BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: CS.2012.19.56
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỰC TẬP
SƯ PHẠM ĐỢT MỘT THEO HÌNH THỨC GỬI THẲNG
Cơ quan chủ trì
Chủ nhiệm đề tài
: KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
: TS. Huỳnh Văn Sơn
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: CS.2012.19.56
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- Cơ quan chủ trì: Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian thực hiện: Tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012
2. Mục tiêu:
Tìm hiểu thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Tp.
HCM trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng.
3. Tính mới và sáng tạo:
Đề tài chỉ ra bức tranh thực trạng về kỹ năng giải quyết vấn đề trong đợt thực tập sư phạm
theo hình thức gửi thẳng của sinh viên năm thứ ba Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh, phân tích được các điểm mạnh điểm yếu cùng những nguyên nhân của chúng. Trên
cơ sở đó, đề xuất một vài biện pháp nhằm phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề trong đợt thực
tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng.
4. Kết quả nghiên cứu:
4.1. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng gặp khá nhiều vấn đề cần giải quyết.
Trong mười vấn đề liên quan đến thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng, có hai
vấn đề sinh viên gặp ở mức thường xuyên: vấn đề liên quan đến chuyên môn và giao tiếp ứng
xử sư phạm với học sinh. Các vấn đề còn lại đều gặp ở mức thỉnh thoảng như: vấn đề liên
quan đến giao tiếp, thiết lập mối quan hệ với giáo viên hướng dẫn, vấn đề thích ứng với nhà
trường, vấn đề liên quan đến các hoạt động phong trào cùng nhà trường và học sinh, vấn đề
liên quan đến điều kiện vật chất... Trong những vấn đề cụ thể sinh viên cần giải quyết thì nổi
bật ở nhóm vấn đề liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ và quy chế là vấn đề khác biệt
giữa việc soạn giáo án theo hướng dẫn khi học ở trường Đại học Sư phạm so với yêu cầu của
giáo viên hướng dẫn; nhóm vấn đề liên quan đến giao tiếp - ứng xử - thiết lập mối quan hệ
thì vấn đề nổi trội là: lúng túng, khó khăn khi tiếp xúc với Ban giám hiệu của nhà trường
(38.4%), nhóm vấn đề liên quan đến sự thích ứng thì vấn đề gặp nhiều nhất là: không quen
với các yêu cầu bổ trợ công tác thực tập như việc đăng ký các điều kiện phục vụ giảng dạy;
nhóm vấn đề liên quan đến tập thể đoàn thực tập thì vấn đề nổi trội là một số giáo sinh
không nắm rõ quy chế ảnh hưởng đến đoàn thực tập...
1
tập xuất phát từ quan niệm chưa tin tưởng vào vai trò, vị trí của sinh viên nơi trường thực tập.
5. Sản phẩm:
- Báo cáo toàn văn với các kết quả nghiên cứu theo mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên
cứu
- Đĩa CD về đề tài nghiên cứu.
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
- Sử dụng phiếu khảo sát để tìm hiểu các vấn đề sinh viên gặp phải khi thực tập sư phạm đợt
một theo hình thức gửi thẳng.
- Có thể biên tập và phổ biến tài liệu các vấn đề sinh viên gặp phải trong thực tập sư phạm đợt
một theo hình thức gửi thẳng.
- Công bố kết quả nghiên cứu qua đề tài toàn văn.
2
Ngày 9 tháng 4 năm 2012
Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ và tên)
Xác nhận của cơ quan chủ trì
(ký, đóng dấu)
KT. HIỆU TRƯỞNG
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
PGS.TS. Nguyễn Kim Hồng
TS Huỳnh Văn sơn
3
Within 10 matters relation to step 1 practice under direct forwarding form there were 2
matters which students frequently met: The matter relation to specializing and reacting
Pedagogical communication with student. The remaining matters were found at level like:
The matter relation to communication, set-up relationship to directive teachers or physical
condition… In the concrete matters, the students need to settle is emerged from the group of
matter relation to specializing, professional and regulation is the matter different between
the preparation of teaching scheme under direction when attending at Pedagogy University
comparing to the requirement from directing teachers; the group of matter relation to
communication, reaction, set-up relationship the emerged matter are: embarrassed hard to
contact staff board of the school (38,4%), the group of matter relation to the compatibleness
the matter is most met are not be accustomed to requirement supporting practice operation
such as registration of condition serving for teaching, the group of matter relation to practice
4
collective team the emerged matter are several teaching students who are not aware of
regulation effect to practice group…
The real status of skill settling matter in step 1 practice under direct forwarding form
in Ho Chi Minh City Pedagogy University is found at average level. There were 53,3%
students at level of skill settling the matter attained average level.
However, there were 28,2% high level student and very high level student of skill
settling matter in practicing step 1 pedagogy under direct forwarding form. Despite neither
student has skill settling matter at lowest complicated level, but there still are some significant
proportion of 19,1% student who have capacity settling matter at lowest level.
4.2. The researching result indicated that there was the correlation between the
experience taking part class of skill settling matter (have ever touched skill settling matter) at
their level of skill settling their matters. This is a proper correlation with statistic meaning.
There was a difference between male and female in level settling matter in step 1
pedagogy practice under direct forwarding form. In general seeing, the level of skill settling
- Publicly publish researching result through entire writing topic.
December 16 - 2012
Topic In Charge
(Sign and Seal)
Confirmed by sponsored agency
(Sign and Seal)
For The Principal
Vice Principal
Dr. Huynh Van Son
Professor Dr. Nguyen Kim Hong
6
MỤC LỤC
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................... 1
RESEARCHING RESULT INFORMATION ........................................................... 4
MỤC LỤC...................................................................................................................... 7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................. 9
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... 10
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ .................................................................... 12
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 13
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................. 13
2. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 15
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .................................................................. 15
4. Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................................ 15
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................................... 15
2.2.1. Thống kê chung về khách thể chính tham gia nghiên cứu ......................... 84
2.2.2. Những vấn đề của sinh viên trường Đại học Sư phạm Tp. HCM trong thực
tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng .................................................... 86
2.2.3. Thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên trong thực tập sư phạm
đợt một theo hình thức gửi thẳng ....................................................................... 101
2.2.4. Nguyên nhân thực trạng kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên trong thực
tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng .................................................. 129
2.2.5. Một số ý kiến của sinh viên nhằm nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề
trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng ................................. 141
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 145
1. KẾT LUẬN ....................................................................................................... 145
2. KIẾN NGHỊ ...................................................................................................... 147
2.1. Đối với Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ...................... 147
2.2. Đối với các trường thực tập sư phạm (cơ sở thực tập sư phạm) ................. 148
2.3. Đối với các đề tài nghiên cứu sau ............................................................... 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 150
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 160
8
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Thứ tự
Viết đầy đủ
Viết tắt
1
SV
Sinh viên
7
GV
Giáo viên
8
SP
Sư phạm
9
GQVĐ
giải quyết vấn đề
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Thứ
tự
1
2
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11
Bảng 2.12
Bảng 2.13
Bảng 2.14
Bảng 2.15
Bảng 2.16
Tên bảng
Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm
của K.K. Platonov và G.G. Golubev
Cấu trúc kỹ năng giải quyết vấn đề
Thang điểm đánh giá mức độ nhận thức về các mặt
khác nhau trong kỹ năng giải quyết vấn đề
Thang điểm đánh giá mức độ kỹ năng giải quyết của
sinh viên trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
Cách quy đổi điểm các câu 6, 8, 13, 14
Vài nét về khách thể nghiên cứu
Mức độ sinh viên gặp phải những vấn đề cần giải quyết
trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi
thẳng
48
76
78
81
84
87
91
93
96
97
100
101
102
103
105
106
107
108
109
21
22
23
24
25
Bảng 2.31
Mức độ nhận thức của sinh viên về kỹ năng giải quyết
vấn đề
Mức độ giải quyết vấn đề của sinh viên trong các tình
huống giả định
Mức độ giải quyết vấn đề của sinh viên trong từng tình
huống giả định cụ thể
Mức độ kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên trong
thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng
Tương quan giữa mức độ kỹ năng giải quyết vấn đề với
sự tìm hiểu, nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề của
sinh viên
So sánh mức độ giải quyết vấn đề của sinh viên trên
phương diện giới tính
So sánh tỷ lệ phần trăm mức độ kỹ năng giải quyết vấn
đề của sinh viên trên phương diện khoa đào tạo
So sánh điểm trung bình về mức độ kỹ năng giải quyết
vấn đề của sinh viên trên phương diện khoa đào tạo
Tự đánh giá của sinh viên về khả năng thực hiện những
thao tác liên quan đến kỹ năng giải quyết vấn đề
Những khó khăn của sinh viên khi giải quyết vấn đề
trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi
thẳng
Một số nguyên nhân về mặt tâm lý ở bản thân sinh viên
Một số tâm trạng trong quá trình giải quyết vấn đề ở
sinh viên trong thực tập sư phạm đợt một theo hình
thức gửi thẳng
Một số nguyên nhân khách quan từ phía trường Đại học
Sư phạm Tp. HCM
tự
1
2
Ký hiệu
Tên hình
Sơ đồ 1.2
Quan niệm khung về khái niệm “Độ khó của vấn đề”
Biểu đồ 2.1
Mức độ gặp phải những vấn đề cần giải quyết trong thực
Trang
43
tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng của sinh
viên năm thứ ba
3
89
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ phần trăm sinh viên hiểu đúng khái niệm kỹ năng
giải quyết vấn đề, các bước và yêu cầu của quá trình giải
quyết vấn đề
4
Điểm trung bình mức độ kỹ năng giải quyết vấn đề phân
bố theo chức vụ, vị trí trong đoàn thực tập
8
Biểu đồ 2.7
121
124
So sánh mức độ kỹ năng giải quyết vấn đề của nam và nữ
sinh viên trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức
gửi thẳng
9
Biểu đồ 2.8
126
So sánh điểm trung bình mức độ kỹ năng giải quyết vấn
đề của sinh viên trong thực tập sư phạm đợt một theo hình
thức gửi thẳng giữa các khoa
12
129
MỞ ĐẦU
theo hình thức gửi thẳng, sinh viên gặp rất nhiều vấn đề. Nếu sinh viên có kỹ năng giải
quyết vấn đề sẽ giúp sinh viên xử trí tốt những tình huống có vấn đề xảy ra trong quá
trình thực tập tại môi trường mới và mang lại kết quả cao trong quá trình thực tập cũng
như tạo dựng được sự tự tin trong nghề nghiệp cho mỗi sinh viên.
Việc giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tập sư phạm đợt một thực sự
rất quan trọng và tác động không nhỏ đến tâm lý và động cơ rèn luyện nghề nghiệp và
hoàn thiện nhân cách nghề nghiệp của sinh viên Sư phạm. Nếu sinh viên được chuẩn
bị những kinh nghiệm và những thao tác có liên quan để vận dụng kỹ năng giải quyết
vấn đề gặp phải trong đợt thực tập sư phạm thì sẽ đem lại những hiệu ứng đáng kể.
Khi sinh viên còn quá bỡ ngỡ với thực tế sư phạm, khi đây là đợt thực tập đầu tiên, khi
sinh viên chưa được “trui rèn” những yếu tố thuộc về bản lĩnh thì việc lúng túng khi
giải quyết vấn đề, thái độ tiêu cực khi giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề một cách
cảm tính - chủ quan hay thậm chí để lại những hậu quả nghiêm trọng hoặc có thái độ
“bỏ chạy” vì sợ hãi... đều trở thành những dấu ấn tiêu cực trong đời sống tâm lý cá
nhân cũng như trong quá trình làm nghề ở tương lai.
Có thể khẳng định kỹ năng giải quyết vấn đề nói chung và kỹ năng giải quyết
vấn đề trong quá trình thực tập nói riêng mà đặc biệt là thực tập sư phạm đợt một theo
hình thức gửi thẳng thực sự rất quan trọng. Có khá nhiều vấn đề mà sinh viên sẽ gặp
phải trong đợt thực tập sư phạm theo hình thức gửi thẳng này. Kỹ năng giải quyết vấn
đề của sinh viên như thế nào, ở mức độ nào đối với những vấn đề gặp phải trong đợt
thực tập sư phạm theo hình thức gửi thẳng là câu hỏi khá lý thú cần được tìm hiểu.
Tuy nhiên, bên cạnh những nghiên cứu khác nhau về kỹ năng sống - kỹ năng mềm thì
những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề chưa thực sự đa dạng. Đặc biệt, chưa
có một công trình nghiên cứu nào được tiến hành một cách bài bản và toàn diện về kỹ
năng giải quyết vấn đề của sinh viên Sư phạm nói chung và kỹ năng giải quyết vấn đề
trong đợt thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng của sinh viên Trường Đại
học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Từ những cơ sở trên, đề tài nghiên cứu “Thực trạng kỹ năng giải quyết vấn
6. Giới hạn đề tài
- Chỉ tập trung đánh giá kỹ năng giải quyết vấn đề trong đợt thực tập sư phạm
đợt một theo hình thức gửi thẳng trong năm học 2011 - 2012 (theo biên chế năm học hình thức đào tạo niên chế).
15
- Chỉ thực hiện ở sinh viên năm thứ ba của tám khoa đã tham gia thực tập đợt
một của Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM.
- Chỉ nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trên bình diện nhận thức về kỹ năng
giải quyết vấn đề (khái niệm - mô hình kỹ năng - các bước thực hiện - các thao tác có
liên quan...), thực hiện các bước giải quyết vấn đề thông qua một số tình huống cơ bản.
- Chỉ nghiên cứu các vấn đề cơ bản mà sinh viên gặp phải trong thực tập sư
phạm trên bình diện khái quát mà không phân tích sâu một vấn đề cụ thể, đơn lẻ.
7. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
7.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
Đề tài tiến hành dựa trên cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng tiếp cận hệ
thống - cấu trúc, hướng tiếp cận nhân cách và thực tiễn.
7.1.1. Hướng tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Việc đánh giá kỹ năng giải quyết vấn đề phải được đặt trong mối quan hệ với sự
phát triển toàn bộ các đặc điểm nhân cách của sinh viên và đặc biệt là hoạt động thực
tập sư phạm mà cụ thể là thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng.
7.1.2. Hướng tiếp cận hoạt động - nhân cách
Thông qua cách trả lời các câu hỏi, giải bài tập tình huống, người nghiên cứu có
thể phân tích và đánh giá kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tập sư phạm đợt một
theo hình thức gửi thẳng.
7.1.3. Hướng tiếp cận thực tiễn
Thực tiễn là nguyên nhân cũng như là điều kiện để kỹ năng giải quyết vấn đề hình
thành và phát triển. Việc nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tập sư phạm đợt
một theo hình thức gửi thẳng trong đề tài sẽ sử dụng các tình huống thực tiễn liên quan
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để điều tra sâu một số trường hợp tiêu biểu và
thu thập thông tin một cách trực tiếp. Ngoài ra, còn được dùng để đánh giá độ trung
thực trong việc trả lời bản điều tra viết. Bên cạnh đó, khách thể nghiên cứu sẽ được
đưa và các bài tập và tình huống có thật để ứng xử trong quá trình phỏng vấn, qua đó
nhóm nghiên cứu sẽ đánh giá quá trình cũng như kết quả hành động, từ đó đưa ra kết
luận về kỹ năng giải quyết vấn đề bộc lộ trong tình huống đó.
Bên cạnh đó, phương pháp này còn được sử dụng để lấy thông tin từ nhóm khách
thể là cán bộ quản lý và giảng viên Sư phạm có kinh nghiệm quản lý về công tác thực
tập sư phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng. Chú trọng phỏng vấn và ghi chép chi
17
tiết cách thức giải quyết một số vấn đề cụ thể sinh viên gặp phải trong thực tập sư
phạm đợt một theo hình thức gửi thẳng.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm (tình huống)
Đề tài tiến hành thực nghiệm phát hiện dựa trên các tình huống thực tiễn có chọn
lọc để làm bộc lộ kỹ năng giải quyết vấn đề của khách thể. Chọn một số khách thể, giao
các tình huống thực tiễn được mô hình hoá tương đối so với thực tiễn để khảo sát biểu
hiện kỹ năng giải quyết vấn đề của khách thể.
7.2.5. Phương pháp thống kê toán học
Phần mềm SPSS phiên bản 15.0 sẽ được sử dụng để xử lý các dữ kiện thu được,
phục vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa yêu cầu định lượng và tính
khách quan trong quá trình nghiên cứu.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài chỉ ra bức tranh thực trạng về kỹ năng giải quyết vấn đề trong đợt thực
tập sư phạm theo hình thức gửi thẳng của sinh viên năm thứ ba Trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh, phân tích được các điểm mạnh điểm yếu cùng những
nguyên nhân của chúng.
- Trên cơ sở đó, đề xuất một vài biện pháp nhằm phát triển kỹ năng giải quyết
Tác giả V. Okon (1976) cũng cho rằng đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn
đề là trạng thái lúng túng về lý thuyết và thực hành trong quá trình nhận thức, sự mâu
thuẫn của kinh nghiệm đã có của chủ thể với những tri thức mới. Nhờ đó người học
phải huy động năng lực của mình để giải quyết mâu thuẫn [57].
19
Đặc biệt, I.Ia. Lecne (1977) phân tích sâu hơn về tình huống có vấn đề và ông
đã trình bày thêm về “trạng thái tâm lý” hay “trạng thái lúng túng” mà A.M.
Machiuskin và V. Okon đã nói đến chính là “thái độ của chủ thể đối với trở ngại nảy
ra trong lĩnh vực hoạt động thực hành hay trí óc. Nhưng đó là thái độ mà trong đó chủ
thể chưa biết cách khắc phục trở ngại và phải tìm tòi khắc phục. Nếu không ý thức
được khó khăn thì không nảy ra nhu cầu tìm tòi, và không có nhu cầu tìm tòi thì không
có tư duy sáng tạo…” [57. tr.19- 25]. Có thể nói, theo quan niệm của Lecne cũng như
các tác giả trên thì thì chỉ khi nào chủ thể có nhận thức được vấn đề thì tình huống có
vấn đề mới là tác nhân để khởi nguồn cho sự tìm tòi, tư duy và sáng tạo để đáp ứng
nhu cầu nhận thức của mình.
Bên cạnh đó, V.A. Cruchetxki (1981) cũng nghiên cứu về tình huống có vấn đề
và kết luận tình huống có vấn đề xuất hiện khi có “mâu thuẫn giữa kinh nghiệm đã có
của học sinh (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo) và những vấn đề nảy sinh trước các em khi
giải quyết những nhiệm vụ nhận thức trong học tập. Mâu thuẫn này tạo nên hoạt động
tư duy tích cực” [57, tr.102].
Qua các nghiên cứu trên, có thể nhận thấy theo quan điểm của các nhà Tâm lý
học Xô Viết thì đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề là sự mâu thuẫn giữa kinh
nghiệm đã có của chủ thể và tri thức mới. Từ đó, chủ thể nảy sinh nhu cầu giải quyết
tình huống có vấn đề, kích thích tư duy và đi đến giải quyết vấn đề.
Từ những nghiên cứu lý luận đã nêu trên, các tác giả đã ứng dụng rất thành
công kỹ năng giải quyết vấn đề vào dạy học với một phương pháp dạy học gọi là dạy
học giải quyết vấn đề hay còn gọi là dạy học nêu vấn đề.
Như vậy, các nhà nghiên cứu ở Mỹ trong phần trình bày trên đã góp phần đưa
ra lời giải cho câu hỏi kỹ năng giải quyết vấn đề gồm các bước nào, các nguyên tắc cơ
bản trong quá trình giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, đã có rất nhiều tác giả khác chú
trọng nghiên cứu về những yếu tố tâm lý tác động đến quá trình giải quyết vấn đề.
Nhưng không dừng lại, nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng
đến kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt là các yếu tố tâm lý.
Cụ thể, Dorit Wenke đã nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng trí tuệ đến việc
giải quyết những vấn đề phức tạp của mỗi người [107, tr.127- 142]. Theo ông, khả
năng trí tuệ của mỗi người là khả năng, quá trình và cơ chế nhận thức làm cho người
này khác với người kia ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vấn đề của mỗi người.
David Z. Hambrick (Đại học Michigan) cũng kết luận khả năng giải quyết vấn
đề của mỗi người có phụ thuộc vào khả năng trí tuệ, khả năng sáng tạo và chịu ảnh
hưởng của trí nhớ làm việc (Working memory) [106, tr.87- 104]. Ngoài ra, hai tác giả
21
Todd I. Lubart và Christophe Mouchiroud (2005) có đề cập đến sự sáng tạo và cho
rằng đây là một trong những khả năng ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực đến việc
giải quyết vấn đề. Thế nhưng, trong một vài trường hợp, sự sáng tạo lại có thể trở
thành một sự cản trở đối với quá trình giải quyết vấn đề [ 112].
Cùng có những lập luận như Lubart và Mouchiroud là Shozo Hibino và Gerald
Nadler (2009) khi hai tác giả này khẳng định nếu biết vận dụng tư duy sáng tạo vào
giải quyết vấn đề thì các vấn đề không chỉ được giải quyết mà còn được giải quyết một
cách tốt nhất [112].
Đặc biệt Shannon White (2005) khi nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến
kỹ năng giải quyết vấn đề đã cho thấy khả năng biểu đạt vấn đề là một trong những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề [123, tr.207- 226].
Như vậy, thông qua những nghiên cứu lý luận của mình, các tác giả đã góp
phần làm rõ thêm những lý luận về kỹ năng giải quyết vấn đề, các bước, các thao tác
của kỹ năng giải quyết vấn đề và những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn
quyết vấn đề của sinh viên. Từ đó, mô hình Polya (Polya Model) về những kỹ năng bộ
phận cũng như các cấp độ của kỹ năng giải quyết vấn đề được giới thiệu đến nhiều
người [119].
Hilarie Bryce Davis, Ed.D, (1969), đã nghiên cứu đề tài “Kỹ năng giải quyết
những vấn đề trong học tập của sinh viên khối ngành công nghệ tại Mỹ”. Sau công
trình nghiên cứu này cùng những những nghiên cứu về lĩnh vực công nghệ của mình,
Hilarie đã viết tác phẩm “Công nghệ cho việc học tập Consortium” (Technology for
Learning Consortium). Nghiên cứu của Hilarie cho thấy, không hoàn thành những đồ
án thực tiễn trong mỗi môn học chuyên ngành chính là vấn đề của đa số sinh viên
ngành công nghệ gặp phải. Nguyên nhân vấn đề này của sinh viên chính là: Thứ nhất,
sinh viên không biết tự đặt ra những câu hỏi phù hợp để từ đó có thể giúp họ biết được
vấn đề mình đang gặp phải là gì và bắt đầu tiến trình giải quyết nó; Thứ hai, sinh viên
gặp khó khăn trong kết nối ý tưởng với những thành viên khác để cùng giải quyết vấn
đề.
Tác giả Wolfok (1995) nghiên cứu chuyên sâu về những phương pháp dạy học
tích cực trong đó có dạy học nêu vấn đề. Trong nghiên cứu của mình, Woolfolk đã kết
luận, trong kỹ năng giải quyết vấn đề có hai kỹ năng cơ bản và đó cũng là hai kỹ năng
sinh viên gặp nhiều khó khăn nhất: xác định mục tiêu và thực hiện phương án [124].
Năm 2008, nhóm tác giả Gierl, Mark J.; Wang, Changjiang; Zhou, Jiawen
nghiên cứu đề tài “Sử dụng phương pháp phân nhóm thuộc tính để đánh giá kỹ năng
giải quyết vấn đề trong bài toán Đại số học của các thí sinh trong cuộc thi SAT”. Họ
23