đặc điểm nghệ thuật thơ phan bội châu - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Thái Thị Xuân Lan

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ
PHAN BỘI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003



LỜI CẢM ƠN
Chân thành cảm ơn
- Ban giám hiệu
- Tập thể Thầy, Cô khoa Ngữ văn
- Phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

3


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................... 3
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 8
1.Lý do chọn đề tài ................................................................................................................... 8
2.Giới hạn đề tài ....................................................................................................................... 9
2.1.Về thể loại. ...................................................................................................................... 9

1.2.4.Con người trải lòng cùng thi nhân. ............................................................................ 39
1.2.5.Con người ngổn ngang bao tâm sự riêng chung ........................................................ 41

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ PHAN BỘI CHÂU........................... 47
2.1.KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT ...................................................................................... 47
2.1.1.Không gian vũ trụ ...................................................................................................... 47
2.1.2.Không gian đất nước ................................................................................................. 52
2.1.3.Không gian hải ngoại ................................................................................................. 55
2.1.4.Không gian nhà tù...................................................................................................... 57
2.1.4.1.Không gian nhà tù Quảng Đông ........................................................................ 57
2.1.4.2.Không gian bị giam lỏng (Huế) ......................................................................... 60
2.2.THỜI GIAN NGHỆ THUẬT .......................................................................................... 66
2.2.1.Thời gian quá khứ ...................................................................................................... 67
2.2.2.Thời gian hiện tại ....................................................................................................... 69
2.2.3.Thời gian tương lai .................................................................................................... 78
2.2.3.1.Thời gian mùa xuân (tương lai gần) .................................................................. 78
5


2.2.3.2.Thời gian muôn thuở (tương lai xa) ................................................................... 79
2.3.NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT .......................................................................................... 80
2.3.1.Từ ngữ. ...................................................................................................................... 81
2.3.1.1.Điển tích, điển cố ............................................................................................... 81
2.2.1.2.Các biện pháp tu từ ............................................................................................ 82
2.3.1.3.Sử dụng chữ Quốc ngữ ....................................................................................... 97
2.3.1.4.Sử dụng Pháp ngữ .............................................................................................. 99
2.3.1.5.Sử dụng thành ngữ - tục ngữ ............................................................................ 101
2.3.2.Câu ........................................................................................................................... 102
2.3.2.1.Câu khẳng định tường minh sử dụng rất đắc địa trong giai đoạn thơ trước
1925. ............................................................................................................................. 102

Nhắc đến Phan Bội Châu về mặt lịch sử, người ta nhớ đến nhà lãnh đạo cách mạng Việt
Nam kiệt xuất trong khoảng hai mươi lăm năm đầu thế kỷ XX. Cuộc đời hoạt động theo cụ
từng đúc kết "trăm lần thất bại không một thành công", nhưng người "anh hùng thất bại" ấy đã
lưu danh thiên cổ. Cuộc đời ấy là sự trải nghiệm quí báu, là bài học rèn luyện phẩm chất đạo
đức cách mạng. Công lao của cụ, lịch sử đã khẳng định.
Phan Bội Châu, cũng như nhiều nhà nho yêu nước đương thời, đã dùng thơ văn làm vũ
khí chiến đấu. Tuy không tự nhận mình là nhà văn nhưng với số lượng tác phẩm đồ sộ, trong
đó có không ít những tác phẩm xuất sắc Phan Bội Châu xứng đáng đứng trong hàng ngũ các
nhà văn lớn của dân tộc, thực sự là một nghệ sĩ có năng lực biểu hiện phong phú, đa dạng với
tấm lòng sục sôi nhiệt huyết, được các thế hệ tôn trọng, yêu mến . Trong lĩnh vực sáng tác nghệ
thuật, thành công của Phan Bội Châu được ghi nhận trên nhiều thể loại của loại văn chương
tuyên truyền cổ động cách mạng. Nhưng nếu chỉ thấy tác dụng tuyên truyền thì chưa gọi đã
thấu đáo hết văn chương Phan Bội Châu. Người đọc không thể không nhận ra một tâm hồn lớn,
một khí phách lớn và biết bao nỗi niềm trăn trở, suy tư, kỳ vọng .. . Chất trữ tình đan xen trong
toàn bộ thơ văn Phan Bội Châu là giá trị không thể phủ nhận. cả quá trình sáng tác từ khi bôn
ba hoạt động cách mạng đến lúc trở thành "ông già Bến Ngự" thể hiện rõ sự vận động của hình
tượng thơ, ngôn ngữ thơ và giọng điệu thơ cụ Phan.
Thơ trữ tình Phan Bội Châu - một vùng đất nghệ thuật mới mẻ cho những ai tâm huyết,
bởi vì đằng sau cánh cửa hùng tráng, ngang tàng của một người "đầu đội trời chân đạp đất" là
một người thâu đêm đối bóng, tìm tri kỷ không ai khác ngoài sông nước, con đò và vầng trăng
cô đơn. . . Con người từng lấy sự sổi động xung quanh làm lẽ sống, tưng ra Bắc vào Nam, từng
bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước . . . phải chịu cảnh "cá chậu chim lồng" thật ngột ngạt, cô
độc! . . Ây vậy, con người đó không tắt niềm hy vọng, còn một chút vẫn hy vọng.
Tìm hiểu thơ trữ tình Phan Bội Châu là việc làm có ý nghĩa nhiều mặt. Bản thân người
viết tha thiết muốn tìm hiểu sâu chất trữ tình đó mà dường như trước nay ít có sự quan tâm thỏa
đáng. Phải chăng vì cụ là một trong những nhà thơ cuối cùng của làng nho phong kiến ? Phải
8


chăng người ta say mê với phong trào thơ Mới mà quên đi một tấm lòng thủy chung gắn bó


ấp ủ kỳ vọng "thanh niên rường cột nước nhà" . Thơ trữ tình kiểu ấy có sức lay động lòng
người ghê gớm !
2.3.Về văn bản
Trong quá trình xử lý đề tài, người viết sẽ tiếp cận bốn văn bản chính:
Phan Bội Châu toàn tập, tập V, Chương Thâu, Nxb Thuận Hóa, xuất bản năm 1990. Phần
"Thơ nôm - Các thể loại" , gồm 678 bài. Đây là văn bản tập họp khá đầy đủ thơ Phan Bội châu.
Văn bản này giúp người viết có điều kiện thống kê những hình ảnh, hình tượng thơ xuất hiện
nhiều lần, từ đó rút ra những kết luận cần thiết.
Thơ văn Phan Bội Châu , Chương Thâu tuyển chọn, Nxb Văn học , Hà Nội, xuất bản
năm 1985. Người biên soạn đã phân thơ văn Phan Bội Châu ra làm hai thời kỳ, ứng với quá
trình hoạt động và quá trình sáng tác của Phan Bội Châu. Trước 1925: 15 bài (thơ chữ Hán, bản
dịch, thơ tiếng Việt). Sau 1925 : 62 bài (thơ chữ Hán, bản dịch, thơ tiếng Việt, thơ Bình dân ).
Sử dụng văn bản này người viết có thể so sánh những đặc sắc nghệ thuật ở mỗi giai đoạn thơ.
Thơ văn Phan Bội Châu, Kiều Văn biên soạn, Nxb Đồng Nai, xuất bản năm 2000, gồm
85 bài thơ các thể loại.
Thơ văn Phan Bội Châu, thời kỳ ở Huế 1926 -1940, Trần Anh Vinh và Chương Thâu
sưu tập, tuyển chọn, Nxb Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 1987, gồm 104 bài thơ nôm. Mục
đích của người viết khi sử dụng văn bản là để xét thơ Phan Bội Châu trên diện hẹp hơn so với
văn bản Phan Bội Châu toàn tập, qua một số biểu hiện về ngôn ngữ nghệ thuật.
Chọn bốn văn bản trên, người viết cũng thấy được sự thuận lợi trong quá trình tìm hiểu.
Các văn bản vừa có bề rộng khái quát lại vừa có bề sâu chi tiết nên việc đối chiếu, so sánh để

3.Lịch sử văn đề
Thơ văn Phan Bội Châu luôn gợi nhiều sự quan tâm ương lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên
việc khảo sát đối tượng ở góc độ nghệ thuật vẫn chưa được chú ý đầy đủ. Phần lớn các công
trình nghiên cứu từ ưước đến nay ngoài việc tuyển chọn thơ văn Phan Bội Châu chủ yếu
thường khẳng định giá trị nội dung tư tưởng của bộ phận sáng tác này. Nổi trội hơn cả là các
chuyên luận của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh và bộ Phan Bội Châu toàn tập của Chương
Thâu. Ngoài ra phải kể đến các bài viết công phu của Nguyễn Đình Chú, Trần Đình Hươu, Lê

12


bài học mà chúng ta rút ở Phan Bội Châu là chẽ Phan Bội Châu đã góp một phần quan trọng
cho cuộc vận động giải phóng dân tộc của chúng ta... Phan Bội Châu là một người thủy chung
yêu nước thành thật, một người cách mạng chân chính để lại nhiều ảnh hưởng tốt..."(Tôn
Quang Phiệt : Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh , Ban nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản năm
1956, tr 62, 63, 64) v.v... Nội dung chủ yếu của những bài viết là những kỷ niệm có liên quan
đến nhà thơ, nhằm bày tỏ tình cảm yêu thương quí mến người quá cố, và đề cập đến những bài
học có ý nghĩa tốt đẹp rút ra từ cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như sự nghiệp văn chương
Phan Bội Châu.
Gần 30 năm sau, nhân dịp kỷ niệm 100 năm năm sinh cụ Phan, lại thêm một số bài viết
khác "Mấy nét kí ức về Phan Bội Châu" của Nguyễn Đức Dân (Tạp chí Văn học số 12 - 1967)
; "Cụ Phan và lòng dân" của Nguyễn Hiến Lê (Kỷ yếu Kỷ niệm 100 năm, năm sinh của Phan
Bội Châu. Nxb Trình Bày, Sài Gòn, 1967); "Một số hồi ức chưa được công bố về Phan Bội
Châu" của Đào Duy Anh (Hà Nội, 1/1/1980 "Ông già Bến Ngự”. Hồi ký. Nxb Thuận Hóa,
Huế, 1987) cũng bày tỏ tình cảm, lòng ngưỡng mộ tài năng, và ghi lại những giai thoại xung
quanh cuộc đời hoạt động của nhà chí sĩ.
3.2.2.Những công trình nghiên cứu:
Công trình của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh trong Đặng Thai Mai toàn tập và Hoài
Thanh toàn tập giúp cho người nghiên cứu, người học tập ý thức sâu sắc sự cống hiến của
Phan Bội Châu về mặt lịch sử cũng như mặt văn chương.
Ngoài ra cần nhắc đến các bài viết về Phan Bội Châu trong các Giáo trình văn học Việt
Nam của Trần Đình Hươu, Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú ; cũng như các bài nghiên cứu được
đăng trên tạp chí Văn học của Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Ngọc Vương, Trần Thanh
Đạm...
Cần khẳng định ngay trong phạm vi hẹp của lịch sử văn học, Phan Bội Châu chắc chắn
nằm trong số vài ba tác giả quan trọng nhất của văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX.
"Thơ ca Phan Bội Châu phần thành công rõ rệt nhất qua mấy mươi năm "bút mặc tung

Trần Văn Giàu đã có một nhận định xác đáng :

15


"lôi đình trên ngọn bút", đó là phong khí, là thực chất thơ Phan Bội Châu. Ngoài nội
dung tư tưởng cao quí, thơ văn Phan Bội Châu nhiều khi lại lai láng tình cảm, bay bổng tưởng
tượng, bao giờ cũng hùng biện lâm ly, dễ thấm sâu vào lý trí, cõi lòng . (Trích Tưởng nhớ cụ
Phan Bội Châu , Nxb Khoa học xã hội, 1970).
Một lân nữa lại thấy nhà phê bình đề cập đến "tình cảm” và "tưởng tượng" là hai mặt hài
hòa trong thơ Phan Bội Châu. Chính nó đã làm cho những vần thơ tuyên truyền cổ động có sức
thuyết phục mạnh mẽ. Đọc thơ Phan Bội Châu hàng trăm thanh niên hăng hái từ giã gia đình,
người thân ra đi vì lý tưởng xả thân cho sông núi.
Triều Dương trong bài viết "Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng"(Tìm hiểu và suy nghĩ
Nxb Tác phẩm mới, H, 1982,tr.152, 159) cũng nói về sức mạnh tuyên truyền nghệ thuật của
thơ Phan Bội Châu : "Tính chất dậy sóng trong thơ Phan Bội Châu với những biểu hiện tâm
tình dưới nhiều dạng, nhiều cung bậc, mức độ khác nhau cứ tiếp tục thấm sâu vào lòng người
như mạch nước ngâm từ nhiều hướng dẫn tới và đến lúc nào đó, tụ lại, vọt lên ào ra thành
suối, thành sổng, thực sự khuấy động loi cuốn dậy sóng trong lòng người ta...”
Lê Trí Viễn lại có cách bình nghệ thuật thơ Phan Bội Châu theo một hướng độc đáo hơn:
"Ba câu thơ đầu :
Dậy ! Dậy ! Dậy !...
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng...
Cảnh bình minh của một ngày...con người trước cảnh xuân mới cũng vậy : bỏ cái gì cũ,
đón cái gì mới, tống tựu nghênh tân...Nhưng sao lại bắt đầu bằng một lời đánh thức, mà lại
gấp gáp hối hả...như có ai đang ngủ quá say và người đánh thức đang nóng lòng nóng ruột"
(Trích Bình giảng Bài ca chúc tết thanh niên. In trong sách Những bài giảng văn ở đại học,
Nxb Giáo dục, 1982 ). Người bình đã đi vào "thời gian nghệ thuật'" để phát biểu quan điểm
nhân sinh tiến bộ của nhà thơ. Chúng tôi cho rằng đây là một trong những cách tiếp cận khoa

độ nghiên cứu "cảm hứng" nghệ thuật của nhà thơ. Chọn hướng tiếp cận này vì "đặc điểm nghệ
thuật" có quan hệ chặt chẽ với "cảm hứng". Người viết quan niệm "đặc điểm nghệ thuật" là
tổng hợp các đặc điểm mang tính độc đáo, xuyên suốt nội dung và hình thức tác phẩm nên việc
vận dụng khái niệm "cảm hứng" để nghiên cứu" Đặc điểm nghệ thuật thơ Phan Bội Châu", bởi
lẽ "cảm hứng" là yếu tố thuộc nội dung tác phẩm, liên quan đến nhân tố chủ quan của sáng tạo
17


nghệ thuật, đến các văn đề tư tưởng, tình cảm nghệ thuật và có nguồn gốc từ hiện thực khách
quan. Đây là một phạm trù quan trọng của lý luận văn học. Vận dụng "cảm hứng”để nghiên
cứu "Đặc điểm nghệ thuật thơ Phan Bội Châu" mang lại cho việc khảo sát đối tượng một sự
tiếp cận mới. Hơn nữa việc vận dụng khái niệm này rất phù hợp với đặc điểm của bản thân đối
tượng nghiên cứu : Phan Bội Châu là nhà thơ của những cảm xúc mãnh liệt, chân thành, chứa
chan bao khát vọng, yêu thương. Cái độc đáo ương những sáng tác của Phan Bội Châu là trái
tim sôi sục, tuôn trào, cháy bỏng lòng yêu nước thương dân không một phút giây ngơi nghỉ,
trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống khắc nghiệt nào.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết có ý thức khảo sát một cách có hệ thống những nét
độc đáo của nghệ thuật thơ Phan Bội Châu : Từ những biểu hiện về nội dung, đặc điểm của
cảm hứng đến những phương tiện nghệ thuật gắn bó diễn tả nội dung, đặc điểm ấy. Cách xem
xét này giúp người đọc hình dung nghệ thuật thơ Phan Bội Châu không phải như một tổng số
các đặc điểm rời rạc mà như một chỉnh thể thống nhất các nét độc đáo xuyên suốt quá trình
sáng tác của Phan Bội Châu.
4.2.Bằng việc làm sáng tỏ những "Đặc điểm nghệ thuật thơ Phan Bội Châu", luận văn
góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp và vị trí của nhà thơ trong tiến trình phát triển
lịch sử văn học yêu nước từ truyền thống đến hiện đại. Đồng thời những kết quả của luận văn
còn góp phần

vào việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Phan Bội Châu nói riêng và về văn học yêu
nước cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX nói chung.


nghệ thuật thơ Phan Bội Châu".

6.Kết cấu luận văn
Như đã nói trên, người viết chọn hướng trình bày "Đặc điểm nghệ thuật thơ Phan Bội
Châu" từ góc độ nghiên cứu những "cảm hứng” nghệ thuật cùng với những "phương tiện" nghệ
thuật gắn bó, diễn tả nội dung và đặc điểm nghệ thuật ấy theo một hệ thống xuyên suốt, nhất
quán trong toàn bộ tác phẩm của nhà thơ. Do đó ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn
được tổ chức thành hai chương với nội dung cụ thể như sau.

19


Chương một : Giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn chương Phan Bội Châu. Sau
đó tìm hiểu Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ ông : Con người có tư thế hăm hở,
có nhiệt tình sục sổi cứu nước; con người có khát vọng xoay chuyển vũ trụ, có ý thức cá nhân,
có hoài bão lưu danh thiên cổ; con người duy tân táo bạo; con người trải lòng cùng tha nhẩn;
con người ngổn ngang bao tâm sự riêng - chung.
Chương hai: Là chương trọng tâm của luận văn. Ở chương này, người viết giải quyết một
số đặc điểm nghệ thuật cốt lõi trong thơ Phan Bội Châu : Không gian nghệ thuật; Thời gian
nghệ thuật; Ngôn ngữ nghệ thuật. Người viết cũng đặc biệt xoáy sâu vào những hình tượng thơ
độc đáo, cá tính ...Cách sử dụng các biện pháp tu từ, câu, nhịp điệu và vần một cách đắc
địa...bảo đảm tính nhất quán của đặc điểm nghệ thuật như một phạm trù xuyên suốt từ nội dung
đến hình thức của tác phẩm.

20


Chương 1: PHAN BỘI CHÂU - QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON
NGƯỜI
1.1.THỜI ĐẠI VÀ CON NGƯỜI

tiên. Kinh tế hàng hóa kích thích sự phát triển, giai cấp tư sản (dân tộc và mại bản) đông dần
lên. Mặt khác nông dân phá sản dồn về thành thị trở thành phu phen, bồi bếp, anh kéo xe, chị
vú em, con sen, người buôn thúng bán bưng, gái điếm, lưu manh... Tầng lớp dân nghèo thành
thị sống bấp bênh không có ngày mai.
Muốn bám chặt thuộc địa, điều cần thiết là thực dân Pháp phải có một bộ máy cai trị trung
thành đắc lực, cần tạo ra cơ sở xã hội thích ứng với chế độ của chúng. Lớp nho sĩ có tinh thần
dân tộc vốn hết lòng với ưiều đình, có uy tín với nhân dân đã từng chống lại sự xâm lược của
thực dân Pháp bị loại bỏ và thay thế. Thực dân mở các trường Tây học đào tạo đội ngũ công
chức mới. Những ông phán, ông thông, những người đậu đạt Tây học được Pháp ưu đãi nhiều
mặt. Tầng lớp thượng lưu xã hội thuộc địa hồi nay là những viên chức trí thức tư sản ở thành
thị, các cường hào, địa chủ ở nông thôn. Xã hội Việt Nam chuyển mình sang hướng tư sản què
quặt, kém lành mạnh để lại những hậu quả tai hại, nhưng đồng thời cũng đã góp phần thay đổi
bộ mặt thành thị, biến nó thành trung tâm kinh tế, thủ tiêu nhiều thế lực bảo thủ, trì trệ tạo điều
kiện bước đầu cho xã hội phát triển theo mô hình các xã hội hiện đại.
Sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội đã dẫn đến sự du nhập lối sống thực dụng, vật
chất chủ nghĩa của phương Tây. Cái lố lăng hợm hĩnh của những kẻ có tiền lúc đầu đã tạo ra sự
bất bình, sự phản ứng gay gắt của xã hội vốn trọng lễ giáo. về sau khi quyền lực của kẻ có tiền
được khẳng định thì sự hưởng thụ, thú vui vật chất được coi là tự nhiên. Cái mới không chỉ
xuất hiện ở thành thị mà còn tràn về nông thôn, chiếc đèn Hoa Kỳ, cái đồng hồ quả lắc, bộ ghế
xa lông ... đã thay thế ngọn đèn dầu lạc, cái án thư, chiếc trường kỷ...Cái mới đã tấn công vào
tận căn cứ địa cuối cùng của các nhà nho và người nông dân. Họ có nhiều cách chống lại. Phan
Bội Châu sang Nhật, Phan Chu Trinh sang Pháp. Trường Đông Kinh nghĩa thục được mở và
được đón nhận nồng nhiệt ở Hà Nội. Phong trào Duy tân phát triển sôi nổi. Trong phong ưào
đấu tranh chống Pháp, ngọn cờ Cần vương đã hạ xuống và ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản
giương cao. ở cấp độ thấp hơn, người thi đỗ không chịu ra làm quan, người làm quan thì lui về
làng ở ẩn, người thì tẩy chay đồ Tây, tiếng Tây, thậm chí tẩy chay cả chữ Quốc ngữ...Nhưng
cái mới rồi vẫn cứ hấp dẫn mà những tình cảm thiêng liêng với cha ông, với đạo lý thánh hiền
cũng không thắng nổi. Cái mới dần dần chinh phục cả những người khó tính, nệ cổ. Khổng ai
22


23


mới ấy, văn học đã thay đổi. Một nền văn học lấy đề tài từ trong cuộc sống bình thường, không
gắn với triết - sử , mà đã tách ra thành nghệ thuật độc lập. Quá trình hiện đại hóa văn học là quá
trình xóa bỏ quan niệm xã hội luân thường, người sáng tác phải quan tâm đến sự việc, đến cốt
truyện, đến nhân vật, chú ý đến yêu cầu nhận thức, phản ánh. Quá trình hiện đại hóa còn là quá
trình cụ thể hóa, đa dạng hóa các nhân vật văn học, những hình tượng nghệ thuật của xã hội cũ
như : vua, quan, thầy đồ, lý trưởng, nông dân, giờ đây giảm dần và xuất hiện ngày càng nhiều
những nhân vật thành thị như: thầy thông, thầy phán, ông thầu khoán, anh học trò, người lao
động, công nhân, cô gái mới...Cuộc sống trong văn học cũng trở nên đa dạng, phức tạp, muôn
màu muôn vẻ như cuộc sống thực. Để thể hiện nó, thể loại, phương pháp sáng tác, tiêu chuẩn
thẩm mỹ phải thay đổi theo. Văn học Việt Nam gặp những văn đề chung của văn học thế giới,
bước vào quỹ đạo của văn học thế giới. Một nền văn học mới, dựa vào công chúng thành thị.
Thành thị của ta tồn tại và phát ứiển một tầng lớp trí thức Tây học, biết tiếng Pháp, tiếp xúc với
nền văn học phương Tây, chủ yếu là văn học Pháp. Do đó họ đã học hỏi rút ra được kinh
nghiệm của ba, bốn thế kỷ văn học thế giới cho sự phát triển của văn học nước nhà. Điều đó đã
giúp nền văn học Việt Nam được hiện đại hóa theo nhịp độ gấp rút, khẩn trương.
Trước thế kỷ XX, Việt Nam đã có một nền văn học phát triển không cao lắm nhưng khá
phong phú và có tính dân tộc rõ rệt. Đầu thế kỷ XX sự phát triển của kinh tế hàng hóa thị
trường, đã là cơ sở thúc đẩy sự thống nhất dân tộc. Yêu cầu chống Pháp, tình cảm, nguyện
vọng, suy nghĩ của các tầng lớp nhân dân cũng thống nhất lại và cùng thúc đẩy sự thống nhất
dân tộc.
Trong văn học bác học, các nhà nho yêu nước đã dùng văn học làm vũ khí phục vụ cho sự
nghiệp cứu nước và duy tân, các cụ đã quan tâm đến quần chúng nhân dân, vì thế văn học yêu
nước không những có nội dung tiến bộ mà còn góp vào lịch sử phát triển văn học dân tộc
những cách tân đáng kể về mặt nghệ thuật. Một số nhà nho ra thành thị sinh nhai bằng nghề
viết văn đã khai thác những gì thích hợp để nói về cuộc sống mới, con người mới ở đô thị. Họ
cũng mang vào lịch sử văn học những cách tân đáng kể về nội dung văn học nghệ thuật, về
quan niệm văn học...Đối với bộ phận văn học dân gian, tình cảnh bần cùng khiến người nông

nho nghèo.
Thuở nhỏ, Phan Bội Châu đã nổi tiếng thông minh, tám tuổi đã thông thạo các loại văn
chương cử tử, mười ba tuổi đi thi ở huyện, đỗ đầu, mười sáu tuổi đỗ đầu xứ, nên cũng được gọi
là ông đầu xứ San.

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status