắc làm mất đi tính hấp dẫn vốn có của trò chơi, do đó làm giảm tính
tích cực của trẻ, giảm tác dụng giáo dục của TCHT. Xuất phát từ những lí do trên,
việc chọn đề tài: “Biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm phát triển ghi nhớ có
chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” giúp GVMN lựa chọn và sử dụng có hiệu quả
một số biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát triển GNCCĐ cho trẻ.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các biện pháp tổ chức TCHT của GVMN nhằm
6.2. Về địa bàn nghiên cứu
Đề tài khảo sát 140 trẻ MG 5-6T và 28 GVMN đang phụ trách trẻ MG 5-6T
của 3 trường: Trường Mầm non Sơn Ca, trường Mầm non 13-3, trường Mầm non
Minh Tân, trường Mẫu giáo Thanh Tuyền tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương về
mức độ biểu hiện GNCCĐ của trẻ mẫu giáo và biện pháp tổ chức TCHT của
GVMN.
Thực nghiệm một số biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát triển GNCCĐ cho trẻ
MG 5-6T tại trường Mầm non Sơn Ca, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Khái niệm công cụ: Hệ thống hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận như:
Trí nhớ, trí nhớ có chủ định, GNCCĐ, trò chơi, TCHT của trẻ MG5-6T, đặc điểm
GNCCĐ của trẻ MG 5-6T.
Khái niệm nghiên cứu: Biện pháp tổ chức TCHT và biện pháp tổ chức TCHT
nhằm phát triển GNCCĐ của trẻ MG 5-6T.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát biểu hiện GNCCĐ của trẻ MG 5-6T trong TCHT và thực trạng việc
sử dụng các biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát triển GNCCĐ cho trẻ MG 5-6T
của GVMN.
5
7.2.2 Phương pháp thực nghiệm
Thử nghiệm một số biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát triển GNCCĐ cho
trẻ MG 5-6T.
7.2.3 Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức của GVMN đang phụ trách trẻ
MG 5-6T để khảo sát thực trạng phát triển GNCCĐ của trẻ MG 5-6T khi chơi
nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu. Có thể đề cập đến những nghiên cứu sau:
Mak.Ghitr (1943) trong các nghiên cứu của mình đã kết luận: Mục đích có tính
chất quyết định trong ghi nhớ chủ định, ông cho rằng, sự chỉ dẫn và mục đích nhớ
có hiệu quả hơn là mục đích quan sát đơn giản. Thực nghiệm của Mado cũng đã
chứng minh rằng: Sự phân loại tài liệu, tìm kiếm tích cực các biện pháp nhớ, dẫn
đến nhớ tốt hơn là tri giác thụ động, mục đích nhớ có chủ định là rõ ràng - chúng
được xác định bằng các chỉ dẫn cần nhớ [42].
J. Pascual và M.A. Lindberg (1989) đã chứng minh rằng sức chứa của “trí nhớ
làm việc” sẽ tăng lên theo sự tích cực làm việc của con người, đặc biệt ở trẻ em có
nhiều “ngăn nhớ” hơn, trẻ ghi nhớ hàng loạt các đồ vật, đồ chơi, đồ dùng…Khi “trí
nhớ làm việc” phát triển thì các “ngăn nhớ” trở nên tự động hóa [40, 42, 43].
Trong bài giảng “Trò chơi và vai trò của nó trong sự phát triển tâm lí của trẻ
em”(1933), L.X.Vưgotxki cho rằng: Hoạt động của trẻ quyết định sự phát triển trí
tuệ của nó, cụ thể là hoạt động bên ngoài (trò chơi) quyết định sự phát triển tâm lí
trẻ (tạo ra “Vùng phát triển gần nhất”). Chính hoạt động vui chơi là hoạt động chủ
đạo của trẻ [6, tr.50 - 52].
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí nhớ và trí nhớ có chủ định
của trẻ mẫu giáo, đa số các công trình nghiên cứu trên đều xem mục đích có tính
chất quyết định trong trí nhớ có chủ định và quá trình trí nhớ bao giờ cũng có sự
tham gia của quá trình nhận thức.
7
L.M.Glidden (1957) đã nghiên cứu vai trò của mục đích trong học thuộc lòng.
Ông thực nghiệm với tài liệu ghi nhớ là 12 số được đọc qua bằng cho 3 nhóm thực
nghiệm. Nhóm 1: Nhớ không chủ định (trẻ được giao nhiệm vụ phải nhận xét
giọng đọc), nhóm 2: Đặt nhiệm vụ nhớ và cũng nhận xét giọng đọc, nhóm 3: Nhớ
có chủ định các số, không đánh giá giọng đọc. Kết quả: Nhóm 1: Trẻ nhớ thấp nhất,
nhóm 3: Trẻ nhớ cao nhất. Ông kết luận: Mục đích ảnh hưởng đến kết quả nhớ là
điều kiện quan trọng nhất để trẻ thâm nhập vào lĩnh vực của các quan hệ xã hội và
mô hình hóa chúng trong trò chơi theo một kiểu riêng. Làm sáng tỏ vai trò chủ đạo
của họat động vui chơi đối với sự phát triển tâm lí của trẻ mẫu giáo [10, tr.25 - 26].
U. Bronfenbrenner và S.J. Ceci (1995) cho rằng: Trò chơi có một vai trò quan
trọng trong trí nhớ của trẻ, trẻ thực hiện nhiệm vụ nhớ tốt nhất khi chúng tham gia
vào các trò chơi [41, 42,43].
Những quan điểm trên đã có ảnh hưởng lớn đối với việc xây dựng lí luận về trò
chơi và đưa trò chơi vào việc giáo dục trẻ em của các nước trên thế giới và làm sáng
tỏ vai trò chủ đạo của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển tâm lí của trẻ mẫu
giáo.
Nghiên cứu về TCHT của trẻ mẫu giáo trong những năm gần đây, các nhà nghiên
cứu tập trung nghiên cứu trò chơi theo chiều hướng mới là nghiên cứu các điều
kiện, biện pháp hình thành và phát triển các trò chơi của trẻ mẫu giáo. Trong đó,
nhà nghiên cứu A.I. Xôrôkina (1970) đã đưa ra nội dung các TCHT và tổ chức
chúng nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo [14, tr.26].
Vấn đề dạy trẻ nhớ như thế nào thông qua TCHT được L.M. Dưtnhicôva (1995)
cho rằng sự ghi nhớ của trẻ đầy đủ, chính xác và dễ tái hiện phụ thuộc vào quá trình
tổ chức ghi nhớ ra sao. L.M. Dưtnhicôva khẳng định: Sự phân loại, phân nhóm là
một trong cách thức GNCCĐ hiệu quả nhất, nhiệm vụ của giáo dục là hình thành ở
trẻ cách thức ghi nhớ. R. Siegler (1998) lại nhấn mạnh: Khả năng nhớ của trẻ không
chỉ phụ thuộc vào khả năng tạo ra cách nhớ mà còn phụ thuộc vào sự rèn luyện cách
nhớ [14, tr.19].
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu như: D.V. Mengiêritskaia (1982) “TCHT như là
phương tiện dạy học và giáo dục trẻ em”, E. Pratôxôva (1990) “Các TCHT - xem
xét chúng như thế nào”, B.I.Lôginôva (1988) “Trò chơi với nội dung và quy tắc có
sẵn”, M.A.Vaxilieva (1986) “Hướng dẫn trò chơi trẻ em”, E.Zvorưgina (1988)
“Những điều kiện sư phạm cần thiết để hình thành trò chơi ở trẻ mẫu giáo”, …Các
9
trẻ ở lứa tuổi này còn mang đậm yếu tố cảm xúc và hình ảnh thể hiện qua việc nhớ
10
từ gắn với sự vật hiện tượng cụ thể, việc ghi nhớ và nhớ lại ở trẻ còn máy móc, theo
trình tự đã có sẵn thể hiện qua việc ghi nhớ và nhớ lại theo khuôn mẫu ngôn ngữ
logic có sẵn [17].
Nghiên cứu về “Ảnh hưởng của trò chơi đóng vai lên trí nhớ có chủ định của trẻ
mẫu giáo” của tác giả Lê Thị Minh Hà (1997) đã khẳng định hiệu quả giáo dục của
trò chơi đóng vai đối với sự phát triển trí nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo[12].
Vào năm 2002, tác giả Lê Thị Minh Hà đã nghiên cứu “Những điều kiện tâm lí
của việc tổ chức TCHT nhằm nâng cao chất lượng trí nhớ có chủ định ở trẻ 5-6
tuổi” cho thấy khi tổ chức TCHT phải vận dụng tổ hợp cả ba điều kiện tâm lí: Tính
mục đích và tâm thế; mục đích, sự cố gắng và khả năng tự kiểm tra; mục đích và
cách thức nhớ thì sẽ nâng cao được trí nhớ có chủ định của trẻ MG 5-6T [14].
Nghiên cứu “Tìm hiểu khả năng GNCCĐ qua tranh của trẻ mẫu giáo lớn 5-6
tuổi” là một nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Phương (2004) đã khẳng định trẻ MG
5-6T có khả năng ghi nhớ sự vật hiện tượng theo mục đích yêu cầu đặt ra.
GNCCĐ của trẻ chịu ảnh hưởng của môi trường giáo dục, cụ thể là tranh ảnh
đẹp, màu sắc tươi sáng, có nội dung phong phú, hấp dẫn, gần gũi với trẻ thì khả
năng GNCCĐ của trẻ được phát triển theo hướng tốt [20].
Ngoài các nghiên cứu về trí nhớ của trẻ mẫu giáo còn có nghiên cứu về khả năng
GNCCĐ qua tranh của trẻ MG 5-6T của Hoàng Thị Thu Phương. Tuy nhiên, các
nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo,
những yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất trí nhớ của trẻ mẫu giáo, những điều kiện
tâm lí nâng cao chất lượng trí nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo nhưng chưa có
nghiên cứu nào đi sâu vào việc nghiên cứu biện pháp tổ chức TCHT nhằm phát
triển GNCCĐ của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ MG 5-6T nói riêng.
Năm 2000, bài viết “Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
5-6T.
Nghiên cứu “Một số trò chơi trí tuệ nhằm nâng cao mức độ trí tuệ nhận thức của
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” của Huỳnh Văn Sơn (2004), cho rằng GVMN cần phải sử
dụng TCHT chuyên biệt để phát triển nhận thức cho trẻ MG 5-6T [24].
Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2005) trong bài viết “Thử nghiệm hệ thống TCHT
nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”, khẳng định hệ
thống TCHT đã thử nghiệm có giá trị hết sức đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả
phát triển trí tuệ cho trẻ MG 5-6T [25].
12
Các nghiên cứu trò chơi của các tác giả như Ngô Công Hoàn, Lê Minh Thuận,
Đào Thanh Âm đã đề cập đến cách tiếp cận trò chơi và tổ chức trò chơi cho trẻ mẫu
giáo.
Các nghiên cứu trên cho thấy rõ vai trò quan trọng của TCHT đối với sự
phát triển nhận thức của trẻ MG 5-6T. Ở lứa tuổi này, môi trường hoạt động
phù hợp cùng với sự tác động có hệ thống của người lớn mà đặc biệt là GVMN là
người có tác động mạnh mẽ đến trẻ sẽ phát huy hết tiềm năng của trẻ. Sự tác động
này đã được nghiên cứu hầu hết trong hoạt động vui chơi ở trường mầm non mà chủ
yếu thường thấy trong nghiên cứu là phát triển tư duy cho trẻ trong TCHT. Việc
phát triển khả năng GNCCĐ cho trẻ trong TCHT vẫn chưa được nghiên cứu một
cách hệ thống.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về trò chơi ở Việt Nam vẫn còn thiếu những công
trình nghiên cứu cơ bản về sự hình thành trò chơi ở trẻ em Việt Nam, thiếu những
nghiên cứu ứng dụng một cách hệ thống các phương pháp tổ chức, hướng dẫn trò
chơi và các biện pháp tác động nhằm phát huy vai trò của trò chơi, nhất là TCHT
nhằm phát triển GNCCĐ cho trẻ nhất là trẻ MG 5-6T. Vì vậy, nghiên cứu này tập
trung vào việc thử nghiệm một số biện pháp tổ chức TCHT phù hợp với đặc điểm
GNCCĐ của trẻ MG 5-6T khi chơi loại trò chơi này.
lại hay nhận thức những điều mà con người đã lĩnh hội (tiếp thu), đã rung động hay
đã hành động [17, tr. 32.]
Những định nghĩa trên cho thấy, trí nhớ là quá trình được diễn ra và gắn liền với
toàn bộ cuộc sống và hoạt động của con người.
Trong nghiên cứu này, khái niệm trí nhớ được hiểu như sau: Trí nhớ là quá trình
nhận thức phản ánh kinh nghiệm của cá nhân là sự ghi lại, giữ lại và tái hiện lại
những gì cá nhân thu được trong hoạt động sống.
Có nhiều cách phân tích về quá trình cơ bản của trí nhớ. Tuy nhiên, những quá
trình sau là những quá trình cơ bản nhất được đề cập ở nhiều quan điểm khác nhau.
a. Quá trình ghi nhớ
Ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết, “ấn tượng” của đối tượng mà ta đang tri
giác (tức là tài liệu phải ghi nhớ) trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trình hình thành
mối liên hệ giữa tài liệu mới và tài liệu cũ đã có, cũng như mối liên hệ giữa các
bộ phận của bản thân tài liệu mới với nhau.
14
Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2012) đã khẳng định: Ghi nhớ là quá trình ghi lại và giữ
lại trong não con người những hình ảnh của sự vật, hiện tượng trong quá trình tri
giác.
Dựa vào tính mục đích của quá trình ghi nhớ người ta chia ra ghi nhớ không
chủ định và ghi nhớ có chủ định.
Ghi nhớ không chủ định là loại ghi nhớ được tiến hành mà không cần phải đề ra
mục đích ghi nhớ từ trước, không cần dùng một cách thức nào để giúp cho sự
ghi nhớ được dễ dàng, không đòi hỏi sự nỗ lực của ý chí.
Độ bền vững của ghi nhớ không phụ thuộc vào mức độ cảm xúc mạnh mẽ,
thỏa mãn nhu cầu và mức độ hứng thú của cá nhân; phụ thuộc vào màu sắc, sự di
động và những đặc điểm khác nhau của đối tượng; liên quan đến mục đích và nội
dung cơ bản của hoạt động của bản thân.
phụ thuộc vào mức độ bền vững của ghi nhớ và sự giống nhau của các kích thích cũ
và mới.
Nhớ lại là quá trình làm xuất hiện lại trong não những hình ảnh của sự vật và
hiện tượng con người đã tri giác trước đây, mà hiện tại sự vật hiện tượng đó không
còn trực tiếp tác động vào các giác quan và não nữa. Nhớ lại bao gồm hồi tưởng và
hồi ức. Hồi tưởng là nhớ lại một cách có chủ định. Hồi ức là nhớ lại những hình ảnh
cũ được khu trú trong không gian, thời gian nhất định.
Sự nhớ của con người chịu sự chi phối của các quy luật sau:
- Con người thường nhớ tốt, sâu sắc ở những thời điểm đầu và cuối của một
quá trình hoạt động.
- Con người thường nhớ tốt, sâu sắc ở những thời điểm có những biến cố quan
trọng trong cuộc đời, khi có cảm xúc mạnh mẽ.
- Ý thức được sự cần thiết phải nhớ, có mục đích.
- Nhớ những gì có liên quan đến cuộc sống, nhu cầu, hứng thú và nghề nghiệp
của bản thân.
- Biết tổ chức hoạt động trí nhớ của mình.
- Biết đem vận dụng những điều đã lĩnh hội vào thực tiễn [26, tr.108 - 109].
1.2.1.2. Khái niệm về trí nhớ có chủ định và ghi nhớ có chủ định
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn – Trần Hữu Luyến – Trần Quốc Thành (2000)
cho rằng trí nhớ có chủ định là trí nhớ có mục đích khi ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện
cái gì đó. Ở đây con người thường dùng các biện pháp kĩ thuật để ghi nhớ. Trí nhớ
này có sau trí nhớ không chủ định ở trong đời sống cá thể, nhưng ngày càng tham
16
gia nhiều hơn vào quá trình tiếp thu tri thức. Trong hoạt động, trong công việc,
trong nhiệm vụ, trí nhớ có chủ định giữ một vai trò hết sức to lớn [36, tr.117]
Các tác giả như Phạm Minh Hạc, Lê Khanh và Trần Trọng Thủy (1988) khẳng
định: Khi người ta đặt ra mục đích phải ghi nhớ một cái gì đó, chúng ta có trí nhớ