biểu tượng nghệ thuật trong thơ xuân diệu - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đoàn Thị Hồng Sương

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ XUÂN DIỆU

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đoàn Thị Hồng Sương

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ XUÂN DIỆU
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5
2. Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài ................................. 6
3. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 6
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 9
5. Những đóng góp dự kiến .............................................................................................. 11
6. Cấu trúc của luận văn: ................................................................................................. 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................. 12
1.1. Khái niệm biểu tượng ................................................................................................ 12
1.1.1. Biểu tượng .............................................................................................................12
1.1.2. Biểu tượng văn hóa ...............................................................................................16
1.1.3. Biểu tượng văn học ...............................................................................................17
1.2. Biểu tượng nghệ thuật trong thơ .............................................................................. 21
1.3. Hành trình sáng tác và những đóng góp về thơ của Xuân Diệu trong nền thơ ca
dân tộc ................................................................................................................................ 32
1.3.1. Hành trình sáng tác của Xuân Diệu .......................................................................32
1.3.2. Những đóng góp về thơ của Xuân Diệu trong nền thơ ca dân tộc ........................35

CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG
THƠ XUÂN DIỆU..................................................................................................... 37
2.1. Biểu tượng Mùa xuân ................................................................................................ 37
2.1.1. Mùa xuân trong thơ ...............................................................................................37
2.1.2. Mùa xuân trong thơ Xuân Diệu .............................................................................39
2.2. Biểu tượng Hoa .......................................................................................................... 50
2.2.1. Hoa trong thơ.........................................................................................................50
2.2.2. Hoa trong thơ Xuân Diệu ......................................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu biểu tượng ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nghiên cứu biểu tượng văn học chiếm một phần quan
trọng. Khi nghiên cứu thơ ca người ta không thể bỏ qua nghiên cứu về hệ thống biểu tượng
trong tác phẩm. Bởi các biểu tượng nghệ thuật ấy có vị trí to lớn trong việc giúp người
nghiên cứu dễ dàng tiếp cận với tác phẩm, dễ dàng nắm bắt thế giới nghệ thuật của nhà văn,
và tất nhiên cũng sẽ dễ dàng hiểu một cách hoàn chỉnh nhất về thông điệp mà tác giả muốn
gởi đến. Từ đó, người nghiên cứu còn hiểu thêm về phong cách của tác giả, về nét văn hóa
đặc trưng của đất nước, của dân tộc. Chính vì vậy, để nhìn nhận đúng đắn và có cơ sở khoa
học về giá trị của tác phẩm và vai trò của nhà văn trong nền văn học dân tộc rất cần sự khảo
sát, đánh giá, phân tích cấu trúc biểu tượng trong các tác phẩm thơ ca. Và trong những năm
gần đây, vấn đề biểu tượng nghệ thuật, cấu trúc biểu tượng trong tác phẩm văn chương đã
được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm. Với tư cách là một
tín hiệu của thời gian, biểu tượng nghệ thuật mang truyền thống văn hóa của dân tộc, nối kết
nhân loại và gắn liền với phong cách nhà văn. Trong văn học biểu tượng xuất hiện như một
tất yếu của tư duy sáng tạo, thủ pháp nghệ thuật và khơi gợi những ý nghĩa sâu xa. Tuy ở
Việt Nam công việc nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca chỉ mới bắt đầu nhưng đã hứa hẹn
nhiều triển vọng.
Phong trào thơ Mới 1932 – 1945 đã gây tiếng vang và đánh dấu một bước chuyển
mình của to lớn của thơ ca dân tộc. Quả thật, văn học Việt Nam giai đoạn này đã mang đến
những thành tựu vô cùng đặc sắc. Nhất là về thơ với hàng loạt các tên tuổi để lại dấu ấn
không phai với thời gian như: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan
Viên, Nguyễn Bính,… Và nhà thơ Xuân Diệu góp một phần không nhỏ vào “Một thời đại
thi ca” đó với một phong cách thơ rất riêng. Đặc biệt ở mảng thơ ca, nhất là thơ tình yêu
dường như Xuân Diệu vẫn chiếm vị trí số một trong lòng người đọc. Và giai đoạn từ sau
Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu vẫn có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt
Nam hiện đại. Việc nghiên cứu tác phẩm thơ của Xuân Diệu cũng không phải là một vấn đề
mới mẻ. Thế nhưng việc nghiên cứu tác phẩm thơ Xuân Diệu một cách hoàn chỉnh cả giai

xa rời vấn đề. Phạm vi đề tài luận văn “Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu” là các
tập thơ của Xuân Diệu: Thơ Thơ, Gửi hương cho gió, Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông,
Dưới sao vàng, Sáng, Mẹ con, Ngôi sao, Riêng chung, Mũi Cà Mau – Cầm tay, Một khối
hồng, Hai đợt sóng, Tôi giàu đôi mắt, Hồn tôi đôi cánh, Thanh ca.

3. Lịch sử vấn đề

6


Để biên soạn mục này chúng tôi đã khảo sát các công trình và một số bài báo nghiên
cứu về biểu tượng trong thơ ca và trong tác phẩm thơ Xuân Diệu. Trong phần bày, chúng tôi
xin trình bày theo từng vấn đề và theo trình tự thời gian như sau:
3.1. Một trong số những tài liệu có giá trị khi đề cập đến vấn đề biểu tượng nghệ
thuật là các bài viết “Các biểu tượng trong nghệ thuật”, bài “Khám phá các biểu tượng
trong văn học” của tác giả Raymond Firth, Đinh Hồng Hải dịch. Các bài nghiên cứu này đã
mang đến phần nào cái nhìn rõ hơn về biểu tượng nghệ thuật. Ở Việt Nam, có rất nhiều các
nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và không chuyên đề cập đến vấn đề biểu tượng nghệ thuật.
Vũ Ngọc Phan trong bộ sách Tục ngữ, ca dao, dân ca đã có đề cập đến vấn đề biểu tượng
trong ca dao. Ông cho rằng: “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam
về cuộc đời: đời người với con cò và con bống”. Trong bài “Về việc nghiên cứu thi pháp
văn học dân gian” đăng trên tạp chí Văn học năm 1981, Chu Xuân Diên cho rằng: “Việc
nghiên cứu thi pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng
lẻ như phép so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ…” [tr.22]. Ông đã đặt ra vấn đề
nghiên cứu thi pháp văn học dân gian nhiều góc độ trong đó có biểu tượng thơ ca.
Một số luận án triển khai liên quan đến biểu tượng nghệ thuật cũng đã khẳng định
được ý nghĩa thực tiễn của nó. Tiểu biểu là các công trình nghiên cứu của Trương Thị Nhàn.
Năm 1991, trên Tạp chí Văn hóa dân gian, Trương Thị Nhàn có bài viết về Giá trị biểu
trưng của một số vật thể nhân tạo trong ca dao. Tác giả đã tìm hiểu về ý nghĩa biểu trưng
của các vật thể như: khăn, áo, giường, chiếu, … và cho rằng khả năng biểu trưng văn hóa

thịnh. Ông viết: “Hạt nhân của cấu trúc nghệ thuật thơ Xuân Diệu là hình tượng cái tôi cá
nhân với những quan điểm về cuộc đời, với tư thế trữ tình độc đáo…” [tr.225]. Năm 2007,
luận án “Tìm hiểu phương thức ẩn dụ trong tiếng Việt” (thể hiện qua ca cao trữ tình, thơ tình
Xuân Diệu và thơ tình Xuân Quỳnh) cũng có khảo sát một số hình ảnh làm cơ sở liên tưởng
theo phương thức ẩn dụ trong thơ tình Xuân Diệu như: hoa, tháng giêng, lá, cành, máu,…
Tác giả cũng đã chia các hình ảnh đó theo các nhóm khác nhau:
-

“Các hiện tượng tự nhiên: mây, gió, trăng, sao, trời đất, nắng mưa, ngày, đêm, …

-

Các đồ dùng như: thuyền, ghe, gương, chỉ, đàn, dây, …

-

Các loại thực vật: hoa, cỏ, cây, lá, cành, …

-

Các động vật: chim, cá, ong, bướm …

-

Các bộ phận cơ thể người: răng, chân, tay, mặc, ngực, tim, lòng, …

-

…” [tr.70].


tượng nghiên cứu phức tạp, khối lượng tư liệu phải xử lí khá lớn,…

4. Phương pháp nghiên cứu
Vấn đề là nghiên cứu biểu tượng thơ Xuân Diệu liên quan đến yếu tố đời sống thực
tiễn, lịch sử xã hội, quê hương tác giả. Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy ngoài việc sử dụng
phương pháp chuyên ngành như Thi pháp học, Phê bình mới, Phê bình cấu trúc, chúng tôi
cần sử dụng kết hợp với phương pháp liên ngành như Lịch sử, Văn hóa.
-

Phương pháp Thi pháp học: ở chương 2 và chương 3, chúng tôi sử dụng phương
pháp Thi pháp học để khám phá nội dung ý nghĩa của từng biểu tượng cũng như
9


sự hình thành các biểu tượng trong tư duy thơ Xuân Diệu. Thi pháp học cũng là
một phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thấy sự chi phối, tác động của các
biểu tượng nghệ thuật lên phong cách sáng tác của Xuân Diệu.
-

Phương pháp Phê bình mới được sử dụng vào việc tìm hiểu tính tư tưởng và tính
nghệ thuật của các biểu tượng thơ Xuân Diệu chủ yếu ở khía cạnh nghiên cứu là
những biểu tượng nghệ thuật trong thơ ca.

-

Phương pháp Phê bình cấu trúc được sử dụng trong quá trình luận văn khảo sát
cấu trúc nội tại của biểu tượng, mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong làm nên ý
nghĩa của biểu tượng thơ Xuân Diệu.

-

10


5. Những đóng góp dự kiến
Bên cạnh việc tiếp thu thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi
mong muốn có những đóng góp mới với đề tài này nhằm góp phần làm rõ biểu tượng nghệ
thuật trong thơ Xuân Diệu:
-

Thống kê và miêu tả các biểu tượng nghệ thuật thơ Xuân Diệu.

-

Khảo sát biểu tượng ở nhiều mặt: nguồn gốc, chức năng, ý nghĩa, nghệ thuật xây
dựng biểu tượng.

-

Xác định vai trò, vị trí của biểu tượng nghệ thuật trong việc hình thành phong
cách thơ Xuân Diệu.

-

Vận dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy tác phẩm Xuân Diệu trong nhà
trường phổ thông.

6. Cấu trúc của luận văn:
Luận văn “Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu” gồm có 159 trang, trong đó
154 trang chính văn, ngoài phần Mở đầu (8 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo
(94 đề mục), được chia thành các chương sau:

Biểu tượng, theo tiếng Hán, biểu là bày ra, trình bày; tượng là hình ảnh, hình dạng.
Biểu tượng là một hình ảnh cụ thể được bày ra, được thể hiện để nhằm biểu thị một ý nghĩa
trừu tượng. Thuật ngữ chỉ biểu tượng trong tiếng Anh là symbol có nguồn gốc từ tiếng Hy
Lạp là symbollon (có nghĩa là kí hiệu, dấu hiệu để nhận ra nhau là một).
Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng với những
nội hàm khác nhau. Từ xa xưa, biểu tượng đã được dùng để chỉ một vật được cắt, tách ra
làm đôi (thường là mảnh sứ, gỗ hoặc kim loại). Mỗi mảnh này được giữ bởi hai người (chủ tớ, người cho vay – người vay, tình nhân, chồng – vợ, …) Sau này, khi hai mảnh vỡ ấy có
cơ hội ráp lại với nhau thì họ sẽ nhận ra mối quan hệ cũ. Như vậy biểu tượng chia ra và kết
lại với nhau chứa đựng hai ý tưởng phân li và tái hợp. Điều này cũng đồng nghĩa rằng mọi
biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ: “Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị
đập vỡ: ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ, vừa là kết nối những phần
của nó đã bị vỡ ra” [26, tr.XXIII].
12


Sau này, khi khoa học về biểu tượng được hình thành và phát triển hơn thì có rất
nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra nhằm lí giải về ý nghĩa của biểu tượng, mối quan
hệ và vai trò của biểu tượng trong đời sống của con người. Sau đây, xin dẫn một vài ý kiến,
nhận định của các nhà nghiên cứu:
Theo Từ điển Larousse cho rằng: “Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, bằng con
vật sống động hay bằng đồ vật, nó biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của
một sự vật hay một điều gì đó” [tr. 78]. Còn trong Dịch thuyết cương lĩnh của Chu Hy, nhà
triết học đời Tống thì giải thích về khái niệm biểu tượng như sau: “Tượng là lấy hình này để
tỏ nghĩa kia”, tức là dùng cái “có thể hiểu biết” để nói lên điều “khó có thể hiểu biết”, hay
dùng cái cụ thể để nói cái trừu tượng, dùng cái tĩnh để nói cái động, dùng cái hữu hình để
nói cái vô hình, …[68]
Theo phân tâm học Freud, biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít
nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết thống nhất
nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng …
[26,tr. XXIV].

cho bản thân nó. Biểu tượng phải vừa ổn định, vừa không ổn định.
“Mỗi nhóm người, mỗi thời đại có những biểu tượng của mình: rung động trước cái
biểu tượng đó, tức là tham gia vào nhóm người và thời đại ấy” [26,tr. XXXIII]. Biểu tượng
mang tính cộng đồng. Bởi chỉ những sự vật, hiện tượng, hay hình ảnh được cộng đồng chấp
nhận, đồng tình rằng nó có chứa những ý nghĩa nào đó ở bên ngoài nó, thì nó mới trở thành
biểu tượng. Sau khi trải qua thời gian, biểu tượng được hình thành, phát triển ổn định, chắc
chắn trong tâm thức cộng đồng. Cũng chính vì biểu tượng mang tính cộng đồng, tính xã hội
mà trên thế giới có vô số các cộng đồng, dân tộc khác nhau, nên các sự vật, hiện tượng dù
giống nhau cũng không bao giờ chứa các ý nghĩa biểu tượng hoàn toàn giống nhau. Trong
Luận án tiến sĩ Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt, tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Điệp đưa ra một số ví dụ về tính đa dạng của biểu tượng trong đời sống
của các cộng đồng dân tộc khác nhau trên thế giới: “Chẳng hạn, đối với người Hindu, thấm
nhuần tư tưởng Vệ - Đà, con bò cái mang một ý nghĩa tinh thần khác hẳn đối với người nuôi
bò xứ Normandie. Đối với người dân lao động Nga, trong thi ca dân gian, chim thiên nga,
con tu hú mang những ý nghĩa tượng trưng sâu sắc mà ở các dân tộc khác không có”. Mặc
dù không toàn toàn trùng khớp về những lớp nghĩa biểu tượng trong những cộng đồng, dân
tộc khác nhau, thế nhưng giữa chúng có một mối liên hệ liên kết con người lại với nhau.
Điều này thể hiện cụ thể qua một số biểu tượng mang tầm vóc quốc tế bên cạnh những nét
riêng của dân tộc mình: chim bồ câu – biểu tượng của sự hòa bình, hoa – biểu tượng chỉ
người con gái, …
Đến đây, sau khi trình bày những ý kiến, kiến giải sâu sắc về khái niệm biểu tượng,
người viết xin đưa ra sơ đồ “siêu kí hiệu” của R. Barthes để làm lời kết về khái niệm phức
14


tạp này.
R. Barthess đã tiếp thu khái niệm Ký hiệu học biểu thị và Ký hiệu học hàm nghĩa của
Hjelmslev vào hệ thống Ký hiệu học của mình. Có thể tóm tắt sơ đồ "siêu ký hiệu" của R.
Barthes như sau :
Một là, hệ thống "Ký hiệu học biểu thị" [A] ( ký hiệu - thông thường )

văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó xếp hàng đầu là
ngữ ngôn, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo” [26, tr.
XXIII].
Khi tìm hiểu về biểu tượng văn hóa ta không thể không chú ý đến khái niệm văn hóa.
Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất, tinh thần của con người được tạo nên do những tác
động của chính con người lên tự nhiên và xã hội. Văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng
xử của con người trước thế giới. Khi nghiên cứu về biểu tượng văn hóa cũng là đang chạm
vào các yếu tố văn hóa.
Biểu tượng, như đã nói ở phần trên, là một vật được chia ra làm hai nửa, khi ghép lại
sẽ thể hiện một mối quan hệ, liên kết nào đó. Biểu tượng được hình thành lâu dài và được
16


cộng đồng chấp nhận. Nét văn hóa, bản sắc mỗi dân tộc thể hiện khá rõ nét qua hệ thống
biểu tượng của dân tộc đó. Và biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất hoặc tinh thần
(sự vật, hành động, hiện tượng, ý niệm, …) có khả năng biểu hiện ý nghĩa rộng hơn chính
hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hóa nhất
định: nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục, thần linh, …
Trong văn hóa Việt Nam và phương Đông, người ta có thể dễ dàng bắt gặp một loạt các
biểu tượng văn hóa như: nước, lửa, mặt trời, con rùa, con trâu, hoa sen, …
Những biểu tượng là dạng nguyên thủy nhất có thể được xem là cổ mẫu, mẫu gốc của
một nền văn hóa. Đó là nguồn gốc phát sinh các biểu tượng mang tính truyền thống của các
ngành văn học, nghệ thuật. Có thể nói mẫu gốc, cổ mẫu là cấp độ đầu tiên của biểu tượng.
Khi đi vào đời sống văn hóa, trải qua sự biến đổi của thời gian và quá trình phát triển của
văn minh loài người, các mẫu gốc có khả năng sản sinh ra nhiều biểu tượng văn hóa khác
nhau. Từ đấy, chúng luân chuyển, biến đổi và được bồi đắp thêm những ý nghĩa mới thông
qua tư duy phong phú của con người. Nhưng về cơ bản, mối liên hệ giữa chúng với mẫu gốc
vẫn tồn tại và in hằn dấu vết bởi những truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, nghi lễ, phong
tục,…
1.1.3. Biểu tượng văn học

là chỉnh thể tác phẩm. Do đó, cho dù thời đại phát sinh có lùi xa vào quá khứ thì việc cảm
nhận, lí giải, cắt nghĩa biểu tượng văn học cũng không mấy khó khăn.
Khi những biểu tượng văn học được nhiều người thừa nhận, đồng thời chính nó có
một đời sống rộng lớn trong lòng công chúng, chứa đựng toàn vẹn nỗi niềm của con người
thì nó trở thành biểu tượng văn hóa. Sự biến dổi này đôi lúc khiến chúng ta khó nhận ra
được là biểu tượng đi từ đời sống vào văn học hay ngược lại. Văn học là một bộ phận của
văn hóa. Có thể nói, được trở thành biểu tượng văn hóa là một thành công lớn lao của biểu
tượng văn học.
Đi vào biểu tượng văn học, ta cần phải phân biệt sự khác nhau giữa biểu tượng và
những khái niệm có nội hàm gần giữ như ẩn dụ và hình tượng.
1.1.3.1. Phân biệt biểu tượng và hình tượng
Về hình tượng, Từ điển Thuật ngữ văn học ghi rằng: “Hình tượng nghệ thuật vừa có
giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát làm bộc
lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người
nghệ sĩ. Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể
hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại… Vì những lẽ
trên, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa các mặt
đối lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lí
tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình”.[17,tr.147]
18


Như vậy, có thể thấy, biểu tượng và hình tượng đều có giá trị nhận thức cảm tính và
chủ quan trong việc phản ánh thực tại, có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ nhưng lại khác
nhau ở điểm: Sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt quá giới hạn của hình
thức biểu đạt cụ thể. Tức là luôn luôn có phương tiện biểu hiện trọn vẹn nghĩa của hình
tượng. Còn sự tồn tại của biểu tượng thì lại vượt quá giới hạn của một sự biểu đạt, tức là
không có một phương tiện nào có thể biểu hiện trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng.
Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng tách riêng hoặc có xu hướng tách riêng ra khỏi
một hệ thống nào đó để đảm bảo các yêu cầu của một hình tượng là: tự do, hoàn thiện, độc

tạo bằng một, hai hình ảnh mà bằng vài ba hình ảnh. Vì thế các yếu tố cần dựa vào nhau để
giải mã ẩn dụ, ẩn dụ linh hoạt, trường liên tưởng rộng rãi hơn biểu tượng, số lượng nhiều
hơn nhưng không bền vững bằng […] Biểu tượng là hình ảnh ẩn dụ được sử dụng ở mật độ
cao mang tính quy ước”.
Còn Từ điển Thuật ngữ văn học nói về sự giống và khác nhau giữa ẩn dụ và biểu
tượng như sau: sự giống nhau là chúng đều được “hình thành trên cơ sở đối chiếu, so sánh
các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía cạnh, những đặc điểm gần gũi, tương
đồng, nhằm làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý nghĩa cụ thể sáng tỏ về hiện tượng hay đối
tượng đó” [17,tr. 24]. Sự khác nhau giữa chúng là: “ẩn dụ và hoán dụ đều mang ít hay nhiều
ý nghĩa biểu tượng, nhưng biểu tượng không phải bao giờ cũng là những hoán dụ, ẩn dụ
(…) ; biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng (…) trong khi
đó, ẩn dụ và hoán dụ nhiều khi có khuynh hướng làm mờ ý nghĩa biểu vật, trực quan của lời
nói; nếu như ý nghĩa của ẩn dụ, hoán dụ trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản, thì ý nghĩa
của biểu tượng tồn tại cả ngoài văn bản” [tr. 24, 25].
Đó là những ý kiến sâu sắc về sự khác nhau giữa ẩn dụ và biểu tượng. Như vậy biểu
tượng có xu hướng ổn định về nghĩa và ý nghĩa của nó luôn được số đông cộng đồng thừa
nhận, ý nghĩa của biểu tượng còn là sự phức tạp, đa nghĩa. Trong khi đó ẩn dụ thì có xu
hướng nghiêng về một ý nghĩa cụ thể riêng biệt, không ổn định. Nghĩa của biểu tượng
không chỉ được tạo nên từ văn bản tác phẩm mà còn từ sự cảm nhận, tiếp nhận của độc giả.
Nó phải thể hiện quan niệm về cuộc đời, xã hội, về thế giới, về con người qua từng giai
đoạn phát triển của lịch sử văn minh. Còn ẩn dụ chủ yếu được tạo nên từ văn bản tác phẩm,
trong nhiều tác phẩm của nhà văn hay nhiều nhà văn.
Trong Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, các tác giả còn đưa ra sự giống và khác
nhau giữa biểu tượng với: biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, tỉ dụ, loại suy, … Tất cả chúng đều
không vượt qua mức độ của sự biểu nghĩa: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu, ở chỗ dấu
hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ với nhau,
trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo
nghĩa một lực năng động tổ chức” [26,tr. XIX]. Nói chung, sự khác nhau giữa biểu tượng và
các khái niệm gần gũi với nó chủ yếu là ở sự phức tạp trong việc lĩnh hội ý nghĩa mà biểu
20

Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, là một loại hình
tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn được tác giả sử dụng nhiều lần trong tác
phẩm của mình. Đó là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thể hiện ý đồ sáng tạo. Biểu tượng
trong thơ cũng không nằm ngoài qui luật đó.
21


Biểu tượng trong thơ đa dạng phong phú bởi mỗi nhà thơ đều muốn khẳng định cái
tôi cá nhân và sáng tạo theo cá tính riêng, độc đáo của mình. Trong thơ ca dân gian, những
biểu tượng được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh khách quan từ thiên nhiên, cuộc sống
lao động sinh hoạt hằng ngày của người lao động. Nó được tập thể người lao động tham gia
sáng tạo, bổ sung, cải biến. Nó là sản phẩm của tập thể nên thiếu hẳn yếu tố cá nhân, phong
cách riêng của con người cá thể. Ví dụ như câu ca dao sau:
Anh về cuốc đất trồng cau
Cho em trồng ké dây trầu một bên.
Mai sau trầu nọ lớn lên,
Cau kia ra trái lập nên cửa nhà. [13]
So sánh biểu tượng trầu – cau trong câu ca dao này với biểu tượng trầu - cau trong
thơ Nguyễn Bính, ta sẽ thấy rõ sự khác biệt bởi dấu ấn cá nhân trong sáng tác. Trong ca dao,
trầu cau không còn được hiểu như chính nó trong thực tại, là một loại quả, lá ăn chung với
nhau làm đẹp môi, mà nó đã trở hình thức biểu đạt chứa đựng nội dung se duyên, kết tình
của nam nữ. Nó đề cập đến tình yêu, tình duyên đôi lứa. Nó nói đến việc kết tóc se tơ của
nam nữ yêu nhau. Và biểu tượng trầu – cau trong ca dao dường như chỉ dừng lại ở đó.
Trong thơ Nguyễn Bính, biểu tượng trầu – cau cũng có cơ sở ý nghĩa như trong ca dao
nhưng bên cạnh đó nó còn mang nhiều nét nghĩa khác mà chỉ có tư duy, quan niệm sống của
chính Nguyễn Bính mới tạo ra được. Trong thơ ca dân gian, ta dễ dàng bắt gặp những biểu
tượng quen thuộc thể hiện cho tình cảm, tình yêu lứa đôi như: trầu – cau, trúc – mai, mận –
đào, thuyền – bến, sen – hồ, liễu – đào, …
Sen xa hồ, sen khô hồ cạn
Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng

Anh chỉ còn bão tố
(Xuân Quỳnh)
Bên cạnh việc sáng tạo ra những biểu tượng hoàn toàn mới mẻ còn có hiện tượng bổ
sung ý nghĩa cho những biểu tượng quen thuộc. Như trong các tác phẩm thuộc phong trào
Thơ mới, Con Tàu thường biểu tượng cho sự ra đi cô độc, sự chia lìa tan tác, thì trong thơ
cách mạng, Con Tàu lại là biểu tượng của sự ra đi mang tính chất khai phá, mở đường, ra đi
trong lời ca tiếng hát, ra đi trong niềm vui, niềm hạnh phúc.
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi tới những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
(Những ngày nghỉ học, Tế Hanh)
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status